<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224</id><updated>2012-01-11T02:36:36.332+07:00</updated><category term='Thế giới'/><category term='Tin tức'/><category term='Chiến tranh Việt Nam'/><category term='Chiến tranh biên giới'/><category term='Quân sự'/><category term='Việt Nam'/><title type='text'>My Việt Nam</title><subtitle type='html'></subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>55</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-1368943258691732770</id><published>2012-01-11T02:14:00.007+07:00</published><updated>2012-01-11T02:36:36.458+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Việt Nam'/><title type='text'>The Lover (1992)</title><content type='html'>&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/-ZgV-5b2fmRE/TwyPO3UaPMI/AAAAAAAAMeM/EvGyX6i4dwY/s1600/MV5BMTU0MTYzMDQxOV5BMl5BanBnXkFtZTcwODUzNzA2NA%2540%2540._V1._SX640_SY960_.jpg"&gt;&lt;img alt="" border="0" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5696085114247331010" src="http://4.bp.blogspot.com/-ZgV-5b2fmRE/TwyPO3UaPMI/AAAAAAAAMeM/EvGyX6i4dwY/s400/MV5BMTU0MTYzMDQxOV5BMl5BanBnXkFtZTcwODUzNzA2NA%2540%2540._V1._SX640_SY960_.jpg" style="cursor: hand; cursor: pointer; display: block; height: 400px; margin: 0px auto 10px; text-align: center; width: 267px;" /&gt;&lt;/a&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div class="imdb-title"&gt;
&lt;a class="postlink" href="http://www.imdb.com/title/tt0101316/" target="_blank"&gt;L'amant (1992) - IMDb&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
&lt;div id="imdb-credits"&gt;
&lt;a class="postlink" href="http://www.imdb.com/"&gt;IMDB - The Internet Movie Database&lt;/a&gt;&lt;/div&gt;
&lt;ul&gt;
&lt;li&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Tagline:&lt;/span&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;  She gave her innocence, her passion, her body. The one thing she couldn't give was her love.&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Genre:&lt;/span&gt; &lt;span style="font-style: italic;"&gt;Biography / Drama / Romance&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Rating:&lt;/span&gt; &lt;div id="imdb_stars"&gt;
&lt;span style="width: 67%;" title="67%"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;
&lt;span style="font-style: italic;"&gt;6.7/10&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Runtime:&lt;/span&gt; &lt;span style="font-style: italic;"&gt;115 mins&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Release date:&lt;/span&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt; 30 October 1992&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Director:&lt;/span&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt; Jean-Jacques Annaud&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;
&lt;li&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Cast:&lt;/span&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;  Jane March, Tony Leung Ka Fai, Frédérique Meininger, Arnaud  Giovaninetti, Melvil Poupaud, Lisa Faulkner, Xiem Mang, Philippe Le Dem,  Ann Schaufuss, Quach Van An…&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;
&lt;/ul&gt;
&lt;div&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Plot:&lt;/span&gt;  It is French Colonial Vietnam in 1929. A young French girl from a  family that is having some monetary difficulties is returning to  boarding school. She is alone on public transportation when she…&lt;/div&gt;

&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;
&lt;div align="center"&gt;
&lt;span style="font-size: 180%;"&gt;&lt;b&gt;L’amant - The lover (Người tình)&lt;/b&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;

&lt;div&gt;Một trong những bộ phim Pháp ăn khách nhất tại thị trường thế giới, và    cũng là bộ phim phương Tây đầu tiên đến quay tại Việt Nam. Đây chỉ là    một câu chuyện tình, dựa trên bối cảnh gợi nhớ Đông Dương thời thuộc  địa   những năm đầu thế kỷ 20, nhưng được thực hiện hoành tráng mang tầm  vóc   sử thi.&lt;/div&gt;
&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;


&lt;div align="center"&gt;
&lt;a href="http://media.thethaovanhoa.vn/2010/10/26/16/07/nguoitinha.jpg" target="_blank"&gt;&lt;img alt="" border="0" class="lazy" src="http://media.thethaovanhoa.vn/2010/10/26/16/07/nguoitinha.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;
&lt;/div&gt;

&lt;p&gt;&lt;b&gt;Từ tác phẩm best - seller đến kịch bản điện ảnh&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;

&lt;div&gt;Bộ phim Người tình dựa theo cuốn tiểu thuyết tự truyện cùng tên của nữ    văn sĩ Marguerite Duras, đoạt giải văn chương Goncourt năm 1984, được    dịch ra 43 thứ tiếng và là tác phẩm bán chạy nhất tại Pháp của Duras    (2,4 triệu bản). Tiểu thuyết kể về tình yêu cuồng nhiệt và sự đam mê thể    xác của chính mình, khi mới 15 tuổi rưỡi, với một thanh niên người  Hoa   giàu có, lớn hơn bà 12 tuổi. Câu chuyện xảy ra vào cuối những năm  1920   tại Sài Gòn, Đông Dương.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;

&lt;div&gt;Đạo diễn kiêm nhà sản xuất danh tiếng Claude Berri đã nhanh chóng mua    bản quyền cuốn sách để dựng thành phim nhưng không làm đạo diễn mà giao    lại cho Jean-Jacques Annaud – một đạo diễn đang được thế giới điện ảnh    chú ý với những bộ phim hết sức ấn tượng như: Cuộc chiến giành lửa,  Con   Gấu, Tên của hoa hồng. Annaud đọc cuốn tiểu thuyết và phản ứng đầu   tiên  của ông là từ chối. Như ông tâm sự: “Tôi rất thích ngôn ngữ của   Duras,  đó là một ngôn ngữ rất phù hợp với điện ảnh. Những lời văn có   thể chuyển  thành lời thoại một cách rất nhẹ nhàng. Nhưng bà ta là một   tên tuổi quá  nổi tiếng, tôi không muốn làm việc với một tác giả mà thừa   biết rằng,  rất khó có thể cùng cộng tác làm việc”. May sao, “cuối   cùng, tôi nhận  lời, bởi vì L’amant là câu chuyện rất đặc biệt. Một câu   chuyện nhỏ về  một tình yêu lớn, nó giúp tôi được hòa mình vào bản   sonate lãng mạn trên  nền bản giao hưởng – Đông Dương thời thuộc địa”.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;

&lt;div&gt;Để hoàn thiện kịch bản, Annaud nhờ cậy nhà biên kịch Gérard Brach –    người mà theo lời Annaud – một nhà biên kịch hiếm hoi trên thế giới, có    thể viết lời cho hình ảnh một cách tuyệt vời, có khả năng hình dung   được  những gì sẽ được thấy trên phim và kịch bản do ông viết gần như   một bộ  phim hoàn chỉnh. Brach cố gắng giữ lại cấu trúc và giọng điệu   văn chương  nguyên thủy của nguyên tác tiểu thuyết. Không ai trong số   các nhân vật  chính có tên, họ chỉ được gọi là “Cô gái” và “Người đàn   ông” trong danh  sách giới thiệu nhân vật.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;

&lt;b&gt;Những bất ngờ đầu tiên từ Việt Nam&lt;/b&gt;

&lt;div&gt;
Để đưa toàn bộ câu chuyện trở lại với quá khứ xa xưa khoảng gần 70 năm,    nhà sản xuất Claude Berri đã huy động được một khoản kinh phí khó tin    đối với một bộ phim Pháp lúc ấy: 30 triệu USD! (đến nay đó vẫn là một    trong những khoản kinh phí đầu tư lớn nhất trong lịch sử điện ảnh  Pháp).   Berri quyết định phim sẽ nói tiếng Anh để dễ phát hành trên thế  giới.&lt;/div&gt;&lt;br /&gt;

&lt;p&gt;Năm 1989, đạo diễn Annaud cùng đoàn tiền trạm sang Việt Nam chọn cảnh.    Khá thất vọng với cơ sở hạ tầng đặc biệt là khách sạn quá thiếu tiện    nghi, ông thử chuyển sang Malaysia, Thái Lan và Philippines – những nước    từng được sử dụng làm bối cảnh Việt Nam trong những bộ phim chiến   tranh  của phương Tây – tiện nghi thì có đấy, nhưng cái quan trọng nhất   là  chất Đông Dương thuộc địa huyền bí và kiến trúc thời Pháp thuộc lại   gần  như không có. Một năm sau, ông trở lại sự lựa chọn ban đầu, vì  cảm  thấy  không nước nào khác có thể thay thế Sài Gòn và các tỉnh miền  Tây.  Và ông  thực sự rất thú vị khi được trở thành người châu Âu đầu  tiên sau  nhiều  năm chiến tranh, đến tìm hiểu và khám phá lại Đông  Dương huyền  bí. Ông  rất ngạc nhiên khi những dấu tích của chiến tranh  vẫn còn hiện  diện ở  khắp nơi, nhưng đặc biệt là những công trình do  Pháp xây dựng  vẫn còn  tồn tại, nhiều công trình vẫn còn nguyên vẹn,  hiện được các cơ  quan nhà  nước được sử dụng và bảo quản kỹ càng. Theo  Annaud, Sài Gòn là  một thành  phố lạ thường, ở đây giống như một bảo  tàng sống về kiến  trúc thuộc địa  cuối thế kỷ 19.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;Đạo diễn Annaud và nhóm tiền trạm đã rất xúc động khi được tận mắt lại    ngôi trường cấp III Lycée Chasseloup-Laubat (trường Lê Quý Đôn hiện  nay)   của nhân vật “Cô gái” trong tiểu thuyết (thời đó cô tên là  Donadieu,   sau này đổi thành Duras) và những nơi mà bà cùng “Người  tình” đã từng   sống. Ông còn cố công tìm hiểu và may mắn được trò  chuyện với một người   Việt năm xưa đã từng biết cô Donadieu: cụ Vương  Hồng Sển – học giả uyên   thâm về Nam bộ – nghe ông kể lại những kỷ niệm  về Donadieu và người  tình  Hoa kiều tên Huỳnh Thủy Lê.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;b&gt;Tìm “Cô gái” và “Người tình ” trên khắp thế giới!&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;div align="center"&gt;
&lt;a href="http://media.thethaovanhoa.vn/2010/10/26/16/08/nguoitinhb.jpg" target="_blank"&gt;&lt;img alt="" border="0" class="lazy" src="http://media.thethaovanhoa.vn/2010/10/26/16/08/nguoitinhb.jpg" /&gt;&lt;/a&gt;
&lt;/div&gt;
&lt;p&gt;Lời mở đầu của tiểu thuyết và kịch bản: “Tôi mới 15 tuổi rưỡi”.  Có  nghĩa  là bộ phim cần phải tìm một diễn viên lớn tuổi hơn, nhưng  gương  mặt  phải trẻ như 15 tuổi rưỡi! Thứ nhất, nếu đúng tuổi đó khó mà  tìm  được  người có khả năng diễn xuất. Thứ hai, phim có chủ đề nhạy cảm   không phù  hợp với lứa tuổi vị thành niên. Một thử thách không nhỏ với   ban phụ  trách tuyển diễn viên. Họ đã lùng sục trong rất nhiều tạp chí   của thiếu  nhi và thiếu niên trên khắp thế giới. Thậm chí còn đặt mua cả   tạp chí  của Nhật Bản, Đức, Italia... Như vậy, chỉ riêng vài chữ “Tôi   mới 15 tuổi  rưỡi” đã tốn kém của đoàn phim khá nhiều tiền!&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;Hàng loạt thông báo tuyển diễn viên được rao trên nhiều nước. Đơn và ảnh    xin tham gia nhiều đến mức người ta phải đóng vào bao tải để gửi về   cho  ban tuyển chọn. Đạo diễn Annaud cho biết: “Tôi đã duyệt khoảng 100    người, nhưng mỗi người phụ trách tuyển diễn viên của tôi thì phải  duyệt   đến hàng nghìn! Có 7 người đảm nhận việc đó, nghĩa là có khoảng  7000  cô  gái đã được quay thử. Tôi xem trên băng hình khoảng 300 người  đã  được  chọn lọc, sau đó phải gặp trực tiếp từng người”.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;Công việc càng lúc càng bế tắc trong nhiều tháng ròng, cuối cùng Annaud    cảm thấy kiệt sức và quyết định sẽ lựa chọn cô gái nào bước vào ngày   hôm  đó. Đó là cô gái người Anh mảnh dẻ sống ở ngoại ô Paris, vẻ bề   ngoài  không có gì đặc biệt, không khá hơn những người khác mà có thể   còn trống  rỗng hơn! Nhưng bù lại cô ấy có những rung động khác người.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;Tên cô là Jane March, do chính vợ Annaud phát hiện trên một tạp chí tuổi    teen. Cô nhút nhát rụt rè không biết phải làm gì, và đó chính là điều    lý thú bởi Donadieu khi 15 tuổi rưỡi cũng không biết phải làm gì.  Trong   lần gặp đầu tiên, Annaud nhìn Jane và tự hỏi cô ấy giống Duras ở  điểm   nào.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;Khi xem ảnh của bà Duras lúc 17 tuổi trên bìa của 1 cuốn Người tình xuất    bản tại Mỹ, ông yêu cầu Jane chải tóc ngược về sau, và cả ban tuyển    chọn đã thực sự sửng sốt. Jane và Duras giống nhau một cách kỳ lạ! Sau    nhiều lần chụp ảnh, hóa trang và diễn thử, Jane March đã chính thức  được   chọn.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;Việc chọn vai diễn “Người tình” Hoa kiều phức tạp hơn Annaud và ban    tuyển chọn nghĩ. Họ phải rao tìm ở Mỹ và Hongkong. Đa số phong cách của    các diễn viên châu Á ở đó đã bị phương Tây hóa, số còn lại thì phù hợp    nhưng lại không nói được tiếng Anh. Nhưng Annaud vẫn kiên trì tìm  kiếm,   vì ông cho rằng bộ phim The Last Emperor của Bertolucci cũng vấp  phải   vấn đề tương tự nhưng cuối cùng rồi họ cũng tìm được người mình  cần.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;Trong số những ứng cử viên mà Annaud chấm, có một người không muốn nhận    vai vì anh ta cảm thấy mình nói tiếng Anh không đủ khá. Nhưng khi biết    là đoàn phim vẫn chưa chọn ai, anh ta mới đánh bạo đến gõ cửa phòng  đạo   diễn. Annaud ra mở cửa và lập tức trước mắt ông là chàng thanh  niên  quí  tộc Hoa kiều mà cả đoàn cất công tìm kiếm. Đó là nam diễn  viên  Hongkong  Lương Gia Huy.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;Ngay lập tức đạo diễn Annaud đã đưa anh về Paris để thử vai cùng với    Jane March. Điều mà ông cần nhất là sự kết hợp của hai diễn viên. Khi họ    diễn chung trên giường, ông muốn thấy cơ thể họ phản ứng với nhau như    thế nào. Annaud rất xúc động khi ngay lần đầu tiên, cả hai đã diễn  rất   ăn ý với nhau.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;b&gt;Những sự chuẩn bị cần thiết cuối cùng&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;Bốn tháng trước khi quay, Annaud họp đoàn làm phim lại để giải thích cặn    kẽ những ý tưởng của ông và những khó khăn mà các kỹ thuật viên sẽ  gặp   phải khi chuẩn bị đến Việt Nam: “Chúng ta cần chuẩn bị kỹ càng cho   những  khó khăn sẽ gặp phải ở Việt Nam: Đó là rắc rối về khí hậu mà  các  bạn  không thể tưởng tượng được. Người châu Âu chúng ta khó có thể  hình  dung  được phải làm việc dưới cái nóng 35 độ C, trong điều kiện  không có  gió  và độ ẩm xấp xỉ 100%! Ngay cả buổi tối, trời mát hơn  nhưng vẫn  không có  gió. Tôi hi vọng là chúng ta sẽ chịu đựng được và  mọi người  không lăn ra  ốm cùng một lúc. Việc bị ốm là không thể tránh  khỏi, nhưng  tôi mong  rằng điều đó sẽ không làm tôi bực bội, bởi vì cáu  giận là một  việc rất  không hay khi đứng trước người Việt Nam. Đừng  quên rằng họ là  những  người vừa trải qua một nửa thế kỷ đấu tranh để  bảo vệ nhân phẩm  của  mình”.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;Phim khởi quay vào ngày 14/01/1991, khi ấy Jane March mới bước vào tuổi 18 được hai tháng.&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-1368943258691732770?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/1368943258691732770/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=1368943258691732770' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/1368943258691732770'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/1368943258691732770'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2012/01/lover-1992.html' title='The Lover (1992)'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/-ZgV-5b2fmRE/TwyPO3UaPMI/AAAAAAAAMeM/EvGyX6i4dwY/s72-c/MV5BMTU0MTYzMDQxOV5BMl5BanBnXkFtZTcwODUzNzA2NA%2540%2540._V1._SX640_SY960_.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-1940945402990794706</id><published>2009-05-21T23:06:00.003+07:00</published><updated>2009-05-21T23:22:29.792+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Thế giới'/><title type='text'>Vì sao Trung-Nga thắt chặt hợp tác quân sự?</title><content type='html'>&lt;p&gt;(Toquoc) - Tổng thống Dmitry Medvedev mới đây tuyên bố Nga-Trung sẽ tăng cường hợp tác quân sự thông qua Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), và tiến hành các cuộc tập trận chung. Giới quan sát cho rằng các kế hoạch cải thiện quan hệ này nhằm hạn chế sự hiện diện của Mỹ ở Trung Á, song, đằng sau đó, còn nhiều yếu tố khác.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Thực vậy, các cam kết hợp tác mới đây giữa Nga và Trung Quốc không chỉ dựa trên mối lo ngại về sự mở rộng tầm ảnh hưởng của phương Tây như hồi năm 2001, đầu nhiệm kỳ của cựu Tổng thống Mỹ George W Bush và Tổng thống Nga Vladimir Putin. Năm 2009 đã khác rất nhiều so với năm 2001, khi Mỹ, tự tin vào vị thế siêu cường duy nhất và nhân cơ hội các vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001, đã đẩy mạnh cuộc chạy đua mở rộng tầm ảnh hưởng trên thế giới. Giờ đây, chính Mỹ đang bước vào “buổi xế chiều”, và tụt dốc nhanh chưa từng thấy.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;

&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://www.toquoc.gov.vn/Portals/16/Attachments/6447___news__china_russia.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 359px; height: 262px;" src="http://www.toquoc.gov.vn/Portals/16/Attachments/6447___news__china_russia.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Sự trượt dốc của các công ty Mỹ là quá rõ. Chrysler, một trong những hãng xe hơi lớn nhất của Mỹ, đã phải tuyên bố phá sản, trong khi nhiều nhà sản xuất xe hơi lớn khác cũng đang rục rịch theo vết xe đổ này. Ngay cả những chuyên gia kinh tế lạc quan nhất cũng phải thừa nhận rằng sự phục hồi của kinh tế Mỹ sau cuộc khủng hoảng tài chính sẽ rất chậm chạp và thất nghiệp sẽ còn cao.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tổng thống Mỹ Barack Obama đã công bố một số kế hoạch nhằm vực dậy nền kinh tế Mỹ trong dài hạn, như phát triển các dạng năng lượng thay thế và phát triển ngành đường sắt. Song, có lẽ ông vẫn cần đến một số yếu tố của một nền kinh tế có điều tiết. Đây là điều chưa từng thấy. Nước Mỹ sẽ phải tiếp tục in thêm hàng tỷ USD và nợ của nhà nước sẽ còn tăng cao.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Kinh tế suy thoái đương nhiên dẫn tới sự suy giảm về quân sự, sẽ làm ảnh hưởng tới các hoạt động quân sự của Mỹ tại Iraq và Afghanistan. Mỹ phải sử dụng ngày càng nhiều lính đánh thuê, trong khi ngân sách dành cho việc này ngày càng giảm. Việc liên tục phải bố trí lại quân đội cũng làm ảnh hưởng tới nhuệ khí của binh lính.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Chính trong bối cảnh tụt dốc suy thoái, Mỹ đã giảm đáng kể căng thẳng với Nga. Quan hệ Mỹ - Trung cũng tốt hơn nhiều so với năm 2001, thời gian từng xảy ra sự cố nghiêm trọng khi một máy bay do thám của Mỹ đâm phải một máy bay chiến đấu Trung Quốc trên bầu trời nước này.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Có thể nói lý do khiến Nga và Trung Quốc quan tâm tới Trung Á không phải là Mỹ có thể mà hiện đang suy yếu. Cả hai quốc gia này lo ngại rằng đợt tăng quân sắp tới của Mỹ đến Afghanistan có thể là cố gắng cuối cùng của Washington nhằm làm “gió đổi chiều” trước khi rút quân - điều có thể tạo cơ hội cho các phần tử nổi dậy mở rộng hoạt động không chỉ sang Pakistan láng giềng mà ra toàn Trung Á. Sự mở rộng của các tổ chức Hồi giáo nổi dậy có thể không chỉ làm ngưng các nguồn cung cấp khí đốt và dầu mỏ từ khu vực, vốn rất quan trọng đối với cả Nga và Trung Quốc, mà còn gây ra một loạt vấn đề cho các khu vực có đông người Hồi giáo sinh sống ở hai nước này.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;

&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://www.toquoc.gov.vn/Portals/16/Attachments/6447___news__soldti.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;width: 450px; height: 304px;" src="http://www.toquoc.gov.vn/Portals/16/Attachments/6447___news__soldti.jpg" border="0" alt="" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Lính Mỹ sau một cuộc càn quét Taliban ở Afghanistan
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ngày càng quan tâm đến tình hình an ninh đang xuống cấp ở Afghanistan, Nga đã có ý định thành lập một lực lượng đa quốc gia với các nước Trung Á cũng như các nước công hòa cũ trong Liên bang Xô Viết như Belarus. Nhưng dễ thấy là một thỏa thuận như vậy sẽ không có cơ hội trở thành hiện thực. Lãnh đạo Belarus Alexander Lukashenko cho biết sẽ không gửi quân ra nước ngoài, trong khi Tổng thống Uzbekistan Islam Karimov đã ngừng hợp tác quân sự với Nga. Tổng thống Tajikistan Emomali Rahmon dường như cũng sẽ làm những điều tương tự. Dù sự bất ổn trong nước một phần là vì giáp ranh với Afghanistan, nhưng Dushanbe vẫn nhấn mạnh rằng sự hiện diện ngày càng nhiều của Nga là một biểu hiện “không thân thiện”. Hơn nữa, Dushanbe từng tố cáo Nga xúi giục gây ra cuộc nội chiến ở Tajikistan trong những năm 1990.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Khi các kế hoạch liên minh ở Trung Á khó thành, Nga hướng đến Trung Quốc như lựa chọn duy nhất. Đáp lại, Bắc Kinh dường như rất hoan nghênh. Tuy nhiên, Moscow vẫn còn nghi ngại Trung Quốc vì nước này mạnh hơn về kinh tế và có đông dân cư hơn ở Viễn Đông. Ngược lại, Trung Quốc cũng không xem Nga như một đồng minh đáng tin cậy. Hai nước này hiện là đối thủ cạnh tranh về khí đốt và dầu mỏ ở Trung Á. Trung Quốc cũng khó chịu về cuộc chiến mà Nga tiến hành ở Gruzia, cũng như việc Moscow thừa nhận hai khu vực tự trị của Gruzia là Abkhazia và Nam Ossetia.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Các quốc gia Trung Á dù nghi ngờ và không ưa Nga nhưng cũng không thích thú gì với một sự hiện diện lớn hơn của Trung Quốc trong khu vực, bởi lo ngại rằng nước này với dân số đông nhất thế giới và nền kinh tế đang nổi lên cộng với sức mạnh quân sự có thể thâu tóm toàn bộ khu vực này trong tương lai. Tuy nhiên, vì hiểu rõ mối nguy hiểm của Taliban về mọi mặt, các quốc gia trong khu vực này muốn xem quan hệ hợp tác Nga – Trung liệu có tiêu diệt được tàn quân Taliban hay không&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-1940945402990794706?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/1940945402990794706/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=1940945402990794706' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/1940945402990794706'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/1940945402990794706'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2009/05/vi-sao-trung-nga-that-chat-hop-tac-quan.html' title='Vì sao Trung-Nga thắt chặt hợp tác quân sự?'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-7542425424492173414</id><published>2009-03-15T02:19:00.003+07:00</published><updated>2009-03-15T02:24:46.516+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chiến tranh biên giới'/><title type='text'>Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)</title><content type='html'>&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://2.bp.blogspot.com/_4cnck3476DE/SbwD07ZIyBI/AAAAAAAAMT4/h83WqTLOYYQ/s1600-h/HuyDuc_BienGioiThangHai.jpg"&gt;&lt;img style="margin: 0px auto 10px; display: block; text-align: center; cursor: pointer; width: 400px; height: 302px;" src="http://2.bp.blogspot.com/_4cnck3476DE/SbwD07ZIyBI/AAAAAAAAMT4/h83WqTLOYYQ/s400/HuyDuc_BienGioiThangHai.jpg" alt="" id="BLOGGER_PHOTO_ID_5313125868221548562" border="0" /&gt;&lt;/a&gt;


&lt;p&gt;&lt;font face="Tahoma"&gt;&lt;i&gt;Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên 
phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên 
đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi. Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ 
chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xã Lạng 
Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai mình, anh Nguyễn Văn 
Đài. Năm ấy, Đài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Để ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương 
lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”. Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, 
Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, 
Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.&lt;br&gt;
&lt;/i&gt;&lt;br&gt;
&lt;b&gt;“Những đôi mắt”&lt;/b&gt;&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Hôm ấy, ông Quế không có nhà, vợ ông, bà Dự, bị dựng dậy khi bên ngoài trời hãy 
còn rất tối. Bà nghe tiếng pháo chát chúa ở hướng Đồng Đăng và phía dốc Chóp 
Chài, Lạng Sơn. Bà Dự đánh thức các con dậy, rồi 4 mẹ con dắt díu nhau chạy về 
xuôi. Tới ki-lô-mét số 10, đã quá trưa, bà rụng rời khi hay tin, anh Đài đã bị 
quân Trung Quốc giết chết. Anh Đài là công nhân đường sắt, thời điểm ấy, các anh 
đương nhiên trở thành tự vệ bảo vệ đoạn đường sắt ở Hữu Nghị Quan. Anh em công 
nhân trong đội của Đài bị giết gần hết ngay từ sáng sớm. Đài thuộc trong số 3 
người kịp chạy về phía sau, nhưng tới địa bàn xã Thanh Hòa thì lại gặp Trung 
Quốc, thêm 2 người bị giết. Người sống sót duy nhất đã báo tin cho bà Dự, mẹ 
Đài.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Cùng thời gian ấy, ở bên núi Trà Lĩnh, Cao Bằng, chị Vương Thị Mai Hoa, một giáo 
viên cấp II, người Tày, mới ra trường, cũng bị giật dậy lúc nửa đêm rồi theo bà 
con chạy vào hang Phịa Khóa. Hàng trăm dân làng trú trong hang khi pháo Trung 
Quốc gầm rú ở bên ngoài, rồi lại gồng gánh theo nhau vào phía Lũng Pùa, chạy 
giặc. Chị Hoa không bao giờ có thể quên “từng đôi mắt” của dòng người gồng gánh 
ấy. Giờ đây, ngồi trong một cửa hàng bán băng đĩa trên phố Kim Đồng, thị xã Cao 
Bằng, chị Hoa nhớ lại: “Năm ấy, tôi 20 tuổi. Tôi nghĩ, tại sao mình lại chạy!”. 
Chị quay lại, sau khi thay quần áo giáo viên bằng bộ đồ chàm vì được những người 
chạy sau cho biết, rất nhiều người dân ăn mặc như cán bộ đã bị quân Trung Quốc 
giết chết. Từ trên đồi, chị Hoa thấy quân Trung Quốc gọi nhau ý ới và tiến vào 
từng đoàn. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
&lt;b&gt;“Cuộc Chiến 16 Ngày”&lt;/b&gt;&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Ngày 15-2-1979, Đại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc 
lực lượng Biên phòng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận 
định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”. Ngay trong ngày 15, ông ra 
lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. 
Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Đêm 16-2, chấp hành ý 
kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi vì ông 
bị mất ngủ vì căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Đêm ấy, Trung Quốc đánh.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng Biên phòng đều được triệu tập 
về thị xã Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu 
khi Trung Quốc đã tấn công rồi. Sáng 17-2, Tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt 
để khỏi thị xã”; đại đội 22 của thị xã Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng 
chống tăng B41. Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường 
lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nhìn thấy chữ “Bát Nhất”, 
người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc. Đại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến 
lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Đại tá Hoàng 
Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất 
ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của 
Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm 
chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại 
chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu 
là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, 
Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 
18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, 
một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát 
Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung quốc tiến 
vào Bát xát, Lao Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Đồng Đăng; 24-2, Trung Quốc 
chiếm thị xã Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xã.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị Biên giới đã nhanh 
chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần 
đầu năm 1993 của NXB Đại học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đã gọi con đường tiến vào 
thị xã Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Đặc biệt, tiểu đoàn Đặc công 
45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ 
Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Sìn, cũng đã khiến cho quân Trung Quốc khiếp 
vía. Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ mãi hình ảnh “biển người” 
quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác. 
Đầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu 
đánh những đòn vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai 
quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn 
II đặt những bước chân đầu tiên lên Đồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Đoàn III tới Na Rì; 
Chủ tịch Nước ra lệnh “Tổng Động viên”… ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút 
quân về nước.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung 
Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột 
điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết 
một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại 
thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi 
rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 
7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị 
ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ 
suối. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
&lt;b&gt;Lặng Lẽ Hoa Đào&lt;/b&gt;&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Ngồi đợi ông Nguyễn Thanh Loan, người trông giữ nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, 
chúng tôi nhìn ra xa. Tháng Hai ở đây mới là mùa hoa đào nở. Nghĩa trang có 1680 
ngôi mộ. Trong đó, 1600 mộ là của các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến tranh từ 
ngày 17-2. Ở Vị Xuyên, tiếng súng chỉ thật sự yên vào đầu năm 1990. Năm 1984, 
khi Trung Quốc nổ súng trở lại hòng đánh chiếm hơn 20 cao điểm ở Thanh Thủy, Vị 
Xuyên, bộ đội đã phải đổ máu ở đây để giành giật lấy từng tấc đất. Rất nhiều 
chiến sỹ đã hy sinh, đặc biệt là hy sinh khi tái chiếm đỉnh cao 1509. Ông Loan 
nhớ lại, cứ nửa đêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về, từng túi tử sỹ xếp chồng lên 
nhau. Trong số 1600 liệt sỹ ấy, chủ yếu chết trong giai đoạn 1984, 1985, có 
người chết 1988, còn có 200 ngôi mộ chưa xác định được là của ai. Sau khi hoàn 
thành việc phân giới cắm mốc, cái pháo đài trên đỉnh 1509 mà Trung Quốc dành 
được và xây dựng trong những năm 80, vẫn còn. Họ nói là để làm du lịch. Từ 1509, 
có thể nhìn thấu xuống thị xã Hà Giang. Năm 1984, từ 1509 pháo Trung Quốc đã bắn 
vào thị xã. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Trên đường lên Mèo Vạc, sương đặc quánh ngoài cửa xe. Từng tốp, từng tốp trai 
gái H’mông thong thả cất bước du xuân. Có những chàng trai đã tìm được cho mình 
cô gái để cầm tay. Một biên giới hữu nghị và hòa bình là vô cùng quý giá. Năm 
1986, vẫn có nhiều người chết vì đạn pháo Trung Quốc nơi đoạn đường mà chúng tôi 
vừa đi, nơi các cô gái, hôm nay, để cho các chàng trai cầm tay kéo đi với gương 
mặt tràn trề hạnh phúc. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Quá khứ, rất cần khép lại để cho những hình ảnh như vậy đâm chồi. Nhưng cũng 
phải trân trọng những năm tháng đã thuộc về quá khứ. Tháng Hai, đứng ở bên này 
cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, nhìn sang bên kia, thấy lừng lững một tượng đài đỏ 
rực mà theo các sỹ quan Biên phòng, Trung Quốc gọi là “ đài chiến thắng”. Trở 
lại Lạng Sơn, những chiếc xe tăng Trung Quốc bị quân và dân ta bắn cháy hôm 17-2 
vốn vẫn nằm bên bờ sông Kỳ Cùng, giờ đã được bán sắt vụn cho các khu gang thép. 
Ở Cao Bằng, chúng tôi đã cố nhờ mấy người dân địa phương chở ra kilomet số 3, 
theo hướng đèo Tài Hồ Sìn, tìm tấm bia ghi lại trận đánh diệt 18 xe Trung Quốc 
của tiểu đoàn đặc công 45, nhưng không thấy. Trở lại Tổng Chúp, phải nhờ đến ông 
Lương Đức Tấn, Bí thư Chi bộ, nguyên huyện đội phó Hòa An, đưa ra cái giếng mà 
hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam. Ông Tấn cũng chính là 
một trong những người đầu tiên trở về làng, trực tiếp đỡ từng xác phụ nữ, trẻ 
em, bị chặt bằng búa, bằng dao rồi quăng xuống giếng. Cái giếng ấy bây giờ nằm 
sâu trong vườn riêng của một gia đình, không có đường đi vào. Hôm ấy, anh Tấn 
phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp hình bia 
ghi lại sự kiện mà giờ đây đã chìm trong gai tre và lau lách. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
&lt;b&gt;Huy Đức&lt;/b&gt;&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p align="center"&gt;&lt;font face="Tahoma"&gt;
&lt;img src="http://www.viet-studies.info/kinhte/HuyDuc_BienGioiThangHai.jpg" border="0" height="336" width="445"&gt;&lt;br&gt;
&lt;font size="2"&gt;Ảnh cùa Lê Quang Nhật&lt;/font&gt;&lt;/font&gt;&lt;/p&gt;
&lt;pre&gt; Lấy từ  Blog Osin&lt;/pre&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-7542425424492173414?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/7542425424492173414/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=7542425424492173414' title='1 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/7542425424492173414'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/7542425424492173414'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2009/03/bien-gioi-thang-hai-2009-1979.html' title='Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_4cnck3476DE/SbwD07ZIyBI/AAAAAAAAMT4/h83WqTLOYYQ/s72-c/HuyDuc_BienGioiThangHai.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>1</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-7291466900282336052</id><published>2009-02-21T01:45:00.003+07:00</published><updated>2009-02-21T01:50:47.703+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chiến tranh biên giới'/><title type='text'>AFP nhận định về cuộc chiến Việt-Trung năm 1979</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;span class="body"&gt;&lt;b&gt;Hôm thứ Ba 17 tháng 2 năm 2009, nhân dịp đánh dấu 30 
năm ngày bùng nổ cuộc chiến tranh biên giới ngắn ngủi nhưng đẫm máu giữa Việt 
Nam và Trung Quốc, thông tấn xã AFP đã có bài nhận định về cuộc chiến vừa kể.&lt;/b&gt;&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Bài báo viết rằng ngày 17 tháng 2 năm 1979, sau nhiều tháng xảy ra những vụ đụng 
độ bằng ngôn từ và vũ khí, Trung Quốc đã mở một cuộc tấn công lớn vào Việt Nam 
nhằm &amp;#39;dạy cho đồng minh cộng sản của mình một bài học&amp;#39; vì đã tỏ ra quá độc lập 
đối với Bắc Kinh.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Được mệnh danh là &amp;#39;Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Ba&amp;#39;, nguồn gốc của cuộc đụng 
độ ngắn ngủi nhưng đẫm máu này bắt nguồn từ những xung khắc về ý thức hệ giữa 
Trung Quốc và Liên Bang Xô Viết. Trong cuộc chiến chống Mỹ, Việt Nam được 
Mascơva viện trợ quân sự. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Khi cuộc chiến chấm dứt, mối quan hệ giữa Việt Nam và Liên Xô càng được củng cố 
mạnh mẽ hơn nữa khi Hà Nội tái gia nhập Hội Đồng Tương Trợ Kinh Tế, gọi tắt là 
Comecon, do Mascơva thành lập năm 1949. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Trái lại, mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, nước lúc đó đã mở các cuộc 
tiếp xúc với Hoa Kỳ, ngày càng thêm tồi tệ. Lúc đầu, Trung Quốc nói rằng cuộc 
tấn công của Trung Quốc vào Việt Nam có tính cách giới hạn và không nhằm chiếm 
lãnh thổ của Việt Nam. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Theo lời tuyên bố của Bắc Kinh, mục tiêu của cuộc tấn công là trừng phạt Việt 
Nam, vì 6 tuần trước đó, quân đội Việt Nam đã xâm chiếm Kampuchea để lật đổ chế 
độ Khờ Me Đỏ của Pol Pot, người được Trung Quốc hậu thuẫn. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Theo các nhà phân tích, đối với Bắc Kinh, vụ xâm chiếm Kampuchea đã là giọt nước 
làm tràn đầy ly nước để Bắc Kinh quyết định rằng đã tới lúc phải đưa Việt Nam 
quay trở lại chỗ đứng của mình, vì Việt Nam ngày càng coi thường uy quyền của 
Trung Quốc trong khu vực và đàn áp Hoa Kiều thiểu số trong nước. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Bắc Kinh lúc đó cũng tin rằng Việt Nam đã tỏ ra vô ơn đối với những hậu thuẫn 
quý báu mà Trung Quốc đã dành cho Việt Nam trong cuộc chiến chống Pháp và trong 
những ngày đầu của cuộc chiến chống Mỹ. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Trung Tướng nghỉ hưu Vũ Xuân Vinh của Việt Nam cho biết lúc đó, Trung Quốc tấn 
công Việt Nam để buộc Việt Nam rút quân đội từ Kampuchea về. Tuy nhiên, theo ông 
Vinh, Việt Nam đã có khả năng sử dụng nhiều lực lượng tại địa phương và không để 
rơi vào cạm bẫy của Trung Quốc. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Bài của Thông Tấn Xã AFP nói rằng chiến dịch quân sự của Trung quốc được mở màn 
bằng những cuộc pháo kích dữ dội xuống một số địa điểm dọc biên giới dài 1,400 
kilômét giữa hai nước. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Sau đó, binh sĩ Trung Quốc tiến sâu vài chục kilomet vào nội địa Bắc Việt, chiếm 
quyền kiểm soát một số thị trấn, đáng kể nhất là Lạng Sơn, Cao Bằng và Lào Cai, 
trước khi rút lui một tháng sau đó vào ngày 16 tháng 3. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Không có những số liệu đáng tin cậy nào về tổn thất nhân mạng của hai bên, vì 
những con số không thống nhất, nhưng cuộc chiến cũng làm cả chục ngàn người 
thiệt mạng. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Bài viết của AFP kết luận rằng hai bên cùng cho là mình chiến thắng, nhưng quân 
đội giải phóng nhân dân của Trung Quốc đã thất bại&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;br&gt; Theo VOA&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-7291466900282336052?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/7291466900282336052/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=7291466900282336052' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/7291466900282336052'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/7291466900282336052'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2009/02/afp-nhan-inh-ve-cuoc-chien-viet-trung.html' title='AFP nhận định về cuộc chiến Việt-Trung năm 1979'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-1070989745505253122</id><published>2008-12-21T11:15:00.002+07:00</published><updated>2008-12-21T11:31:02.224+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Việt Nam'/><title type='text'>Ông Mỹ "ma xó" ở Việt Nam</title><content type='html'>&lt;table class="atc_imgWrap" align="left" cellpadding="0" cellspacing="0"&gt;&lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;&lt;td&gt;&lt;img id="_ctl0_rContent_imgImage" class="atc_img" src="http://www.laodong.com.vn/avatar.aspx?ID=84982&amp;amp;at=0&amp;amp;ts=236&amp;amp;lm=633651951222030000" alt="" border="0" /&gt;&lt;/td&gt;           &lt;/tr&gt;           &lt;tr&gt;            &lt;td&gt;             &lt;span id="_ctl0_rContent_lbImageCaption" class="atc_imgCaption"&gt;Nhà sử học Mỹ Jason Picard.&lt;/span&gt;&lt;/td&gt;           &lt;/tr&gt;          &lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;          

&lt;div class="atc_desc"&gt;&lt;b&gt;(LĐCT) - Gặp Jason Picard lần nào cũng thấy anh mang theo một balô nặng chịch, chất đầy sách nghiên cứu về lịch sử, văn học Việt Nam. Picard luôn gây ấn tượng mạnh, bởi vốn kiến thức sâu sắc và am tường đối với cuộc sống địa phương. &lt;/b&gt;&lt;/div&gt;
&lt;p align="justify"&gt;Nhưng, ngoài thời gian ngồi tại Thư viện Quốc gia, Viện Sử học, Viện Văn học, Picard còn niềm đam mê lớn nữa là la cà với cuộc sống phố phường VN, nơi có các quán cơm bụi, bún đậu mắm tôm, càphê vỉa hè... Chả thế mà bạn bè Picard thường đùa gọi anh là "ma xó" ở Việt Nam.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Điều gì đã đưa anh đến với VN vậy?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br&gt;
- Hầu hết những nhà nghiên cứu Mỹ sang VN đều có lý do khởi nguồn là nỗi ám ảnh về chiến tranh. Tôi cũng không ngoại lệ. Nhưng với những người Mỹ chỉ tiếp cận VN qua "hạt cơ bản" này, hình ảnh VN chỉ là một đất nước chiến tranh, nghèo khổ. Họ không biết gì về lịch sử VN trước năm 1954 hoặc 1945. Họ không biết về Truyện Kiều, về lịch sử hào hùng thời Lý, Trần, Lê...&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Mang theo "hạt cơ bản" về chiến tranh, anh ấn tượng gì về VN ở lần đầu tiếp xúc?&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br&gt;
- Tôi đến VN lần đầu tiên khi đi du lịch vào năm 1995. Cảm giác đầu tiên là sợ. Tôi không biết người dân VN sẽ nhìn mình thế nào. Họ có ghét mình không? Vì khi đó, tôi không biết tiếng Việt, không hiểu người dân địa phương nói gì. Tôi chỉ biết về chiến tranh, về hậu quả của nó với VN. Khi tôi gặp một người VN bị cụt chân, tôi sẽ nghĩ ngay họ là nạn nhân của bom mìn Mỹ. Một sự ám ảnh.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Đó là lý do khiến anh nghiên cứu về lịch sử VN?&lt;br&gt;

&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;- Theo tôi, bất cứ người Mỹ nào sinh ra sau chiến tranh, có trình độ và giáo dục, sang VN đều mang theo cảm giác đau khổ vì hành động của nước Mỹ. Nhiều người Mỹ thường sống với nỗi hối hận rất lớn về quá khứ. VN là một quốc gia riêng, một xã hội riêng, có một lịch sử hào hùng, trước khi nước Mỹ mang tới chiến tranh.&lt;br&gt;

Nhưng sau hành trình đến VN lần đầu tiên năm 1995, tôi biết lịch sử VN không chỉ dừng ở lát cắt chiến tranh, mà còn có một lịch sử hào hùng và tiếp nối hàng nghìn năm nay. Đó là động lực khiến tôi nghiên cứu về lịch sử VN.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Năm 1997, anh sang VN để dạy học tại Tây Ninh. Anh tự tìm kiếm cơ hội sang VN, hay do được sắp đặt?&lt;br&gt;

&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;- Khi đó tôi đang làm việc tại Nhật Bản thì được biết tổ chức tình nguyện viên quốc tế của Mỹ (VIA) tìm giáo viên sang VN dạy tiếng Anh tại Hà Nội, Thái Nguyên và Tây Ninh. Tôi đăng ký và chọn Tây Ninh, bởi tôi rất mê lịch sử của địa phương này.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Hai năm ở Tây Ninh đọng lại cho anh những kỷ niệm gì?&lt;br&gt;

&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;- Tôi quý mến và biết ơn người dân địa phương vô cùng. Người dân Tây Ninh đã dạy cho tôi rất nhiều về văn hoá, tập tục, ẩm thực, cuộc sống và tư tưởng phóng khoáng. Họ đã dạy cho tôi những từ tiếng Việt đầu tiên. Họ đã đặt tên tôi là Sơn. Tôi đã mê ăn canh cá lóc, các món bánh tráng và nghiện ẩm thực cay, ngọt kiểu miền Nam cũng nhờ năm tháng sống ở đây.&lt;br&gt;

Tất nhiên, là người Mỹ đầu tiên sống ở Tây Ninh sau chiến tranh, nên tôi cũng thường xuyên bị áp lực. Vì, nhiều người không tin tôi mang theo thiện chí thực sự của một người Mỹ yêu hoà bình. Nhưng tôi rất hiểu, sự nghi ngờ đó là hậu quả từ cuộc chiến mà Mỹ đã mang đến VN.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Anh có thể kể kỷ niệm nhớ nhất khi ở Tây Ninh?&lt;br&gt;

&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;- Gần 2 năm sống ở Tây Ninh là quãng thời gian tôi không bao giờ quên. Người dân đối đãi với tôi như người nhà vậy. Biết tôi cô đơn, do là người nước ngoài duy nhất ở Tây Ninh thời điểm đó, nên các sinh viên và bạn bè VN thường đưa tôi về nhà ăn cơm. Tôi nhớ một lần được một người bạn mời về nhà.&lt;br&gt;

Trước khi bước vào, mẹ của bạn giữ tôi ở cửa và nói: "Bác xin lỗi, nhưng mong cháu đừng chê nhà bác nghèo nàn quá nhé". Tôi, một người nước ngoài, một người Mỹ, được quan tâm mời đến nhà. Vậy mà chủ nhà lại xin lỗi, chỉ vì họ ngại tôi không quen sự đạm bạc. Tôi đã khóc, vì cảm động, vì sự hồn hậu và tốt bụng của người dân VN.&lt;br&gt;

Nhìn người thanh niên Mỹ đang kể về cuộc sống nơi miệt rừng của VN với đôi mắt rưng rưng, như những kỷ niệm yêu dấu nhất, tôi thật sự bị thuyết phục. Tôi đã được gặp và nói chuyện với rất nhiều bạn bè nước ngoài ở VN, nhưng có lẽ, Picard là người đầu tiên khiến tôi xúc động đến vậy trước tình cảm chân thành của anh với cuộc sống dân dã ở VN.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;strong&gt;"Cú sốc văn hoá ngược"&lt;br&gt;

&lt;/strong&gt;&lt;em&gt;Sau thời gian sống tại Tây Ninh, Picard rời đến TP Hồ Chí Minh và Hà Nội để tiếp tục dạy tiếng Anh. Ba năm ở VN, nói tiếng Việt, ăn cơm Việt, đã khiến Picard hoà nhập vào cuộc sống địa phương như một người VN thực thụ. Đến năm 2001, Picard quyết định quay trở về Mỹ, học cao học về ngoại giao tại Đại học Columbia danh tiếng ở New York. Không ngờ, đây lại là thời kỳ khó khăn nhất của Picard, bởi cú sốc văn hoá ngược.&lt;br&gt;
&lt;/em&gt;
- Tôi đã choáng váng khi trở về với cuộc sống ở Mỹ. Mọi thứ đều trở nên xa lạ. Bạn bè và gia đình đều không thể hiểu tâm tư tình cảm và lối sống của tôi sau nhiều năm xa cách. Tôi bỗng trở nên lẻ loi, đơn độc. Rất dễ hiểu khi bạn ra nước ngoài, và bị sốc văn hoá. Nhưng sẽ không có ai thông cảm, khi trở về quê hương mình mà lại sốc. Cú sốc ngược, nặng nề hơn nhiều.&lt;br&gt;

Khi vụ khủng bố 11.9.2001 xảy ra, tôi vừa về New York được 2-3 tuần. Tôi bị suy sụp. Tôi đã nghĩ đến chuyện tự sát. Nhưng đồng thời, vụ 11.9 khiến tôi có cơ hội chín chắn hơn để suy nghĩ về điều tôi thực sự mong muốn. Điều gì là quan trọng nhất với mình.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Vậy, khi đó anh muốn gì?&lt;br&gt;

&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;- Tôi hiểu tôi không thể tiếp tục theo học tại ĐH Columbia. Đó là một đại học danh tiếng tại Mỹ, nhất là khoa ngoại giao, nhưng mục đích của các sinh viên chủ yếu là trao đổi thông tin và tìm kiếm các mối liên hệ cho nghề nghiệp sau này, chứ không phải để lĩnh hội kiến thức. Còn tôi, tôi muốn tìm hiểu về thế giới. Tôi muốn biết thêm về VN. Và tôi đã quyết định rời đến Đại học Cornell theo học lịch sử Á Châu.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Nhưng anh đã có một thời gian dài theo đuổi văn học VN kia mà?&lt;br&gt;

&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;- Tôi muốn nghiên cứu văn học VN để hiểu thêm về lịch sử. Tôi muốn trở thành Giáo sư sử học về VN, còn văn học là niềm đam mê. Qua các tác phẩm kinh điển của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao... tôi hiểu về lịch sử VN giai đoạn 1930-1945.&lt;br&gt;

Tôi nghĩ, văn học là công cụ hữu hiệu nhất để tiếp cận xã hội, nhất là tại Châu Á, nơi có truyền thống đóng cửa bảo nhau. Những nhà văn có tiếng trong thế kỷ XX ở VN đều là những người hiểu biết rất sâu về lịch sử. Nhiều nhà văn này tôi đã được gặp ngoài đời, nhờ thời gian làm thực tập sinh tại Viện Văn học VN (2003-2004).&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;strong&gt;"Jason, con xin lỗi KC ngay!"&lt;br&gt;

&lt;/strong&gt; &lt;table class="atc_imgWrap" align="right" cellpadding="0" cellspacing="0"&gt; &lt;tbody&gt; &lt;tr&gt; &lt;td class="atc_img"&gt;&lt;img alt="" src="http://www.laodong.com.vn/Uploaded_LAODONG/thanhbinh/20081218/ja1.jpg" /&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt; &lt;tr&gt; &lt;td class="atc_imgCaption"&gt; &lt;p align="justify"&gt;Picard trên đường phố Hà Nội.&lt;/p&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;- Một buổi chiều năm 1997, khi ở thăm Hà Nội, tôi quyết định đi xe đạp ra ngoại thành để tập thể dục và ngắm phong cảnh. Sau 90 phút đạp xe lang thang, tôi rẽ vào một quán bình dân trông như một cái lều.&lt;br&gt;

Mọi người nhìn tôi chằm chằm như một kẻ vừa từ hành tinh khác. Tôi ngồi xuống chiếc bàn, chỉ tay vào các mâm bên cạnh, muốn nói: "Tôi sẽ ăn những thứ như họ". Năm phút sau, bà chủ quán khệ nệ bưng ra một chiếc mâm có rau, bún, thịt và một thứ bột loãng màu tím, và chai rượu. Tôi không hề biết thứ thịt này cùng loại bột tím loãng ấy.&lt;br&gt;

Dĩ nhiên, về sau tôi mới biết rằng thứ nước bột màu tím kia là mắm tôm, và như thành ngữ nói "nhăn như khỉ gặp mắm tôm", thì tôi lúc đó cũng có cử chỉ tương tự khi cái mùi ấy qua mũi tôi, thứ mùi khiến cho tâm trí tôi đảo lộn. Ngay khi lưỡi tôi chạm tới miếng thịt thì tôi biết bữa ăn này sẽ rất khó khăn.&lt;br&gt;

Nhìn thấy tôi vụng về, hai người đàn ông rời bàn ăn của họ và ngồi xuống với tôi. Họ chỉ dẫn cách ăn đúng là như thế nào. Tôi gắp bún, rau, thịt và mắm tôm vào bát. Bất ngờ, tôi không những thấy mắm tôm chẳng khó ăn, mà còn làm cho miếng thịt bí ẩn này đưa được vào miệng tôi. au đó, một người bạn, biết chuyện mới thốt lên: "Trời ơi. Anh ăn thịt chó à!". Tôi đứng lặng người.&lt;br&gt;

Khi trở về Mỹ, tôi đã kể cho bố mẹ về kinh nghiệm lần đầu ăn thịt chó. Mẹ tôi, khi đó, đang ngồi trên sàn nhà ngay cạnh con chó nhà tôi, nó tên là KC. Sau một phút bối rối, mẹ bảo với giọng kiên quyết: "Jason, con xin lỗi KC ngay!".&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Bí quyết nào khiến anh hoà nhập đến vậy với cuộc sống dân dã VN?&lt;br&gt;

&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;- Nhiều bạn bè bảo tôi là ma xó ở VN. Vì tôi thích cuộc sống bình dân ở VN. Bạn cũng đừng ngạc nhiên khi gặp tôi trong quán cơm bụi nhé. Đồ ăn ngon, mà lại rẻ. Tôi có quán cơm ruột ở đường Quang Trung đấy. Tôi thích mắm tôm. Sáng nay tôi ăn phở vỉa hè, rồi uống càphê cũng vỉa hè. Tuyệt. Chịu khó hoà nhập với người địa phương là thành ma xó ngay ấy mà.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Có điều gì ở VN mà anh không thích?&lt;br&gt;

&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;- Tôi là người nhạy cảm, nên điều khó thích nghi nhất là tin đồn ở VN. Ví dụ như trong các mối quan hệ, cứ có những lời đồn thổi rằng đàn ông phương Tây như tôi rất lăng nhăng. Tôi đã 37 tuổi rồi, và rất muốn lấy vợ. Nhưng do tin đồn nên cũng mệt lắm.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Đàn ông Mỹ như anh cũng chịu sức ép lập gia đình ư?&lt;br&gt;
&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;
- Tại sao không? Nhưng đó là sức ép từ bản thân. Tôi rất yêu bố mẹ mình và bố mẹ tôi thì muốn được thấy con hạnh phúc, muốn có cháu bế. Còn ở VN, đôi khi sức ép lập gia đình là từ xã hội, chứ không phải do họ muốn.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Còn công việc chính của anh hiện nay là gì?&lt;br&gt;

&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;- Hiện nay tôi đang nghiên cứu về lịch sử hiện đại Việt Nam giai đoạn từ 1954-1955 đến nay. Tôi luôn nhận được sự hợp tác chặt chẽ của các giáo sư tại Viện Sử học Việt Nam. Tôi cũng đã đi đến Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng và sắp tới là Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng bằng Sông Cửu Long, Thanh Hoá, Nghệ An để tìm hiểu về đề tài này.&lt;br&gt;

Còn tại Mỹ, thầy hướng dẫn luận án cho tôi là Peter Zinnoman, Phó Giáo sư khoa Lịch sử Đông Nam Á tại trường đại học  Berkeley (California) kiêm Tổng biên tập của Tạp chí Việt Nam học tại Mỹ.&lt;br&gt;

Tôi có một mong ước lớn là ngày nào đó sẽ được viết về một cuốn tiểu thuyết lịch sử về Việt Nam. Nhưng đó hiện nay chỉ là ước mơ thôi. Hiện tôi đang dịch một số truyện ngắn của các nhà văn Việt Nam sang tiếng Anh.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Xin cảm ơn anh.&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;p style="font-style: italic;" align="justify"&gt;&lt;span id="_ctl0_rContent_lbSource"&gt;Tô Phương Thủy &lt;/span&gt;&lt;span id="_ctl0_rContent_lbEdition"&gt;Lao Động Cuối tuần&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-1070989745505253122?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/1070989745505253122/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=1070989745505253122' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/1070989745505253122'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/1070989745505253122'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/12/ng-m-ma-x-vit-nam.html' title='Ông Mỹ &quot;ma xó&quot; ở Việt Nam'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-8734301184766196668</id><published>2008-10-29T10:21:00.003+07:00</published><updated>2008-10-29T10:28:01.893+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Việt Nam'/><title type='text'>Sự “nổi loạn” đáng được đón nhận!</title><content type='html'>&lt;b&gt;&lt;span id="lbTeaser" class="story_teaser"&gt;“Không thể hiểu nổi ngôn ngữ của giới trẻ 8X, 9X ngày nay, đi ăn chơi cùng nhau, đến khi cần thanh toán thì chúng gọi “Campuchia”, sử dụng thì toàn câu dạng bị động. Không chừng 10 năm nữa, ngôn ngữ tỏ tình sẽ thành... &lt;i style="color: rgb(255, 0, 0);"&gt;Anh yêu bởi em!&lt;/i&gt;”.&lt;/span&gt;&lt;/b&gt;

&lt;span id="lbBody" class="story_body"&gt;&lt;p&gt;Phân tích về ngôn ngữ thời nay, PGS Hà Quang Năng, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam đã dí dỏm đưa ra dẫn chứng như vậy. Cũng theo PGS Hà Quang Năng, không chỉ giới trẻ “loạn ngôn” mà giới truyền thông cũng đang góp phần làm ngôn ngữ Việt Nam… nổi loạn. Nhưng đó là một sự “nổi loạn” cũng dễ thương và đáng được đón nhận. &lt;/p&gt; &lt;div&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Gì gỉ gì gi, cài gì cũng “siêu”, “tặc”!&lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt; &lt;table align="right" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="22"&gt; &lt;tbody&gt; &lt;tr&gt; &lt;td valign="top"&gt; &lt;div&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;img alt="" src="http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/maiminh/PGSHaquangnang_100908.jpg" border="0" height="213" width="150" /&gt;
&lt;/span&gt;&lt;div style="text-align: center;"&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;&lt;p&gt;PGS Hà Quang Năng&lt;/p&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/div&gt;&lt;/td&gt;&lt;/tr&gt;&lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt;&lt;/span&gt;&lt;span id="lbBody" class="story_body"&gt; &lt;div&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;&lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;div&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;
Xin ông có thể dẫn chứng cụ thể về việc giới truyền thông đang khiến ngôn ngữ Việt Nam “loạn”?&lt;/span&gt;&lt;/div&gt; &lt;p&gt;Chẳng hạn như với từ gốc Hán-Việt là từ “tặc” và từ “siêu”, đã xuất hiện khoảng 180 từ đi kèm với những từ này trong đời sống ngôn ngữ. Ngoài những từ cũ là &lt;span style="font-style: italic;"&gt;nghịch tặc, phản tặc, ác tặc, không tặc, hải tặc&lt;/span&gt;… đã xuất hiện một loạt “tặc” mới rất buồn cười như &lt;span style="font-style: italic;"&gt;“mông tặc”&lt;/span&gt; (những kẻ dùng kim tiêm đi đâm mông phụ nữ như hiện tượng từng xuất hiện ở TPHCM), &lt;span style="font-style: italic;"&gt;khoan tặc&lt;/span&gt; (quảng cáo khoan cắt bê tông tuỳ tiện làm mất mĩ quan đô thị), &lt;span style="font-style: italic;"&gt;thổ tặc, lộ tặc&lt;/span&gt; (kẻ ăn chặn người đi đường để kiếm tiền)…&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Rồi thì &lt;span style="font-style: italic;"&gt;sa tặc, thiếc tặc, khoáng tặc, nghêu tặc, rác tặc, cẩu tặc…&lt;/span&gt;!&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Rồi siêu thì &lt;span style="font-style: italic;"&gt;siêu trọng, siêu trứng, siêu nạc, siêu sạch&lt;/span&gt;…&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Lạ quá “đào bồi”, “điều nghiên” và “khẳng quyết”!&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Quả thật là rất linh hoạt và “sáng tạo”. Ngoài “siêu” và “tặc” thì ngôn ngữ Việt Nam còn đang có thêm những tiết tấu bất ngờ nào nữa không, thưa ông?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Người Việt hiện đã triệt để sử dụng các phương thức cấu tạo từ tiếng Việt để tạo ra những từ vựng mới. Hàng loạt từ ghép đẳng lập (từ ghép hội nghĩa, ghép hợp nghĩa, đẳng nghĩa) đã xuất hiện với nội dung khái quát nhằm diễn đạt các sự vật, hoạt động theo khái niệm mới như &lt;span style="font-style: italic;"&gt;bỉ tiện, bi phẫn, chụp giựt&lt;/span&gt;…&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Đáng chú ý là nhiều từ ghép hợp nghĩa tạo nên những từ rất lạ như: &lt;span style="font-style: italic;"&gt;bí nhiệm&lt;/span&gt; (bí ẩn và nhiệm mầu), &lt;span style="font-style: italic;"&gt;điều nghiên&lt;/span&gt; (điều tra và nghiên cứu), &lt;span style="font-style: italic;"&gt;giảng huấn&lt;/span&gt; (giảng dạy và huấn luyện), &lt;span style="font-style: italic;"&gt;khẳng quyết&lt;/span&gt; (khẳng định và quả quyết), &lt;span style="font-style: italic;"&gt;đào bồi&lt;/span&gt; (đào tạo và bồi dưỡng)…!&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Là một nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã hàng chục năm nay, cảm nghĩ của ông trước sự ngày một “sáng tạo” của ngôn ngữ Việt?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Theo tôi, trong sự phát triển của xã hội luôn nảy sinh những hiện tượng, đối tượng, khái niệm, quan hệ mới, xảy ra những biến đổi phát triển của những sự kiện, đối tượng khái niệm đã có. Ngôn ngữ đã phát huy tối đa đặc điểm tiết kiệm của mình trong việc gọi tên, biểu thị những khái niệm, những đối tượng tồn tại và phát triển của xã hội.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Tất nhiên, trong sự thay đổi đó có tồn tại những mặt này mặt khác nhưng cùng với sự phát triển của xã hội thì ngôn ngữ cũng biến đổi và phát triển để thực hiện tốt hơn, hoàn thiện hơn vai trò là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, đồng thời là công cụ tư duy đắc lực của con người.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Xu hướng làm giàu vốn từ vựng của ngôn ngữ&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Tức là theo ông nên có một cái nhìn độ lượng và sẵn sàng dung nạp những từ ngữ “lạ” đang xuất hiện ngày càng nhiều như là một sự phát triển tất yếu của xã hội?&lt;/span&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Đúng vậy! Sự biến đổi và phát triển nghĩa của các đơn vị từ vựng đã có để tăng cường khả năng biểu thị của chúng; là một xu hướng làm giàu vốn từ vựng của ngôn ngữ. Từ vựng là một bộ phận cần phát triển nhanh nhất để có chức năng là tấm gương phản chiếu một cách trực tiếp đời sống xã hội, sự biến đổi và phát triển của xã hội.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, sự bùng nổ thông tin và các phương tiện thông tin đại chúng, tính năng động, nhậy bén trong tư duy, trong nhận thức của mỗi người đã làm nên những kỳ tích, làm cho đất nước ta thay đổi từng ngày. &lt;/p&gt; &lt;p&gt;Môi trường, hoàn cảnh đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự phát triển không ngừng của ngôn ngữ, đặc biệt là sự xuất hiện của một số lượng lớn các từ ngữ mới nhằm biểu thị những sự vật, hiện tượng mới, những biểu hiện tâm lý, tình cảm, hành động, những nhận thức ngày càng sâu sắc, càng phong phú của con người thời đại mới. &lt;/p&gt; &lt;p&gt;Xã hội phát triển rất nhiều sự vật, hiện tượng mới cần được đặt tên, cần được đưa vào ngôn ngữ. Tại sao chúng ta lại phải từ chối những từ ngữ “sáng tạo” đó?&lt;/p&gt;&lt;/span&gt;&lt;span style="font-style: italic;"&gt;Theo báo Dân Trí&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-8734301184766196668?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/8734301184766196668/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=8734301184766196668' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/8734301184766196668'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/8734301184766196668'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/10/s-ni-lon-ng-c-n-nhn.html' title='Sự “nổi loạn” đáng được đón nhận!'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-4062703319627772779</id><published>2008-10-17T00:17:00.002+07:00</published><updated>2008-10-17T00:26:48.441+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Việt Nam'/><title type='text'>Người nói lý ở Lao Chải</title><content type='html'>&lt;p&gt;Lý A Cứ người Lao Chải (bản già, lâu đời của người Mông ở Sa Pa, Lào Cai). Tuy không phải là già nhất bản nhưng Lý luôn được người trong bản tôn trọng, bởi anh ta biết nói lý và là người có cái lý cứng nhất.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;Cái gai đã nhọn thì nhọn từ bé. Mẹ Lý kể khi mới 5 tuổi, Lý đã biết những điều tự nhiên như tuổi mười lăm. Một lần nghe thấy em đòi mẹ gãi lưng, Lý liếc xéo sang bảo: "Lưng mình ngứa thì phải tự biết gãi chứ. Thế mẹ đi vắng thì mày gọi ai?". Lớn lên Lý ít nói. Lý thường bảo:
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
"Nói thì không khó gì, nhưng nói để nghe được thì phải nghĩ. Lúc đó lời nói rất quý, không thể nói bừa bãi được, lúc cần nói mới nói". Bởi thế khi nghe người Tà Chải (bản lớn) khoe bản mình đông đúc mạnh hơn bản khác, hoặc người Xín Chải (bản mới) bảo bản mình mới lập, đẹp không bản nào bằng, Lý chỉ rim mắt lặng im như không thấy gì. Sau đó Lý mới lẩm bẩm "đúng là lời của trẻ con, cái lý không cao hơn ngọn cỏ".
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Không ai bảo nhưng từ lâu Lý đã biết con ngựa hay đi đầu hơi cúi mới có sức vươn đường xa. Cái lý hay không phải nhiều lời, không cần nói trước. Cái lý đúng phải mạnh như mật gấu làm tan ngay chỗ đau, phải tốt như mật ong núi làm trẻ con dứt ngay cơn đau họng.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cái lý cứng làm đối phương phải chết tức thời như người lỡ ăn phải lá ngón, như cá gặp nước lá cơi. Muốn được như thế thì khi lập lý phải nhẹ như gió, ngọt như nước, phải biết hạ thấp đầu như ngựa chuẩn bị leo dốc, để cái lý nó đi cho êm. Chuyện nói lý là để được việc chứ đâu phải khoe lời thả giọng. Bởi vậy từ lâu trong mâm rượu, ngoài bãi chợ Lý hay ngồi lặng lẽ bỏ ngoài tai những lời nói lý huyên thuyên.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Lý bảo cái lý có mùi rượu dù có đúng cũng không ai buồn nghe. Cung cách sống ấy của Lý khiến nhiều người nể trọng. Cũng vì thế mà nhiều vụ việc của người Lao Chải Lý đều được mời tham gia giải quyết, và thường là được việc. Mới đây thôi, khi con đường du lịch đi qua cạnh bản được nâng cấp phẳng phiu, xe đi êm ro đến mức tiến sát tận sau lưng mình mà còn không biết. Bởi thế mới có chuyện con gà mái mải bới mồi cho con bên đường bị xe cán chết mà còn không biết tại sao.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Chủ nhà ra chặn xe nhờ Lý A Cứ ra nói lý bắt đền. Lý đến nơi chẳng nói gì chuyện phạt mà lại thân thiện tiến đến gần, sờ vào xe khen xe bóng đẹp. Thấy thế chủ nhà bắt đầu lo hỏng việc, còn lái xe hy vọng không phải móc ví chịu phạt. Lúc này Lý mới lên tiếng "chiếc xe này chắc chạy êm lắm, tốt lắm đây". Lái xe gật đầu. "Bởi thế con gà mới không biết đường mà tránh". Lái xe lại gật đầu. "Thế thì cái xe có lỗi rồi còn gì?". Đến đây Lý chậm rãi "xưa chưa có đường có xe, gà của bản không bao giờ chết, nay có đường xe đến làm gà chết chả lỗi của mày thì của ai?". Cái lý cứng như thế, lái xe còn cãi vào đâu được.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Những năm tuổi trẻ Lý cũng đã từng cắp sách tới trường. Nhưng vì khó ở cái chữ phổ thông mà gần mười năm Lý chưa qua lớp sáu. Nhưng có ai hỏi thì Lý lại bảo "học lại dễ hơn, lên lớp làm gì!". Đến khi trên mở trường nghệ thuật, nghe thấy lạ, Lý háo hức đòi đi để học cái mới. Lúc này Lý mới lớp 5 thôi nhưng vẫn được tuyển. Với cấp trên, lúc ấy người Lao Chải chịu đi học cho là tốt lắm rồi.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Lý về trường phải theo bổ túc văn-sử cho hết lớp 7 để đủ tiêu chuẩn vào trường trung cấp. Một anh cùng lớp có văn hóa lớp mười giúp Lý học bổ túc. Lý bảo "không phải việc của nó mà nó giúp mình, thế nó là người tốt". Nghỉ hè xuống, Lý đem tam thất biếu anh, có điếu thuốc cũng chia sẻ cùng anh, quý hóa lắm. Nhưng với thầy giáo thì lại khác.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Gần ngày thi tốt nghiệp, Lý lo lắng bảo thầy chủ nhiệm "lần này thi em mà không đỗ là lỗi ở thầy, tại vì thầy có trách nhiệm dạy mà em không hiểu, thế là thầy không làm tròn nhiệm vụ!". Thầy giáo quá ngạc nhiên, không biết nói thế nào. Tuy nhiên năm ấy Lý cũng đủ điểm ra trường. Lý bảo dù mình học có kém nhưng cái lý đúng thì phải được đỗ thôi.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Về huyện công tác được vài năm. Một hôm Lý sắp xếp hòm quần áo rồi lặng lẽ lên gặp trưởng phòng xin thôi việc về quê với lý lẽ rất đơn giản "mình không thắc mắc gì, tại nhà mình không có người làm, mình phải về thôi". Dừng một lát, Lý nói tiếp "mình cũng biết việc nhà nước quan trọng, nhưng mình không làm đã có người khác làm, còn việc nhà mình không làm thì không ai làm cho". Thế là Lý về.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ngày đầu về, Lý đi chơi với bạn bè uống rượu say bò ra đường. Có người đi qua thấy thế bảo "thằng Lý đấy, nó đi học làm cán bộ rồi nay lại bỏ về bản, bây giờ say rượu trông thật xấu". Lý A Cứ đang nửa mơ nửa thức vùng dậy cãi "ai nói thế, tôi là người tốt, ra chợ mỗi bạn mời một bát rượu tôi mới được say đấy, chứ xấu bụng thì ai mời nào, bao giờ mà được say!".
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Lý về bản làm việc cần cù. Những lúc thiếu đói trong bản có người kêu ca chính quyền, muốn Lý đồng tình. Nhà Lý cũng có lúc như thế, nhưng Lý bảo "đó là tại mình kém, tại sao người ta đủ mà mình lại thiếu, tại sao lại lấy cái thiếu cái kém của mình ra làm thành lỗi của chính quyền. Muốn đủ thì phải làm việc thôi". Nhà Lý có vườn lê to.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Những năm được mùa, quả lê cũng là nguồn thu nhập khá. Lý đem lê ra chợ bán, cứ hào một quả, đếm đủ lấy tiền. Người mua sau thấy còn quả nhỏ, mặc cả sáu bảy xu thì Lý vặn lại "muốn rẻ sao không đi sớm mà mua, giờ còn nói gì!". Ngày Lý A Cứ mua cái xe Minskơ để tập chạy xe ôm, cả Lao Chải phục lắm. Ra người bản mình cũng tài lắm chứ đâu, chỉ biết đi bộ, cưỡi ngựa.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Xe dắt về mới nổ máy để chạy cho êm thôi đã có nhiều người tỏ ý muốn A Cứ cho được ngồi sau xe một lần, chắc sướng lắm vì nó có vẻ khỏe hơn con ngựa, nhanh hơn con ngựa. Lý cười: cứ đợi đấy khắc biết. Đến buổi chiều, người ta thấy Lý tập tễnh đi bộ về bản, mặt xây xát xưng vù. Ai hỏi Lý cũng không chịu nói. Về sau mới biết Lý tập xe đâm vào đống quẩy tấu của người xuống chợ.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Xe bị hỏng, còn Lý lăn trên đống quẩy tấu nên không bị trọng thương. Mọi người kéo đến vây quanh bắt đền, Lý cãi: "Tưởng ta đi xe giỏi lắm à? Thấy xe sao không tránh. Xe còn hỏng đây này, ta chưa bắt đền thì thôi còn nói gì nào?". Sau này Lý bảo đổ xe là tại mình thôi, tại mình non tay lái. Lúc ấy cãi là nói bừa để tự cứu mình thôi. Thế mà cũng thoát. Có người bảo Lý, sao biết sai còn cãi cố, thì Lý bảo "thế việc của mình, mình không biết tự bênh thì ai bênh mình nào?".
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Chi bộ Lao Chải có 5 đảng viên do Vàng Chẩu Din làm bí thư nhiều năm. Mới đây đại hội, các đảng viên bàn nên cất nhắc lớp trẻ. Thấy ý kiến đã thống nhất, Chẩu Din vui lòng thôi bí thư. Ông bảo "bớt việc chi bộ thì thêm việc nhà cũng tốt". Nhưng cũng từ hôm ấy, Chẩu Din không đi họp chi bộ nữa. "Không đi nữa đâu! Mình đã làm bố rồi thì không làm con nữa"- Chẩu Din nói. Người bảo phải, người bảo không đúng lý.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tranh luận mãi không hồi kết mọi người bèn đi tìm Lý A Cứ hỏi xem như thế là đúng hay sai. Nghĩ một lúc, Lý bảo "ông Chẩu Din sai, việc chi bộ có phải việc nhà ông đâu mà ông đem cái lý ở trong nhà ra nói". Lúc ấy Chẩu Din mới chịu.
Chuyện Lý A Cứ còn dài, còn nhiều nữa. Cái lý của A Cứ nhọn sắc như dao lá lúa, cũng có lúc tù như cái gai bị gẫy.
&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nhưng Lý A Cứ cũng không chịu thua ai. Cũng bởi Lý chỉ mở miệng khi bị chạm tới chứ ít khi đem cái lý đi dạy đời. Lý bảo: Trên đời này, cái lý thì ai chẳng có, sao phải bắt người ta theo cái lý của mình. Chỉ khi người ta chạm đến mình thì mình mới buộc phải nói lý thôi!
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;em&gt;D.N Theo báo Thanh Niên&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-4062703319627772779?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/4062703319627772779/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=4062703319627772779' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/4062703319627772779'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/4062703319627772779'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/10/ngi-ni-l-lao-chi.html' title='Người nói lý ở Lao Chải'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-6126997224485655443</id><published>2008-09-01T22:12:00.002+07:00</published><updated>2008-09-01T22:29:46.277+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Việt Nam'/><title type='text'>Quốc khánh và câu chuyện lá cờ</title><content type='html'>&lt;span style="font-face:Arial"&gt;&lt;p style="font-weight: bold;"&gt;Nhân ngày Quốc Khánh 2-9. Mình xin gửi đến các bạn một bức thư của một du học sinh Việt Nam du học ở Newzeland, một nơi cách quê hương 5 múi giờ... Chúc các bạn vui lễ Quốc Khánh vui vẻ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngày hôm ấy tan học nhưng vẫn còn sớm, tôi quyết định không về nhà mà ghé qua một hội chợ ngay bên cạnh trường. Một hội chợ bình thường và không có gì khác lắm so với ở Việt Nam mình, cũng nhạc sập sình cũng hàng quán người qua kẻ lại , chỉ khác cái là trời lạnh đến mức người ta chỉ còn sức nhìn hàng chứ không còn sức hạ quyết tâm ...lấy cắp gì.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Câu chuyện của chúng ta xảy ra ở một gian hàng nhỏ bán đồ quốc tế từ nhiều nước khác, ở một góc hội chợ, khá ít người lui tới. Trong góc gian hàng có bán cờ. Đủ loaị cờ các nước. Kinh doanh cờ có lẽ đồng nghĩa với chuyện trưng ra mà không mong muốn bán được đắt như tôm tươi . Chắc chúng ta ai cũng biết ở Việt Nam cờ bán đắt nhất khi có dịp đá banh quốc tế mà đội tuyển Việt Nam có mặt.

&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó tôi không để ý lắm tới mấy cái cờ mà xem hàng ở ngoài. Một cậu bé chừng 12, 13 tuổi bước vào, mua cái cờ Việt Nam duy nhất ở đó. Ông bán hàng rán nín cười, nói rằng ngày Quốc khánh ở đây chỉ có cờ NewZeland là hợp lệ thôi. Cậu bé trả lời :"Ông không thể biết được là dân tộc tôi đã đổ bao nhiêu máu để bảo vệ cái màu đỏ này đâu. Và tôi không muốn nó nằm lăn lóc ở một cái sạp ngoài chợ như thế này". Ông bán hàng nín thinh im lặng thối tiền cho cậu bé. Cậu ôm lá cờ trên tay sải bước ra ngoài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;

Lần đầu tiên trong 15 năm là người Việt Nam tôi thấy cái màu đỏ trên lá cờ nó đẹp như thế. Cái màu đỏ lấp lánh trong những tia nắng vàng hiếm hoi trong thời tiết 4 độ C, được cẩn thận nâng niu không để chạm đất trên tay một cậu bé sinh ra ở thời bình như tôi và như hàng chục ngàn học sinh khác. Lần đầu tiên tôi thấy một hơi ấm thật sự, xuất phát từ chính dân tộc mình mà đáng ra mình phải tự hào và trân trọng. Lúc đó tôi muốn chạy theo bắt chuyện với cậu bé do thấy một đồng hương ở xứ người , nhưng tự cảm thấy xấu hổ quá nên chỉ biết đứng đó lặng đi nhìn theo cái màu đỏ thắm của Tổ Quốc tung bay nhè nhẹ trên vai cậu bé, sáng lên trong nắng.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;a onblur="try {parent.deselectBloggerImageGracefully();} catch(e) {}" href="http://4.bp.blogspot.com/_4cnck3476DE/SLwKKK7x3GI/AAAAAAAAIgg/71yGj20rQVI/s1600-h/00862584ca0.jpg"&gt;&lt;img style="display:block; margin:0px auto 10px; text-align:center;cursor:pointer; cursor:hand;" src="http://4.bp.blogspot.com/_4cnck3476DE/SLwKKK7x3GI/AAAAAAAAIgg/71yGj20rQVI/s400/00862584ca0.jpg" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5241075236202470498" /&gt;&lt;/a&gt; Ngày xưa khi máu của ông cha chúng ta đổ xuống, khi những con mắt nhắm lại mà không được nhìn thấy Tổ Quốc tự do tôi nghĩ là họ không mong muốn một thế hệ mà họ đã kì vọng , một tuần nhìn lên lá cờ một lần một cách vô cảm và hát bài Quốc Ca mà không thèm quan tâm đến lời bài hát có cái gì. Họ mong muốn những giây phút như khi một cậu bé cầm lá cờ Tổ Quốc bước ra khỏi sạp bán hàng đầy tự hào và trân trọng dù là ở nửa bên kia của Trái Đất.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Mười năm ở Việt Nam tôi luôn được dạy về cái hào hùng và oanh liệt của lịch sử dân tộc, luôn được dạy về những nỗi đau, những sự hy sinh, những điều phải tôn kính trân trọng phải tự hào ... nhưng chưa lúc nào cái kiến thức đó được đi vào đầu hay được sử dụng tới. Và các bạn ạ, một lần nữa, không phải mất bao nhiêu năm tháng ngồi ghế nhà trường và bao nhiêu trang giấy sách giáo khoa , chỉ trong vòng một khoảnh khắc đó thôi tôi mới thấm thía cái câu cuộc sống mới là nhà trường, nơi mà bài học đi thẳng vào trái tim.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;span style="font-weight: bold;"&gt;Bùi Như Mai  (Thể thao và Văn hóa )&lt;/span&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-6126997224485655443?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/6126997224485655443/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=6126997224485655443' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/6126997224485655443'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/6126997224485655443'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/09/quc-khnh-v-cu-chuyn-l-c.html' title='Quốc khánh và câu chuyện lá cờ'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://4.bp.blogspot.com/_4cnck3476DE/SLwKKK7x3GI/AAAAAAAAIgg/71yGj20rQVI/s72-c/00862584ca0.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-7393838651466157270</id><published>2008-08-03T03:58:00.005+07:00</published><updated>2008-10-11T20:59:33.069+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chiến tranh Việt Nam'/><title type='text'>Viên phi công Mỹ và hành trình 40 năm đi tìm kỷ vật</title><content type='html'>&lt;span style="font-family:arial,helvetica,sans-serif;"&gt;&lt;strong&gt;Kể từ ngày những tù binh tại trại giam Hỏa Lò (Hà Nội) được Việt Nam trao trả cho phía Mỹ tại sân bay Gia Lâm (12/2/1973), cựu tù binh - phi công Halyborton Porter Alex đã nhiều lần trở lại Việt Nam.&lt;/strong&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Người ta bảo, Halyborton đến Việt Nam như là một sự sám hối. Còn Halyborton tâm sự: “Đó mới chỉ là một nửa, tôi muốn tìm lại một kỷ vật của thời chiến...”.&lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;&lt;img alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_4cnck3476DE/SPCtRtqlM_I/AAAAAAAAMMs/yzY-R14oND0/s400/70007133-7949sm.jpg" align="left" border="1" hspace="5" vspace="5" /&gt;
&lt;span style="color:green;"&gt;Ông Halyborton và vợ tần ngần xem đôi giày kỷ niệm&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;250 giờ bay và 8 năm tù ở Hoả Lò&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Mỗi lần trở lại Việt Nam, điểm đầu tiên mà Halyborton ghé thăm là Bảo tàng lịch sử Quân sự ở đường Điện Biên Phủ (Hà Nội). Viên phi công cứ lặng lẽ đến, nhìn ngó từng hiện vật chiến tranh, như thể tìm kiếm một cái gì đó...rồi lại lặng lẽ đi. Không ai biết anh là ai, cũng chẳng ai để ý đến anh. Bởi mỗi ngày, những người cựu binh Mỹ như Halyborton đến đây có vô khối... &lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Ngày 10/3/2005, cựu binh Halyborton lại trở lại Bảo tàng, lần này ông đi cùng vợ và cả một số người bạn Mỹ. Ông tự tách đoàn, lang thang nhìn ngắm hiện vật một mình. Halyborton dừng lại khá lâu bên chiếc tủ kính, được đặt dưới chân chiếc xe tăng T-54 mang số hiệu 843, nơi trưng bày khá nhiều hiện vật về phi công Mỹ bị bắn rơi, bị bắt sống ở miền Bắc Việt Nam từ 1964-1972. &lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Chợt ông sửng sốt, reo lên “My shoes ! My shoes...!” (Giày của tôi! Giày của tôi!). Halyborton mừng quýnh lên, ông nhìn ngó và nhận ra phía trong đôi giày vẫn còn chữ “Haly” do chính tay ông viết. Ông kéo vợ đến xem, cả hai chụm đầu ngó vào tủ kính. Ông chỉ cho vợ xem nét chữ của chính mình trên cổ giày còn rất rõ. &lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Cách đây 40 năm, khi đó, Halyborton là phi công lái máy bay chiến đấu của Hạm đội 7. Ông tự tay viết tên mình vào cổ giày là để đánh dấu cho khỏi lẫn với giày của các phi công khác. Ông tâm sự: “Tôi đã nhiều lần đến thăm bảo tàng này, ngắm đi ngắm lại những nơi bày mảnh xác máy bay, trang bị phi công mà không tìm được một vật nào của mình. Vậy mà lần này thật tình cờ, may mắn...”. Niềm vui bất ngờ của cựu binh Mỹ khiến cho cả đoàn khách Mỹ xúm xít lại bên tủ kính ngắm nghía đôi giày, họ ồ lên cười sung sướng vì ngạc nhiên.Thấy chuyện lạ, người hướng dẫn khách mời Đại tá, Giám đốc Bảo tàng Lê Mã Lương đến tiếp đoàn. Gặp Đại tá Lê Mã Lương, Halyborton khẩn khoản: “Xin phép ngài, ngài có thể cho mở tủ kính trưng bày, cho tôi được cầm trên tay đôi giày của mình không ạ?”. Mở tủ kính, cựu binh Halyborton mân mê đôi giày...Hồi ức  của 40 năm về trước bỗng tràn về …&lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Halyborton kể: Năm 1964, viện cớ “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, Tổng thống Mỹ quyết định mở cuộc hành quân “Mũi tên xuyên”. Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ chính thức ném bom đánh phá miền Bắc Việt Nam. Lúc đó, Halyborton vừa tròn 23 tuổi, là một trong những phi công trẻ nhất từ Mỹ được đưa đến  Hạm đội 7. &lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Thời kỳ đó, lưới lửa phòng không của miền Bắc Việt Nam ngày càng phát triển và vươn rộng ra các tỉnh, gây nhiều thiệt hại nặng cho hải quân Mỹ ở vùng Đông Bắc và chặn đường ra vào của không quân Mỹ từ Thái Lan sang. Mác Na-ma-ra chủ trương mở những cuộc “trả đũa huỷ diệt ngay tức khắc các bệ phóng”. Không ngờ, chẳng những không cứu vãn được tình thế, không quân Mỹ bị đánh thiệt hại nặng ngay từ trận tập kích đầu tiên vào Suối Hai (Hà Tây, ngày 27/7). Chỉ huy của Halyborton cay cú bèn hạ lệnh đánh luôn trận thứ hai ở Phú Thọ ( ngày 9/8). Một lần nữa quân Mỹ lại thất bại thảm hại. Thấy không quân bị thua đau hai trận liền, viên tư lệnh sư đoàn không quân số 2 yêu cầu hải quân đánh tiếp trận thứ ba ở vùng ỷ Na- Xích Thổ (ngày 13/8). Trận này, có sự tham gia của lực lượng xung kích 77 ( Hạm đội 7), nhưng tiếp tục bị lực lượng phòng không của ta đánh thiệt hại nặng, buộc tổng tham mưu trưởng không quân Mỹ ra lệnh đình chỉ ngay tức khắc việc đánh “trả đũa quá đắt đỏ”.&lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Trung tuần tháng 10, sau hai tháng nghiên cứu, Lầu năm góc hạ lệnh cho không quân, hải quân Mỹ tiếp tục mở “chiến dịch tiến công chớp nhoáng, diệt các trận địa tên lửa phòng không”. Sớm ngày 17/10/1965, chiếc tàu sân bay US In-đi-pen-đơn No-Phốc tiến dần về phía bắc, sỹ quan, nhân viên kỹ thuật cũng như phi công làm việc hết sức khẩn trương, bận rộn chuẩn bị cho một “phi vụ đặc biệt” trên vùng trời miền Bắc Việt Nam. &lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Khoảng 8 giờ sáng, một chiếc máy bay trực thăng có bốn máy bay phản lực bảo vệ, hạ cánh xuống hạm In-đê-pen-đơn. Đô đốc Grân Sáp, tư lệnh quân  Mỹ ở Thái Bình Dương ngày hôm trước đang kinh lý tại Sài Gòn được bộ tư lệnh sư đoàn không quân số 2 cho biết một chiếc máy bay không người lái điều khiển bằng điện tử đã chụp được ảnh một vị trí tên lửa đất đối không tại vùng Chũ-Bắc Giang của Bắc Việt, bèn vội đến đây. Grân Sáp lệnh cho tướng Mo mở ngay một đợt tiến công với hai mục đích: Cắt đứt đường tiếp vận từ bên ngoài vào miền Bắc Việt Nam; thí điểm cách đánh mới bay thấp, dùng tốp nhỏ, đánh nhanh, rút nhanh, huỷ diệt những bệ phóng tên lửa, trừ mối hiểm hoạ cho các phi công Mỹ khi bay vào đánh phá miền Bắc.  &lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Ngày 17 tháng 10 năm 1965,  là ngày đen tối của Hạm đội 7, có rất nhiều máy bay bị bắn rơi trên bầu trời Bắc Việt Nam. “Tôi lái chiếc F-4 từ hướng Bắc bay thẳng vào vùng Kép- Lạng Sơn, chưa kịp tiếp cận mục tiêu, phi công chúng tôi đã vấp phải lưới lửa phòng không tầng thấp, tầng cao dày đặc. Chúng tôi vừa phải tìm đường tránh tên lửa vừa phải tính kế tiếp cận mục tiêu. Nhưng không kịp, một quả tên lửa đã lao trúng vào máy bay của chúng tôi. Máy bay bốc cháy dữ dội, tôi kịp bấm dù còn thiếu tá Olmstead Stanley E cùng bay với tôi đã không kịp…”, Halyborton nhớ lại. &lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Từ Mỹ sang Việt Nam tham chiến, Halyborton thực hiện được 250 giờ bay, rồi trở thành tù binh chiến tranh của Việt Nam. Một tốp dân quân địa phương đã bắt được ông, sau đó viên phi công Mỹ được đưa về “lưu trú” ở nhà tù Hoả Lò (Hà Nội). Tại đây, Halyborton gặp lại những phi công của hạm đội 7, họ cũng bị bắt cùng ngày với ông như trung uý Gaither, Ralph Ellis, trung uý Knutson, Rodney Allen, trung uý Weeat, David Robert. Kể từ đó, Halyborton  sống cùng những phi công khác ở Hoả Lò khoảng gần 8 năm, cho đến ngày 12 tháng 2 năm 1973, họ được Chính phủ Việt Nam trao trả cho  phía Mỹ tại sân bay Gia Lâm. “Chúng tôi trở về Mỹ bằng bộ quần áo blu dông, trên tay xách chiếc xắc du lịch đựng đồ tư trang do Chính phủ Việt Nam trang bị. Rất nhiều phi công trong số chúng tôi mang theo chiếc điếu hút thuốc lào, quạt nan sử dụng khi sống ở Hoả Lò - Hà Nội làm kỷ niệm”, Halyborton nói. Về Mỹ, ông nghỉ hưu với quân hàm trung tá &lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;&lt;span style="color: rgb(0, 0, 255);"&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;Và những chuyện thú vị&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Vợ ông, bà Martna HalyBurton suốt từ khi nhìn thấy đôi giày của chồng cứ tủm tỉm cười. Bà bảo “Tôi không biết nhiều về cuộc chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Nhưng chính chồng tôi đã khiến tôi gắn bó với người dân Việt Nam”. Từ năm 2004, Martna đã sang Việt Nam dạy ở trường trẻ mồ côi Hoa Sữa 2 tháng. Bà từng đến Bắc Hà (Lào Cai) để mua lợn tặng cho các gia đình nghèo ở đây. Bà cũng đã đi thăm trại trẻ mồ côi ở Hội An, làng Hy Vọng ở Đà Nẵng, tặng tiền học bổng cho học sinh nghèo ở Huế. “ấn tượng lớn nhất về cuộc chiến của người Mỹ tại Việt Nam chính là những đứa trẻ Việt Nam bị ảnh hưởng của chất độc da cam mà tôi từng gặp. Chiến tranh thật là độc ác...”, bà tâm sự.&lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Rút chiếc khăn tay chấm những giọt nước mắt lăn trên gò má của Martna, Halyborton rầu rầu nói: “Tôi đến Việt Nam lần này cũng có thể là lần cuối cùng...”. Hỏi vì sao? “Tôi đang mắc một chứng bệnh hiểm nghèo...! Đối với tôi lần này thật là một kỷ niệm khó quên. Đến đây, tôi được tham quan bảo tàng, được xem những hiện vật của cuộc chiến tranh Việt Nam. Xin cám ơn bảo tàng đã cho phép tôi và vợ tôi, các bạn của tôi được xem đôi giày bay trưng bày ở dưới chân chiếc xe tăng T-54. Tôi rất vui được gặp Giám đốc Lê Mã Lương, được Giám đốc và cán bộ bảo tàng tiếp tôi với thái độ cởi mở, thân thiện...”.&lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;&lt;img alt="" src="http://2.bp.blogspot.com/_4cnck3476DE/SPCtRjqRVCI/AAAAAAAAMM0/noEGJgrmbGs/s400/de70007133-7950sm.jpg" align="left" border="1" hspace="5" vspace="5" /&gt;
&lt;span style="color:green;"&gt;Các du khách – CCB Mỹ chụp ảnh lưu niệm với cán bộ Viện Bảo tàng LSQSVN &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Nhưng điều thú vị nhất đối với Halyborton Porter Alex là lần trở về với quá khứ này, ông biết thêm một điều: Những “con ma” của hạm đội 7 bị hạ, trong đó có ông là do những quả tên lửa của Trung đoàn 238. Dưới sự chỉ huy của Tham mưu phó trung đoàn Nguyễn Sinh Huy, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 82 tên lửa Bùi Danh Châu, kíp trắc thủ Kiều Minh Tích, Nguyễn văn Tuân, Nguyễn Đức Từu...&lt;/p&gt;&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-7393838651466157270?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/7393838651466157270/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=7393838651466157270' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/7393838651466157270'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/7393838651466157270'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/08/vin-phi-cng-m-v-hnh-trnh-40-nm-i-tm-k.html' title='Viên phi công Mỹ và hành trình 40 năm đi tìm kỷ vật'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://2.bp.blogspot.com/_4cnck3476DE/SPCtRtqlM_I/AAAAAAAAMMs/yzY-R14oND0/s72-c/70007133-7949sm.jpg' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-929992496130235913</id><published>2008-08-03T03:56:00.002+07:00</published><updated>2008-09-12T03:00:42.108+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chiến tranh Việt Nam'/><title type='text'>Tổng thống Thiệu cướp ngân khố quốc gia</title><content type='html'>&lt;span style="font-family:Arial;"&gt;
&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Trước sự tiến quân mạnh mẽ của quân đội Bắc Việt, Tổng thống Pháp lúc đó là Valery Giscard d’Estaing tỏ ra quá sốt ruột đã trực tiếp điện thoại cho Tổng thống Chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu để thúc giục “hòa hợp dân tộc”. &lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Tổng thống Valery Giscard d’Estaing không ngờ sự phản ứng của Thiệu lại hoàn toàn trái với sự chờ đợi và mong muốn của Pháp. Thiệu chẳng những không khuất phục trước sức ép từ phía Paris mà còn phản đối quyết liệt, ra lệnh ngừng mọi tiếp xúc của Chính quyền Sài Gòn với Pháp cho đến khi nào ông Valery Giscard d’Estaing rút lại lời nói của mình. Tình thế này hoàn toàn bất lợi cho Đại sứ Jean Marie Merillon vì không vào được Dinh Tổng thống thì làm sao mà thuyết phục được Thiệu từ chức để thành lập  một chính quyền phi cộng sản ở Nam Việt Nam? &lt;/p&gt; 
&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Để giành lại thế chủ động, Đại sứ Merillon áp dụng một chiến thuật mới nhưng ít hy vọng. Thông qua những người bạn Việt Nam và các mối quan hệ khác, Đại sứ Pháp loan truyền một tin thất thiệt rằng do sự chậm trễ của Thiệu, Hà Nội đã hết kiên nhẫn và quyết định tấn công thẳng vào Sài Gòn. Tin thất thiệt này nào ngờ lại gây nên sự hoảng loạn thực sự đối với Đại sứ quán Mỹ và Bộ chỉ huy tối cao quân đội Sài Gòn. Sau đó, Đại sứ Merillon thừa nhận với các sĩ quan CIA rằng chính ông đã bịa ra rồi gieo rắc cái tin thất thiệt nói trên. Mặc dù vậy, trò dại dột này vẫn để lại một hậu quả vô cùng tai hại. Mỗi khi có tin báo cho ĐSQ Mỹ về kế hoạch tấn công vào Sài Gòn của quân đội Bắc Việt, các chuyên gia xử lý tin lại lắc đầu nói rằng: “Chẳng qua lại chỉ là việc Pháp tung tin để dọa Thiệu ép ông ta từ chức thôi mà”.&lt;/p&gt; 
&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Tình hình ở Campuchia xấu đi nhanh chóng. Đại sứ quán Mỹ nhận được  điện từ Washington yêu cầu thực hiện một chương trình sơ tán đặc biệt dành cho một số người Mỹ và Việt Nam ra khỏi Sài Gòn cùng với các tài liệu quan trọng. Đại sứ Martin chỉ thị việc này phải giữ tuyệt đối bí mật để tránh gây ra tâm lý hoảng loạn. Những đối tượng được lựa chọn chở bằng máy bay ra nước ngoài trước hết gồm những người có quan hệ thân thiết với Mỹ, đặc biệt là những người trong số đó nhưng lại không có giấy xuất cảnh do Chính quyền Sài Gòn cấp hoặc nếu xuất cảnh công khai có thể gây tác động xấu đến tinh thần dân chúng. &lt;/p&gt; 
&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Chuyến máy bay đầu tiên rời Sài Gòn đi Thái Lan theo chương trình này bí mật nói trên chở 143 hành khách đặc biệt hầu hết là phụ nữ và trẻ em cùng với các nhân viên kỹ thuật do CIA đào tạo làm việc trong Bộ Quốc phòng của Thiệu. Ngoài ra một chiếc máy bay vận tải quân sự C–141 chở đầy tài liệu đã bí mật bay ra nước ngoài. Tưởng chương trình sơ tán sớm của Mỹ được giữ kín tuyệt đối, nào ngờ trong một bữa tiệc do vợ chồng cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm tổ chức ở nhà riêng tối 17/4, sau khi đã dùng đến món thứ 5 bà chủ nhà cổ đeo đầy đồ trang sức bỗng ôm mặt khóc nức nở. Tướng CIA Charles Timmes chưa kịp hiểu đầu đuôi ra sao thì bà Khiêm đã nói toáng lên rằng Mỹ đang bí mật di tản người của mình ra khỏi Sài Gòn. Bà xin phía Mỹ cho phép bản thân và gia đình bà cũng được di tản ngay. Trần Thiện Khiêm lúc đến bên Timmes nói rằng ít có khả năng Thiệu tự nguyện từ chức. Trong khi đó lại không có bằng chứng rõ ràng nào về việc Hà Nội thuận lòng thương lượng với tướng Dương Văn Minh. Còn tướng Kỳ thì lại đang dọa sẽ tổ chức một cuộc đảo chính lật đổ Thiệu. Vì thế, Khiêm hy vọng rằng khi tình huống xấu cần phải di tản xảy ra thì tướng Charles Timmes đừng quên “những người bạn” Việt Nam của mình.&lt;/p&gt; 

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Các tin thất bại từ chiến trường dồn dập báo về khiến Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đã bắt đầu cảm nhận thấy sự sụp đổ của Chính quyền Sài Gòn là khó tránh khỏi. Rạng sáng 18/4, lực lượng đặc công quân đội Bắc Việt đã tấn công trạm radar Phú Lâm ở ngoại ô Sài Gòn. Điều này chứng tỏ chiến tranh đã lan đến tận cửa ngõ thành phố. Chừng một giờ sau, tướng Nguyễn Văn Toàn chỉ huy quân khu 3 bay từ Biên Hòa vào để nói với Thiệu rằng trên thực tế quân đội Sài Gòn đã thua trận. Biên Hòa không thể giữ được quá 3 ngày nữa. Toàn cũng khẳng định rằng Phan Rang đã thất thủ và tướng Nguyễn Vĩnh Nghi đã bị quân giải phóng bắt. Một số binh lính quân đội Sài Gòn bại trận trong cơn tức giận và tuyệt vọng đã dùng xe ủi phá cả phần mộ tổ tiên Tổng thống Thiệu ở ngoại ô Phan Rang.&lt;/p&gt; 

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Cũng trong buổi sáng hôm đó, một nhóm người tự xưng là phe ôn hòa và đối lập liên hệ được với Tổng thống, cảnh báo rằng thời gian dành cho Thiệu đã hết. Những người này yêu cầu Thiệu từ chức trong vòng 6 ngày, nếu không sẽ phải trả giá đắt. Ngay sau đó, Thiệu ra lệnh bắt giam một số tướng lĩnh quân sự những người mà theo ông ta là phải chịu trách nhiệm cho sự thất bại của quân đội Sài Gòn vài tuần qua. Tướng Phạm Văn Phú đang bị ốm trong tình trạng gần hôn mê tại trung tâm chữa lao ở ngoại ô Sài Gòn cũng bị bắt tống giam. Tướng Ngô Quang Trưởng tuy chưa bị bắt nhưng bị coi là kẻ đồng phạm với Phú dẫn đến thất bại thảm hại. Sau này khi tướng CIA Timmes tới gặp Trưởng tại một quân y viện, vị  tư lệnh quân khu 1 ôm mặt khóc nức nở đổ lỗi cho Thiệu đã thay đổi kế hoạch hành quân luôn xoành xoạch dẫn đến việc mất quân khu 1.&lt;/p&gt; 

&lt;p class="pBody" align="justify"&gt;Ngay từ đầu tháng 4, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã linh cảm thấy điều chẳng lành sắp đến với mình. Sức ép từ nguy cơ bị đảo chính và sự tiến quân mạnh mẽ của quân đội Bắc Việt ngày càng tăng,Thiệu bắt đầu nghĩ tới việc tẩu tán tài sản của gia đình và biển thủ ngân khố quốc gia. Ngày 2 và 3/4, Thiệu chuyển phần lớn tiền, vàng, đồ dùng quí hiếm của gia đình sang Đài Loan và Canada. Nhưng còn 16 tấn vàng tương đương 220 triệu USD là phần lớn ngân khố quốc gia Chính quyền Sài Gòn thì vẫn chưa được “xuất cảnh”. Lúc đầu Thiệu định chuyển toàn bộ số vàng nói trên vào Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank of International Settlements) có trụ sở tại Basel (Thụy Sĩ) để sử dụng riêng. Tại ngân hàng này, Chính quyền Sài Gòn đã gửi số vàng lớn tương đương 5 triệu USD. Thiệu nói với cấp dưới của mình rằng đó là số vàng ký quĩ đối với các khoản vay để mua sắm thiết bị cho quân đội. Tuy nhiên, vài ngày trước khi việc giao dịch ngân hàng của vụ cướp ngân khố quốc gia này được hoàn tất, CIA trong ĐSQ Mỹ biết được ý đồ của Thiệu. Một nhân viên của Đại sứ Martin đã cố tình cung cấp thông tin về sự vụ ra cho báo chí. Khi dư luận rộ lên, Thiệu đành phải hủy kế hoạch ban đầu của mình đối với 16 tấn vàng. Các máy bay mà Thiệu đã đàm phán thuê chở số vàng nói trên ra nước ngoài đành phải hủy vì sợ dư luận. Đúng lúc đó, Đại sứ Mỹ Graham Martin quyết định vào cuộc. Ông Martin tìm đến Thiệu và gợi ý rằng thay vì chuyển số vàng nói trên sang Thụy Sĩ thì Tổng thống Thiệu hãy chuyển sang New York để gửi vào nhà băng Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve Bank of New York). Trong lúc bối rối, Thiệu đồng ý ngay gợi ý của Martin. Ngày 16/4, ĐSQ Mỹ tại Sài Gòn điện cho Washington đề nghị cho một chuyến bay quân sự đặc biệt sang Sài Gòn để chở 16 tấn vàng nói trên về New York. &lt;/p&gt; 

&lt;p&gt;Tổng thống Thiệu không phải là người duy nhất trong Chính quyền Sài Gòn tẩu tán sớm tài sản ra nước ngoài. Cùng trong ngày 16/4, cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm cũng đã chở gần như toàn bộ tài sản quí hiếm của gia đình ra nước ngoài. Còn Đại sứ của Chính quyền Sài Gòn tại Washington thì sau khi nghe tin Đà Nẵng thất thủ đã bảo vợ mình đi tìm mua nhà để cư trú lâu dài tại bang Maryland.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;span style="font-style: italic;"&gt;(Theo báo Tiền Phong và Hà Nội Mới)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-929992496130235913?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/929992496130235913/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=929992496130235913' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/929992496130235913'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/929992496130235913'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/08/tng-thng-thiu-cp-ngn-kh-quc-gia.html' title='Tổng thống Thiệu cướp ngân khố quốc gia'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-554634070172561230</id><published>2008-05-23T22:18:00.002+07:00</published><updated>2008-05-23T22:31:15.007+07:00</updated><title type='text'>55 năm nhìn lại vụ án Trần Dụ Châu</title><content type='html'>&lt;p align="justify"&gt;&lt;b&gt;&lt;p&gt;Vụ án Trần Dụ Châu là vụ án tham nhũng nổi tiếng những năm 50 của thế kỷ trước. Vụ này đã được nhà báo Hồng Hà viết trong loạt bài phóng sự điều tra đăng 6 kỳ liền, từ ngày 20/9/1950, trên báo Cứu Quốc, cơ quan tuyên truyền, cổ động, tranh đấu của Trung ương Mặt trận Liên Việt và Tổng bộ Việt Minh, xuất bản hàng ngày. Đây là một bài học về kiên quyết chống tham nhũng trong bất cứ thời kỳ nào.&lt;/p&gt;&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;                    &lt;p&gt;&lt;b&gt;Từ một viên thư ký toà sứ Pháp&lt;/b&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Mùa hè năm 1950, từ mặt trận đồng bằng sông Hồng, tôi trở về toà soạn báo Cứu Quốc. Cơ quan báo vừa dọn về xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc di chuyển mới này báo hiệu ta hoặc địch sắp có hoạt động quân sự lớn. Anh Xuân Thủy, Chủ nhiệm báo Cứu Quốc, giao ngay cho tôi đi lấy tài liệu viết về một vụ tham ô lớn. Đấy là vụ án Trần Dụ Châu, Đại tá, nguyên Giám đốc Nha Quân Nhu, đang ở giai đoạn điều tra, lấy lời khai.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Lúc này, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra nghị quyết chấn chỉnh tổ chức, kiện toàn bộ máy các cơ quan Bộ Quốc phòng – Tổng Tư lệnh. Sau đó, ngày 11/ 7/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh lập ba cơ quan : Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp. Các Nha trước đây đảm nhiệm việc sản xuất quân trang, quân dụng nay sáp nhập vào các Cục. Nha Quân Nhu sáp nhập vào Cục Quân Nhu trực thuộc Tổng cục Cung cấp, do đồng chí Trần Đăng Ninh, Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng, Trưởng ban Kiểm tra Trung ương, làm Chủ nhiệm Tổng cục.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Trần Dụ Châu ngồi khai trước các cơ quan pháp luật. Sinh năm 1906 tại một tỉnh miền Trung, Châu bước vào đời bằng đi làm thư ký toà sứ Pháp. Thấy Châu vừa đi làm, vừa viết báo “Thanh – Nghệ – Tĩnh”, e lộ chuyện công sở, toà sứ cho Châu thôi việc. Châu chuyển sang làm nhân viên quận Hoả xa Bắc Trung Kỳ. &lt;/p&gt; &lt;p&gt;Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương tháng 3/1945, Châu được cử làm Trưởng phòng Kế toán Hoả xa Bắc Trung Kỳ. Nhờ quen biết người Nhật Bản, Châu lấy được một kho vải ở huyện Đức Phong, bán đi có tiền tậu một biệt thự ở Đà Lạt.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Cách mạng Tháng Tám năm 1945 bùng nổ, Châu hiến cho Nhà nước một phần tài sản của mình, rồi hoạt động trong Uỷ ban Công sở Nha Hoả xa Việt Nam và Hội Công nhân Cứu quốc Hoả xa. Ngày toàn quốc kháng chiến, Châu ra Bắc, được giao việc chạy một kho hàng lớn hơn ngàn tấn gạo, muối ở Vân Đình, Hà Đông, đưa lên Việt Bắc cho bộ đội.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Là người tháo vát, năng động, có đầu óc kinh doanh, Châu được vào làm ở Cục Quân Nhu. Sau một thời gian làm tốt việc cung cấp lương thực, trang bị cho bộ đội, Châu được phong tặng quân hàm Đại tá, làm giám đốc Nha Quân Nhu. Lúc đó, Cục Quân Nhu chỉ phụ trách việc quản lý, quản trị, còn Nha Quân Nhu mới có nhiệm vụ trực tiếp sản xuất quân trang, quân dụng. Có địa vị cao, quyền hành rộng, nắm trong tay hàng trăm triệu đồng, cơ chế kiểm tra, kiểm soát lại lỏng lẻo, không biết tự kiềm chế, Châu đi dần vào con đường sa ngã.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Châu lấy cắp của công quỹ một số tiền lớn : 57.959 đồng Việt &lt;st1:country-region st="on"&gt;Nam&lt;/st1:country-region&gt;, 149 đôla Mỹ, các tài sản khác trị giá 143.900 đồng Việt &lt;st1:place st="on"&gt;&lt;st1:country-region st="on"&gt;Nam&lt;/st1:country-region&gt;&lt;/st1:place&gt;. Giá gạo ở Thái Nguyên – Bắc Cạn năm 1950 là 50 đồng/một kg, còn chiến sĩ ta mỗi ngày chỉ được cấp vài lạng gạo và hơn 10 đồng tiền thức ăn. Ngoài ra, Châu còn nhận hối lộ khá nhiều tiền, chuyên quyền, độc đoán, sống sa đoạ, đồi truỵ. Uỷ ban Tiếp liệu Thu - Đông 49, các kho số 1, 4, 10 thường xuyên nộp cho Châu tiền tiêu, rượu, đồ hộp, hải sản khô, thuốc lá, quần áo, chăn len... Tuyển người, thải người theo sở thích cá nhân, vung tiền bao gái; có lần dùng ôtô công đưa gái đi chơi ở Bắc Cạn. Châu dan díu với một nữ nhân viên xinh đẹp, bổ nhiệm làm “bí thư văn phòng” của Nha, làm việc cùng buồng, ăn ở cùng nhà với Châu. Các cán bộ điều tra có trong tay cuốn nhật ký của nữ “bí thư văn phòng” cùng gần 100 kiểu ảnh lãng mạn chụp với Châu. Giữa lúc nữ bí thư đi dự lớp huấn luyện thì Châu đưa từ Phú Thọ về cơ quan một cô gái giới thiệu là em nuôi, suốt ngày ở trong buồng riêng của Châu. Nữ bí thư từ lớp học về bất chợt bắt gặp và đã xảy ra một cuộc đánh ghen ầm ĩ.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Tiếng tăm ăn chơi của Châu nổi như cồn ở Hanh Cù, Phú Thọ, một thị trấn sầm uất, tối đến cả đường phố dài rực sáng ánh đèn măng sông, với nhiều hiệu ăn sang trọng và cửa hàng đầy ắp hàng tiêu dùng nước ngoài. Mỗi lần về công tác ở Liên khu 10, gồm các tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang..., Châu đều đưa bạn bè đến chè chén ở đây, nhất là ở nhà hàng Ba Đình. Cũng tại thị trấn này, Châu tổ chức đám cưới cho Bùi Minh Trân, Trưởng ban Mậu dịch của Quân giới liên khu Việt Bắc, tiêu tốn hàng vạn đồng. Báo Cứu Quốc đã có bài phê bình kịch liệt đám cưới này mà nhân dân Phú Thọ thì nói rằng “đã làm váng đục cả một khúc sông Thao”. Chính từ thị trấn Hanh Cù, đã bắt đầu có những bức thư tố cáo Trần Dụ Châu gửi đến các cơ quan có liên quan.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;b&gt;Thầy nào trò nấy&lt;/b&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Tay chân đắc lực nhất của Châu là Lê Sỹ Cửu, sinh tại một tỉnh miền Trung, kém Châu 10 tuổi. Cửu mồ côi cha mẹ từ năm 8 tuổi. Năm 12 tuổi, hắn ra Móng Cái, đi làm cho một nhà buôn Hoa Kiều; lớn lên tham gia buôn thuốc phiện lậu trên đường Móng Cái – Hải Phòng. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Cửu trở về miền Trung, vào làm công an, nhưng được ít lâu thì bị đuổi, liền quay ra Bắc. Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Cửu gặp và được Châu giới thiệu vào làm ở Ban Vận tải quân giới. Một thời gian sau, lại bị đuổi việc, Cửu lần mò lên Cao Bằng kiếm ăn. Tại đây, tháng 8/1947, gặp lại Châu, Cửu được Châu đưa vào Cục Quân Nhu, làm nhân viên tiếp liệu ở Cao Bằng. Vừa xa Nhà, vừa được Châu che chở, Cửu lộng hành làm bậy, lấy cắp tiền công, ăn tiêu bừa bãi, thường xuyên lui tới các nhà hàng, tiệm hút vùng Cao Bằng.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Nghe được nhiều tiếng xấu về Cửu, Châu vội rút Cửu về Nha, lập ra một tổ chức mới gọi là “Ban Thế phẩm Đay” giao cho Cửu làm trưởng ban. Châu tuyên truyền ầm ĩ rằng, Ban này lo các đồ mặc mùa đông cho bộ đội, từ nay các chiến sĩ ta không phải lo đến cái rét ở rừng núi nữa. Nhưng đây chỉ là một mánh khoé tham ô của Châu : lấy ba phần tư số tiền cấp trên phát cho Ban Thế phẩm Đay, Châu giao cho Cửu đi buôn lậu.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Lê Sĩ Cửu khai trước Ban Kiểm tra của Bộ Quốc phòng : Mỗi khi đi mua vải về cho Ban Thế phẩm, Cửu cho tăng giá thêm từ 20 đến 25 đồng mỗi tấm để lấy tiền đút túi. Trong một chuyến mua vải mộc và vải diềm bâu, Cửu lấy được 50 vạn đồng. Khi xuất kho vải giao cho cơ sở nhuộm, Cửu chỉ tính số tấm, không tính số vuông; cho xẻ đôi những tấm vải dài để nhuộm, khi nhận về kho số vải đã nhuộm, dôi ra 1.225 tấm vải, bỏ túi riêng được 66 vạn đồng. Người bán vải giao hàng tận kho, không tính tiền vận chuyển, nhưng Cửu lại tính với Ban phải trả phí vận chuyển. Khi nhà thầu lĩnh hàng thì phải cung cấp đầy đủ khuy cúc, nhưng Cửu tính với Ban tiền khuy cúc riêng. Với hai thủ đoạn trên, Cửu cũng lấy được 4 vạn đồng.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Cửu cho khắc một con dấu giống dấu của Nha quân nhu để cấp cho một số người buôn lậu, mỗi lần được 2 vạn đồng. Cửu giàu lên nhanh chóng, ăn chơi sa đoạ, sắm được một chiếc thuyền đẹp để gia đình du ngoạn và tổ chức những cuộc dạ hội trên sông. Cửu hối lộ đều đặn theo từng vụ cho Châu, tổng cộng khoảng 40 vạn đồng và nhiều tài sản có giá trị.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Trong Nha, cán bộ nhân viên gọi Châu là “Châu Hổ”, sợ Châu như cọp. Một số cán bộ, đảng viên trong Nha không chịu  để Châu lôi kéo, đã mạnh dạn phê bình Châu. Có người do nói thẳng đã bị Châu đẩy khỏi cơ quan. Những điều tiếng xấu về Châu ngày càng nhiều. Châu gọi đó là “những câu chuyện hàm hồ, soi mói vì ghen ghét”. Tối ngày 27/5/1950, Châu gọi một nhân viên tay sai đến nhà, cho uống rượu, ăn cơm. Rồi Châu đọc cho nhân viên đó viết một bức thư gửi Đại tướng Tổng Tư Lệnh, báo cáo rằng “trong Nha Quân Nhu có một tổ chức gây chia rẽ và phá hoại quân đội ta”.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Nghe tin Cửu bị bắt, Châu chạy đến Cục Quân pháp để “minh oan”, xin cho Cửu tự do. Châu còn báo cáo với Bộ Quốc phòng: “Tôi xin cam đoan nhân viên Lê Sĩ Cửu không ăn cắp một xu nhỏ”. Bộ bác đơn của Châu.--PageBreak--&lt;/p&gt; &lt;p&gt;&lt;b&gt;Quân pháp nghiêm minh&lt;/b&gt;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Lê Sĩ Cửu tiếp tục khai với Ban Kiểm tra:&lt;/p&gt; &lt;p&gt;- Những tội lỗi của tôi kể trên một phần do đại tá Châu xúi dục. Sở dĩ tôi làm như vậy vì tôi yên trí rằng đã có đại tá Châu bênh vực, mọi việc không sợ gì cả!&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Đến lượt Trần Dụ Châu cũng thú nhận trước Ban Kiểm tra:&lt;/p&gt; &lt;p&gt;- Tôi quả là người không liêm khiết.
Cán bộ kiểm tra hỏi Châu:
- Đã lấy của Lê Sĩ Cửu những gì ?
Châu trả lời:
- Tôi lấy nhiều lắm, không thể nhớ là bao nhiêu. Nhưng lần nào Cửu đến tôi thì cũng có ít nhiều tiền đưa tôi.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Ngày 5/9/1950, tại thị xã Thái Nguyên, Toà án binh tối cao mở phiên toà đặc biệt xử vụ Trần Dụ Châu. Còn lâu mới tới giờ khai mạc mà trong và ngoài toà đã chật ních người. Cửa vào phòng xử án có một bảng khẩu hiệu: “Nêu cao ánh sáng công lý trong quân đội”. Trong phòng xử, trên tường đối diện nhau có hai khẩu hiệu: “Quân pháp vô thân” và “Trừng trị để giáo huấn”. Đúng 8 giờ, đại diện Chính phủ, quân đội và Toà án binh tối cao tới, đi giữa hàng rào bộ đội bồng súng.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Thiếu tướng Chu Văn Tấn ngồi ghế chánh án giữa hai ông hội thẩm viên Phạm Học Hải, giám đốc Tư pháp Liên Khu Việt Bắc và Trần Tấn, Phó cục trưởng Cục Quân Nhu. Thiếu tướng Trần Tử Bình, đại diện Chính phủ, ngồi ghế Công cáo uỷ viên. Tới dự phiên toà còn có các ông: Nguyễn Khang, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến hành chính Liên khu Việt Bắc; Võ Dương, Liên Khu Hội trưởng Liên Việt Liên khu Việt Bắc; Đỗ Xuân Dung, giám đốc Công chính Liên khu Việt Bắc; bác sĩ Vũ Văn Cẩn, đại biểu quân đội, đại diện các đoàn thể nhân dân và các nhà báo.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Tiếng gọi các bị cáo vang trong phòng họp. Bị cáo Lê Sĩ Cửu vắng mặt vì ốm nặng. Thiếu tướng chánh án hỏi các bị cáo. Trần Dụ Châu bước ra trước vành móng ngựa, nói nhiều về những công lao và thành tích cách mạng của mình, cho rằng do nhân viên làm bậy là chính mà mình không kiểm soát được.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Thiếu tướng Công cáo uỷ viên, đại diện Chính phủ, đứng lên đọc bản cáo trạng:&lt;/p&gt; &lt;p&gt;“Thưa toà, thưa các vị,&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Trong tình thế ta gấp rút chuẩn bị Tổng phản công, mọi người đang nai lưng buộc bụng tích cực phục vụ kháng chiến trước tiền tuyến, quân đội ta đang hy sinh để đánh trận căn bản mở màn cho chiến dịch mới, thì tôi thiết tưởng mà cũng là lời yêu cầu Toà dùng những luật hình sẵn có để xử Trần Dụ Châu và theo chỉ thị căn bản của vị Cha già dân tộc là cán bộ phải cần kiêm liêm chính. Việc phạm pháp của Trần Dụ Châu xảy ra trong không gian là Việt Bắc, nơi thai nghén nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đã làm vẩn đục thủ đô kháng chiến...&lt;/p&gt; &lt;p&gt;... Để đền nợ cho quân đội; để làm gương cho cán bộ và nhân dân; để cảnh tỉnh những kẻ đang miệt mài nghĩ những phương kế xoay tiền của Chính phủ; để xử tử vắng mặt những lũ bầy ra mưu nọ kế kia, lừa trên bịp dưới; để trừ hết loài mọt quỹ, tham ô dâm đãng; để làm bài học cho những ai đang trục lợi kháng chiến, đang cậy quyền, cậy thế để loè bịp nhân dân;&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Bản án mà toà sắp tuyên bố đây phải là một bài học đạo đức cách mạng cho mọi người; nó sẽ làm cho lòng công phẫn của nhân dân được thoả mãn, làm cho nhân dân thêm tin tưởng, nỗ lực, hy sinh cho cuộc toàn thắng của nước nhà.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Vì vậy, tôi yêu cầu toà xử phạt:&lt;/p&gt; &lt;p&gt;1- Trần Dụ Châu: tử hình
2- Tịch thu ba phần tư tài sản
3- Tịch thu những tang vật hối lộ trái phép
4- Phạt tiền gấp đôi những tang vật hối lộ và biển thủ”.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Trần Dụ Châu tái mặt, cất giọng yếu ớt xin toà tha thứ. Thiếu tướng chánh án tuyên bố toà nghỉ để họp kín.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;15 phút sau, toà trở ra tiếp tục họp. Thiếu tướng Trần Tử Bình đọc công lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh tước quân hàm đại tá của Trần Dụ Châu.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Thiếu tướng chánh án đứng lên tuyên án:&lt;/p&gt; &lt;p&gt;- Trần Dụ Châu can tội biển thủ công quỹ, nhận hối lộ, phá hoại công cuộc kháng chiến: tử hình; tịch thu ba phần tư tài sản.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;- Lê Sĩ Cửu can tội biển thủ công quỹ, thông đồng với bọn buôn lậu, giả mạo giấy tờ; tử hình vắng mặt.&lt;/p&gt; &lt;p&gt;Hai chiến sĩ công an dẫn Châu rời nơi xử án trở về nhà giam. 6 giờ chiều hôm sau, Trần Dụ Châu được đưa ra trường bắn trước sự có mặt của đại diện Bộ Tư pháp, Nha Công an, Cục Quân nhu và một số cơ quan khác. Một cán bộ đọc to bức công điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh bác đơn xin giảm tội của Châu...&lt;/p&gt; &lt;p&gt;11 ngày sau, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ quân nhu tận tuỵ và anh dũng của chúng ta đã kịp thời đưa ra mặt trận hàng nghìn tấn lương thực, thực phẩm, quân trang… phục vụ tốt trận đánh tiêu diệt địch ở Đông Khê, mở đầu chiến dịch quy mô lớn và dài ngày giải phóng biên giới&lt;/p&gt;&lt;p class="MsoNormal" style="margin: 0cm 0cm 0pt;" align="center"&gt;&lt;strong&gt;Nhân vụ án Trần Dụ Châu&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class="MsoNormal" style="margin: 0cm 0cm 0pt;" align="center"&gt;&lt;strong&gt;(Xã luận báo Cứu quốc ngày 27/9/1950)&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;p class="MsoNormal" style="margin: 0cm 0cm 0pt;"&gt;Trần Dụ Châu, nguyên Giám đốc Nha Quân nhu can tội ăn cắp công quỹ làm nhiều điều bỉ ổi đã bị đưa ra trước Tòa án binh tối cao. Ngay ngày hôm sau, tên phản bội quyền lợi nhân dân ấy đã bị bắn để đền tội của y. &lt;/p&gt; &lt;p class="MsoNormal" style="margin: 0cm 0cm 0pt;"&gt;Trong tình thế kháng chiến và trong giai đoạn quyết liệt hiện nay, vụ án Trần Dụ Châu có một ý nghĩa lớn lao. Nó làm toàn thể nhân dân bằng lòng và thêm tin tưởng ở chính quyền và đoàn thể nhân dân. Nhân dân đã thấy rõ: Chính quyền và đoàn thể không bao giờ dung túng một cán bộ nào làm bậy, dù cán bộ cao cấp đến đâu đi nữa. Vụ án này còn làm vui lòng tất cả những cán bộ Quân nhu ngay thẳng, chí công vô tư, đã không để Trần Dụ Châu lôi cuốn.&lt;/p&gt; &lt;p class="MsoNormal" style="margin: 0cm 0cm 0pt;"&gt;Nó đã cho chính quyền và đoàn thể ta nhiều kinh nghiệm trong việc dùng cán bộ, giáo dục và kiểm soát cán bộ. &lt;/p&gt; &lt;p class="MsoNormal" style="margin: 0cm 0cm 0pt;"&gt;Có người e ngại: Chúng ta mở toang vụ án này, công khai vạch rõ nhưng tội lỗi nhơ bẩn của Trần Dụ Châu và bè lũ có thể làm một số dân chúng chê trách, hay kẻ địch bám vào đấy để nói xấu chính quyền, đoàn thể ta. Không! Chúng ta không sợ phê bình và tự phê bình những khuyết điểm của ta. Chúng ta khác bọn phản động và hơn hẳn chúng ở chỗ đó. Đấy là một sự khuyến khích nhân dân thẳng thắn, phê bình những sai lầm của cán bộ, của Chính quyền, đoàn thể vì họ đã hiểu chính quyền, đoàn thể ta là chính quyền, đoàn thể của họ và họ nhất định không tha thứ những kẻ nào đi ngược quyền lợi của họ. &lt;/p&gt; &lt;p class="MsoNormal" style="margin: 0cm 0cm 0pt;"&gt;Cái chết nhục nhã của Trần Dụ Châu còn là một lời cảnh cáo những kẻ lén lút đang tính chuyện đục khoét công quỹ của Chính phủ, trục lợi của nhân dân. Tất cả những bọn ấy hãy coi chừng dư luận sắc bén của quần chúng và luật pháp nghiêm khắc của Nhà nước nhân dân!&lt;/p&gt; &lt;p class="MsoNormal" style="margin: 0cm 0cm 0pt;"&gt;Chúng ta phải thẳng tay vạch mặt và trừng trị những bọn ấy, những kẻ tham ô, hoang phí, những kẻ mưu sống phè phỡn trên mồ hôi nước mắt người khác, để tiến tới xây dựng một nền tảng chính quyền nhân dân thật vững vàng. &lt;/p&gt; &lt;p class="MsoNormal" style="margin: 0cm 0cm 0pt;"&gt;Đây không phải là việc riêng của Chính phủ, của đoàn thể mà đấy là bổn phận của tầng lớp đông đảo quần chúng nhân dân chúng ta”&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-554634070172561230?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/554634070172561230/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=554634070172561230' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/554634070172561230'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/554634070172561230'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/05/55-nm-nhn-li-v-n-trn-d-chu.html' title='55 năm nhìn lại vụ án Trần Dụ Châu'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-192677727393669132</id><published>2008-05-18T07:29:00.000+07:00</published><updated>2008-05-18T07:34:55.943+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Quân sự'/><title type='text'>Ông thượng tá "mê" kể chuyện Bác Hồ</title><content type='html'>&lt;img src="http://www.baovanhoa.vn/upload/20080305/412hai.jpg" style="position: relative; z-index: 1;" align="left" border="0" hspace="5" vspace="5" width="200" /&gt;    &lt;span class="tomtat"&gt; (VH)- Từ làm ban giám khảo cuộc thi nội bộ Vùng, rồi lại cùng hai thí sinh của mình đi thi kể chuyện tấm gương đạo đức HCM ở cấp toàn quân chủng, đó là thượng tá Nguyễn Quốc Văn- Phó chủ nhiệm chính trị Vùng A Hải Quân. &lt;/span&gt;      &lt;p align="justify"&gt;    &lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Từ Ban giám khảo trở thành thí sinh&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;p align="justify"&gt;Chuyến đi dài ngày thăm các đảo phía Đông Bắc tổ quốc của đoàn cán bộ, quân dân Vùng A Hải quân lúc nào cũng vui vẻ, rôm rả nhờ những chuyện hài hước. Người kể chuyện ngụ ngôn, người kể chuyện cười dân gian..., cả đoàn hôm nào cũng được “thưởng thức” những tiếng cười làm quên đi nỗi lo say sóng. Người thường khơi mào cho những cuộc kể chuyện  là thượng tá Nguyễn Quốc Văn. Mãi về cuối chuyến đi, hỏi ra chúng tôi mới biết ông là một trong ba đại diện của Vùng A Hải quân đi thi “Báo cáo viên giỏi và kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” toàn quân chủng năm 2007.&lt;/p&gt; &lt;p align="justify"&gt;Ngay sau khi nhận Chỉ thị của Thường vụ ĐUQS TW, từ cuối tháng 1 năm 2007 Vùng A Hải Quân đã triển khai thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chức Minh” trong toàn vùng. Tại các cuộc thi ở các đơn vị Vùng, thượng tá Nguyễn Quốc Văn không ít lần được mời làm Ban giám khảo. Anh Văn tâm sự: “Những câu chuyện về Bác Hồ mình đã biết ít nhiều. Nhưng qua những lần nghe các chiến sĩ, quân dân Hải Quân kể lại mình vẫn thấy xúc động. Sau những lần như thế, những câu chuyện về Bác cứ ngấm dần trong tôi”.&lt;/p&gt; &lt;p align="justify"&gt;Khi toàn quân chủng tổ chức thi “Báo cáo viên giỏi và kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thượng tá Nguyễn Quốc Văn được cử đi thi cùng với thượng tá Nguyễn Chánh Hưng - Chủ nhiệm Lữ đoàn 170 và thượng uý Nguyễn Hữu Hạnh – Chính trị viên tàu HQ 209 - Hải đội 137. &lt;/p&gt; &lt;p align="justify"&gt;Ngại lắm, nhưng đấy là nhiệm vụ cấp trên giao cho nên “vị giám khảo” Nguyễn Quốc Văn vẫn “lều chõng” lên đường đi thi. Nên nhớ, đây là 3 thí sinh được lựa chọn từ hội thi kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với 45 lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia trên toàn Vùng. Anh Văn lại là “thí sinh đặc biệt”, chỉ làm Ban giám khảo chứ chưa từng kinh qua ứng thi ở cấp cơ sở. Chẳng ngờ, những câu chuyện đầy chiêm nghiệm và cảm động của ông thượng tá mê kể chuyện Bác Hồ được Ban giám khảo ghi nhận với giải Ba toàn quân chủng. &lt;/p&gt; &lt;p align="justify"&gt;&lt;strong&gt;Hai câu chuyện nhớ mãi về Bác Hồ&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt; &lt;p align="justify"&gt;Đến bây giờ, thượng tá Nguyễn Quốc Văn vẫn nhớ như in hai câu chuyện mình kể về Bác Hồ. Anh Văn trầm giọng: “Một lần Bác về Phát Diệm – Ninh Bình, lãnh đạo địa phương tổ chức ăn cơm khá chu đáo. Bác dặn anh em cứ việc ăn cơm còn Bác nhờ một anh bộ đội đi mua bánh giò rồi tranh thủ thời gian, Bác ra nói chuyện với quân dân công giáo. Trên đường về Hà Nội, Bác tranh thủ ăn bánh giò trên xe...” Theo anh Văn cho biết, cuộc thi toàn quân chủng có tới 3 bàn thi, mỗi bàn 3 giám khảo. &lt;/p&gt; &lt;p align="justify"&gt;Không chỉ là kể lại một câu chuyện về Bác Hồ mà quan trọng hơn là mỗi người phải biết diễn thuyết, liên hệ với thực tế cuộc sống ngày hôm nay. Chẳng hạn, trong câu chuyện kể trên, anh Văn rất tâm đắc ý tứ tế nhị nhưng sâu sắc của Bác Hồ, vừa có ý nhắc địa phương phải biết cần kiệm, không nên bày biện, lại vừa tỏ rõ Bác là người rất biết quý thời gian. &lt;/p&gt; &lt;p align="justify"&gt;Câu chuyện thứ hai anh Văn kể lại nói về bệnh chuộng hình thức tưởng đã muôn năm cũ nhưng vẫn còn nóng hổi trong cuộc sống ngày nay. Chuyện này anh Văn đi thẳng vào vấn đề: “Vừa rồi tôi nghe các chiến sĩ trẻ nói chuyện với nhau, Bác Hồ là lãnh tụ thiên tài, người đời sau khó học được. &lt;/p&gt; &lt;p align="justify"&gt;Tôi phản đề ngay, phẩm chất của Bác khó nhưng lại dễ vì gần gũi với cuộc sống, cao cả nhưng không xa lạ với từng con người... Chẳng hạn, một lần Bác về thăm HTX Hợp Thành - Nghệ An. Uỷ ban xã bố trí bàn ghế tươm tất ở một nhà gần Uỷ ban để đón Bác. Thế nhưng Bác lại vào thăm những nhà nghèo khổ. Bác nhắc các đồng chí lãnh đạo xã: “Làm cán bộ cách mạng nên chăm lo đời sống nhân dân, không nên chạy theo thành tích, hình thức”.&lt;/p&gt; &lt;p align="justify"&gt;Nếu không có gì thay đổi, tháng 8.2008 thượng tá Nguyễn Quốc Văn sẽ tiếp tục được ngồi vào ghế Ban giám khảo cuộc thi “Bác Hồ với thanh niên, thanh niên với Bác Hồ” do Đoàn TNCS HCM Vùng A Hải quân tổ chức từ cấp Chi đoàn đến cấp Liên chi đoàn. Anh Văn bảo, lại thêm một lần ngấm dần tấm gương đạo đức của Bác. Nói rồi, ông thượng tá mê kể chuyện Bác Hồ lại đọc như in lời dặn của Bác trong một lần về thăm chiến sĩ, quân dân Hải Quân: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp. Ta phải biết giữ gìn lấy nó”.&lt;/p&gt; &lt;p align="justify"&gt;Từ làm ban giám khảo cuộc thi nội bộ Vùng, rồi lại cùng hai thí sinh của mình đi thi kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở cấp toàn quân chủng, đó là thượng tá Nguyễn Quốc Văn – Phó chủ nhiệm chính trị Vùng A Hải Quân.&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-192677727393669132?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/192677727393669132/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=192677727393669132' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/192677727393669132'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/192677727393669132'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/05/ng-thng-t-m-k-chuyn-bc-h.html' title='Ông thượng tá &quot;mê&quot; kể chuyện Bác Hồ'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-3073102779549606251</id><published>2008-05-16T22:05:00.002+07:00</published><updated>2008-05-16T22:11:13.416+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Việt Nam'/><title type='text'>Uy tín của tướng Võ Nguyên Giáp</title><content type='html'>&lt;div class="storytext"&gt;&lt;b&gt;Đối với người phương Tây, Võ Nguyên Giáp có lẽ là một hiện tượng đặc biệt trong quân sự thế giới. Ông là vị tướng châu Á được                      các sử gia và nhà bình luận quân sự phương Tây nhắc đến nhiều nhất từ sau Thế chiến II. &lt;/b&gt;&lt;/div&gt;                                              &lt;table align="right" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="208"&gt;                   &lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;                      &lt;td rowspan="2" bgcolor="#ffffff"&gt;&lt;img src="http://www.bbc.co.uk/f/t.gif" alt="" border="0" height="1" width="5" /&gt;&lt;/td&gt;                      &lt;td&gt;                         &lt;div&gt;&lt;img src="http://www.bbc.co.uk/worldservice/images/2006/05/20060504122541vonguyengiap.jpg" alt="Đại tướng Võ Nguyên Giáp" height="220" width="203" /&gt;&lt;/div&gt;                      &lt;/td&gt;                   &lt;/tr&gt;                   &lt;tr&gt;                      &lt;td class="caption"&gt;Đại tướng Võ Nguyên Giáp&lt;/td&gt;                   &lt;/tr&gt;                &lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;                &lt;!-- st_story --&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Người ta nhắc đến ông không phải vì ông là đồng minh của các lực lượng quân sự phương Tây mà là người đã đánh bại hai thế                   lực quân sự hùng cường nhất thế giới vào thời điểm ông là người chỉ huy quân sự.                 &lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Một vinh hạnh không kém là ông được sự quí trọng của hai vị tướng tài ba của quân đội Pháp và Mỹ, đối thủ của ông. Đó là Raoul Salan, tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương 1951-1953, và William Westmoreland, người chỉ quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam từ 1968 đến 1972. &lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;                   &lt;!-- end_story --&gt;&lt;b&gt;Nhìn từ sử sách&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Không biết đã có bao nhiêu sách báo và tài liệu quân sự viết về Võ Nguyên Giáp, hay chính ông viết ra và được dịch sang các                   thứ tiếng nước ngoài, phổ biến rộng rãi trong các tiệm sách và thư viện.                 &lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Những sách viết về Võ Nguyên Giáp, được xuất bản tại Pháp, phần lớn do những nhà văn, nhà báo không nhiều thì ít có liên quan                   đến phong trào cộng sản.
&lt;/p&gt;&lt;div id="quotebox"&gt;                      &lt;table id="inlinebox" align="right" bgcolor="#e3edf7" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="208"&gt;                         &lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;                            &lt;td bgcolor="#ffffff"&gt;&lt;img src="http://www.bbc.co.uk/f/t.gif" alt="" border="0" height="1" width="5" /&gt;&lt;/td&gt;                            &lt;td&gt;                               &lt;div class="inlineboxquote"&gt;&lt;img alt="" src="http://www.bbc.co.uk/worldservice/images/furniture/800_left_quote.gif" border="0" height="13" width="18" /&gt; Tướng Giáp tỏ ra có một tài năng vĩ đại trong việc nhìn nhận mặt mạnh nhất của kẻ thù để khai thác nó                                  như mặt yếu nhất
&lt;img alt="" src="http://www.bbc.co.uk/worldservice/images/furniture/800_right_quote.gif" align="right" border="0" height="13" width="18" /&gt;&lt;/div&gt;                               &lt;div class="six"&gt; &lt;/div&gt;                               &lt;div class="inlineboxauthor"&gt;Jonn Colvin trong cuốn 'Giap Volcano under Snow'&lt;/div&gt;                            &lt;/td&gt;                         &lt;/tr&gt;                      &lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;                   &lt;/div&gt;                                &lt;p class="storytext"&gt;Những tác giả này đã hết lời ca ngợi Võ Nguyên Giáp và so sánh ông với những thiên tài quân sự nổi tiếng trên thế giới như với Thomas Edward Lawrence, được biết nhiều dưới tên Lawrence d'Arabie, người đã chinh phục cả lục địa phía đông châu Phi, hay với Ernesto Che Guevara, nhà cách mạng cộng sản Trung Mỹ rất được giới trẻ thiên tả châu Âu ngưỡng mộ. &lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Nhiều người còn ví thiên tài quân sự của Võ Nguyên Giáp với Karl von Clausewitz, nhà chiến lược quân sự người Phổ đầu thế                   kỷ 19.                &lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Các sử gia và dư luận phương Tây nể trọng tướng Võ Nguyên Giáp vì ông là vị tướng "không tốt nghiệp một trường võ bị nào và không bắt đầu sự nghiệp quân sự bằng một chức vụ sĩ quan" đã đánh bại quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ (1954) và gây khó khăn cho quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam trong suốt thời kỳ 1964-1972, tức thời điểm quân đội Hoa Kỳ có mặt đông đảo nhất tại miền Nam Việt Nam. &lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;&lt;b&gt;Đường tới Điện Biên&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất, các sử gia Pháp thường xuyên nhắc nhở đến Võ Nguyên Giáp trong giai đoạn 1946, khi quân Pháp vừa trở lại Việt Nam và đã có những cuộc gặp gỡ với ban tham mưu của Hồ Chí Minh. Tất cả đều lấy làm tiếc cuộc thương lượng với phe Việt Minh, do đảng cộng sản Việt Nam chỉ đạo, khiến đã xảy ra cuộc chiến khốc liệt tại Đông Dương từ 1946 đến 1954. Thật ra lúc đó chính quyền thuộc địa Pháp không đánh giá cao khả năng quân sự của phe Việt Minh thời đó. &lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Vào thời điểm 1946, lực lượng quân sự của phe Việt Minh do Võ Nguyên Giáp chỉ huy chỉ có khoảng 40 chi đội với trên dưới 50.000 dân quân du kích, thiếu trang bị và huấn luyện. Phải chờ đến 1949, phe Việt Minh mới có được bốn đại đội bộ binh được trang bị súng máy và súng cối. Lực lượng quân sự của Võ Nguyên Giáp chỉ được trang bị dồi dào từ sau 1950, khi phe cộng sản Trung Quốc do Mao Trạch Đông lãnh đạo đánh bại phe Quốc Dân Đảng, do Tưởng Giới Thạch cầm đầu, và chiếm Hoa lục.
&lt;table align="right" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="208"&gt;                      &lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;                         &lt;td rowspan="2" bgcolor="#ffffff"&gt;&lt;img src="http://www.bbc.co.uk/f/t.gif" alt="" border="0" height="1" width="5" /&gt;&lt;/td&gt;                         &lt;td&gt;                            &lt;div&gt;&lt;img src="http://www.bbc.co.uk/worldservice/images/2008/05/20080507100444dienbien203.gif" alt="" height="152" width="203" /&gt;&lt;/div&gt;                         &lt;/td&gt;                      &lt;/tr&gt;                      &lt;tr&gt;                         &lt;td class="caption"&gt;Chiến thắng Điện Biên ngày 7.05.1954 đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương&lt;/td&gt;                      &lt;/tr&gt;                   &lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;                &lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Kể từ sau 1949, khi phe Việt Minh bắt đầu gây nhiều thiệt hại cho quân đội viễn chinh Pháp trên Đường số 4 và khu Việt Bắc, tên tuổi Võ Nguyên Giáp mới được nhắc nhở đến nhiều. Những vị tướng tài ba của Pháp như Revers, Navarre với những lực lượng quân sự chuyên nghiệp được trang bị đầy đủ như Lực lượng Viễn chinh, Lê Dương, Nhảy Dù... (Corps Expéditionnaire, Légion Étrangère, Bataillons Étrangers Parachutistes) đã không ngăn chặn được sự bành trướng của những người lính nông dân do Võ Nguyên Giáp cầm đầu. &lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Sau này giới quân sự Pháp thường nhắc nhở tới những mưu chước dụ dỗ quân đội của Võ Nguyên Giáp vào bẫy để tiêu diệt như tại Đông Khê, Đường số 4, nhưng không được. Ngược lại, chính quân đội Pháp chịu nhiều thiệt hại và đã phải rút lui khỏi các địa điểm chiến lược trên vùng Trung Du. &lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Trước sự lớn mạnh của phe Việt Minh, giới quân sự Pháp quyết định mở ra một địa bàn chiến lược khác tại khu lòng chảo Điện Biên Phủ để dụ quân Việt Minh vào tròng để tiêu diệt. Ý đồ này đã được các chiến lược gia và tướng lãnh Pháp nghiên cứu tỉ mỉ. Cũng nên biết vào thời điểm này phe Việt Minh đã chiếm gần như toàn bộ khu vực Trung và Nam Lào, nếu ngăn chặn được đường tiếp tế của phe Việt Minh tại Điện Biên Phủ thì Pháp sẽ triệt hạ dễ dàng lực lượng Việt Minh tại Lào. Với nhận định như thế, bộ chỉ huy quân đội Pháp tại Đông Dương dồn nỗ lực củng cố địa bàn Điện Biên Phủ. &lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Tại đây, với hỏa lực sẵn có quân Pháp có thể làm chủ được trên không và tiếp tế bằng đường bộ. Cũng nên biết khu lòng chảo Điện Biên Phủ nằm sát biên giới Lào với nhiều đồi núi thấp, do đó dễ quan sát một vùng rộng lớn chung quanh. Quân đội Pháp đã xây dựng tại đây một hệ thống địa hào chằng chịt và kiên cố có thể cầm cự với quân Việt Minh trong một thời gian dài khi bị bao vây. Nói chung, giới quân sự Pháp rất tin tưởng vào sự phòng thủ chiến lược của Điện Biên Phủ, họ hy vọng có thể tiêu diệt quân Việt Minh dễ dàng khi bị tấn công.

Nhưng ước muốn là một chuyện thực hiện được hay không là chuyện khác. Sau này giới quân sự và chiến lược gia Pháp đã viết rất nhiều sách và tài liệu nghiên cứu sự thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ, tên của Võ Nguyên Giáp cũng được nhắc tới như một đối thủ nguy hiểm, cần triệt hạ. Tác giả những bài viết này đều không ngờ khả năng điều động lực lượng dân công của Việt Minh trong trận Điện Biên Phủ. &lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Các chiến lược gia Pháp không ngờ phe Việt Minh đã có sáng kiến tháo gỡ từng bộ phận rời của những khẩu đại bác và súng ống hạng nặng và sử dụng một lực lượng dân công hùng hậu để vận chuyển bằng các phương tiện thô sơ như xe thồ (xe đạp), xe bò, gồng gánh các loại vũ khí và đạn dược, ngày đêm băng rừng, băng suối, băng núi để mang lên các đỉnh đồi chung quanh Điện Biên Phủ, lắp ráp và tấn công quân Pháp. Điều này vượt ngoài tưởng tượng của những chiến lược gia quân sự Pháp, và họ đã tốn rất nhiều giấy mực để diễn tả sự kinh ngạc này, với tất cả sự thán phục. &lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Cuộc bao vây đã chỉ kéo dài trong ba tháng, từ 13-3 đến 7-5-1954. Quân đội Pháp cùng với bộ chỉ huy tiền phương tại Điện Biên Phủ, do đại tá de Castries cầm đầu, đã đầu hàng vô điều kiện. Võ Nguyên Giáp đã được dư luận Pháp nhìn nhận như người đã đánh bại quân đội Pháp tại Đông Dương. &lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;&lt;b&gt;Không trách Việt Minh&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Điều không ngờ là người Pháp chấp nhận sự thất trận này một cách vui vẻ, họ không thù oán gì quân đội Việt Minh mà chỉ trách móc các cấp lãnh đạo chính trị và quân sự của họ đã không sáng suốt. Riêng các tướng Salan, de Castries và rất nhiều tướng tá khác đều hết lời ca ngợi và kính phục Võ Nguyên Giáp. Đây là một trường hợp hi hữu trong lịch sử quân sự của Pháp nói riêng và của cả châu Âu nói chung. Hầu như các cấp lãnh đạo quân sự của châu Âu đều có cùng nhận định như các đồng nghiệp Pháp. &lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Họ kính nể quyết tâm và khả năng huy động sức người trong trận Điện Biên Phủ của Võ Nguyên Giáp trong suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất. Nếu Võ Nguyên Giáp là một người sinh trưởng tại các quốc gia phương Tây thì ông đã đón nhận tất cả những vinh hạng của một vị anh hùng, một vị tướng tài ba. Rất tiếc ông là người Việt Nam, và hơn nữa là một đảng viên cộng sản, nên tất cả những vinh dự này đã không được thể hiện đúng mức.
&lt;table align="right" border="0" cellpadding="0" cellspacing="0" width="208"&gt;                      &lt;tbody&gt;&lt;tr&gt;                         &lt;td rowspan="2" bgcolor="#ffffff"&gt;&lt;img src="http://www.bbc.co.uk/f/t.gif" alt="" border="0" height="1" width="5" /&gt;&lt;/td&gt;                         &lt;td&gt;                            &lt;div&gt;&lt;img src="http://www.bbc.co.uk/worldservice/images/2007/11/20071105130320giap203.gif" alt="Đại tướng Võ Nguyên Giáp" height="152" width="203" /&gt;&lt;/div&gt;                         &lt;/td&gt;                      &lt;/tr&gt;                      &lt;tr&gt;                         &lt;td class="caption"&gt;Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi đã nghỉ hưu đôi khi có những phát biểu ôn hòa về các vấn đề của Việt Nam&lt;/td&gt;                      &lt;/tr&gt;                   &lt;/tbody&gt;&lt;/table&gt;
Sau sự thất trận này, dư luận Pháp đã không thù oán gì Việt Nam mà ngược lại vẫn còn giữ rất nhiều cảm tình với dân tộc Việt Nam và đất nước Việt Nam, lý do là vì con người và đất nước Việt Nam rất hiếu khách và không oán thù người đô hộ sau khi chiến tranh chấm dứt. &lt;/p&gt;                &lt;p class="storytext"&gt;Người Pháp có lý do để đề cao yếu tố này, vì trong suốt thời gian chiến tranh, từ 1946 đến tháng 7-1954, không một phụ nữ hay trẻ em người Pháp nào bị bắt làm con tin hay bị sát hại để trả thù báo oán. Đây chính là điều mà dư luận Pháp nói riêng và phương Tây nói chung quí mến dân tộc Việt Nam. Trong chiến tranh thì chém giết nhau không nương tay, nhưng chỉ với những người trực tiếp cầm súng, khi hết chiến tranh thì có thể trở thành bạn bè một cách dễ dàng. &lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-3073102779549606251?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/3073102779549606251/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=3073102779549606251' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/3073102779549606251'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/3073102779549606251'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/05/uy-tn-ca-tng-v-nguyn-gip.html' title='Uy tín của tướng Võ Nguyên Giáp'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-8669392044886662758</id><published>2008-05-10T01:49:00.001+07:00</published><updated>2008-05-10T02:07:33.544+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chiến tranh Việt Nam'/><title type='text'>55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ Alan Dawson Chương Cuối</title><content type='html'>&lt;p align="justify"&gt;&lt;b&gt;Chương 13: Cám ơn&lt;/b&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Darwin Judge và William McMahon đã gia nhập binh chủng thuỷ quân lục chiến, gần 
như cùng một lúc. Họ là loại &amp;quot;con trai&amp;quot; mà đám thuỷ quân lục chiến vũ phu muốn 
biến thành người lớn. Là VĐV, đã tốt nghiệp trung học, hai anh chàng này đã ra 
sức luyện tập tại trại tân binh ở đảo Parris. Các tay trung sĩ dữ tợn của thuỷ 
quân lục chiến muốn có nhiều hơn nữa những tân binh như hai anh chàng này. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Hai người đã cùng sống với nhau gần 4 năm nghĩa vụ ở thuỷ quân lục chiến tự 
khoác cho mình danh hiệu binh chủng dữ tợn nhất của Mỹ. Họ còn tiếc lỡ mất dịp 
chiến đấu tại Việt Nam. Ừ thì bây giờ hai người ở Việt Nam rồi đấy. Họ là một 
phần của lực lượng an ninh sứ quán Hoa kỳ mới được bổ sung. Nhiệm vị duy nhất 
của lực lượng này là bảo vệ cuộc di tản người Mỹ chống những kẻ phá đám. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Trong 10 ngày qua, Judge, McMahon và một lực lượng an ninh nhỏ đã bao vòng quanh 
lầu Năm góc phương Đông tại Tân Sơn Nhất. Theo họ, phần xử trí gay nhất không 
phải là hàng ngàn người đang chuẩn bị rời khỏi Việt Nam mà là việc xử trí với 
những chiếc xe khốn nạn. Dân chúng lái xe nhà vào sân bay rồi vứt tại chỗ. Judge 
và McMahon cố gắng dọn quang lối cho xe vào địa điểm di tản. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Hai người trực đêm vào ngày 28-4. Họ chẳng biết gì mấy về chuyện gì đang xảy ra 
tại xung quanh SG vì những điện đài dã chiến mang theo chỉ bắt tần số của Mỹ. Nó 
chẳng nói mấy về tin tức bên ngoài thủ đô. Họ không biết được là Biên Hoà đã sụp 
đổ. Họ chẳng ngờ cái trò chính trị trong cuộc chiến tranh Việt Nam lại sắp sửa 
kết thúc cuộc đời họ. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Biên Hoà sụp đổ khoảng nửa đêm không làm mấy ai ngạc nhiên. Cái căn cứ ấy trở 
thành ốc đảo, bị bao vây tứ phía và thậm chí bị cắt khỏi SG, một sự kiện vốn 
hiếm khi xảy ra. Khoảng 4 sư đoàn Bắc Việt Nam đã pháo kích dữ dội và tràn ngập 
căn cứ khi trời sập tối. Sự việc chỉ cộc cằn và giản đơn thế thôi. Một lực lượng 
nhỏ gồm xe tăng và bộ binh ở Biên Hoà rút chạy về hướng SG nhưng họ phải vượt 
qua ruộng đồng vì các con đường đã bị chặn hết. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Hai sư đoàn khác tấn công Vũng Tàu, cái hải cảng duy nhất còn trong tay SG. Một 
kế hoạch phòng hờ bất trắc đã dự tính cuộc di tản của Mỹ qua Vũng Tàu bằng đường 
biển. Hạm đội Mỹ phục vụ di tản bỏ neo ngoài khơi Vũng Tàu. Nhưng trước cuộc tấn 
công của Cộng Sản, thị xã sụp đổ cũng chỉ còn là vấn đề thời gian, có lẽ vài giờ 
thôi. Do đó kế hoạch phòng hờ bất trắc kia cũng tuyệt vọng. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Một cuộc pháo kích khác bằng hoả tiễn xuống Tân Sơn Nhất. Cuộc ném bom là dấu 
hiệu tấn công. Cuộc pháo kích này đã đánh dấu phút mở màn cho cuộc xung phong 
cuối cùng của số quân Bắc Việt Nam lớn nhất chưa bao giờ có ở một điểm lại tập 
trung lớn như thế. Bắc Việt Nam có tất cả 24 sư đoàn. Ba trong số ấy nằm lại 
miền Bắc. 21 sư đoàn kia đang ở xung quanh SG, sẵn sàng tấn công thành phố. Còn 
SG thì lực lượng thực tế có độ 1 sư đoàn. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Tại phía Bắc SG, nơi các pháo thủ chờ lệnh từ hai ngày qua, những khẩu đại bác 
quay mũi từ hướng trung tâm SG, nhích sang phía Tây. Lúc 4 giờ 10 phút sáng các 
khẩu đại bác ấy và có lẽ 50 khẩu khác cùng loại đã mở cuộc pháo kích vào Tân Sơn 
Nhất. Judge và McMahon đã ngã xuống trong vòng 10 phút đầu của cuộc pháo kích. 
Judge bị quả đạn pháo trúng ngay mình. Ở cách đó 8m, McMahon cũng chết ngay tức 
khắc tuy rằng thi thể anh ta không tan nát như người bạn. Quả đạn giết chết hai 
lính thuỷ đánh bộ là một trong vài ba quả lệch mục tiêu. Nhìn chung, Cộng Sản 
không can thiệp vào cuộc di tản. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Lúc 6 giờ 30 sáng, Sài Gòn đã thức giấc bởi tiếng gầm thét của đại bác bắn vào 
Tân Sơn Nhất, Martin đã triệu tập cuộc họp của hội đồng sứ quán. Theo lời những 
người dự phiên họp ấy, rõ ràng là viên đại sứ đã trở nên bàng hoàng. Polgar 
(giám đốc phân cục CIA) và tướng Smith nói thẳng thừng với Martin: Cuộc di tản 
cuối cùng phải được ra lệnh ngay lập tức. tsm bị tấn công có nghhĩa là sân bay 
đóng cửa. Chẳng ai đoán được bao giờ nó sẽ mở cửa lại. Do đó phải di tản bằng 
trực thăng càng nhanh càng tốt. Rồi thì cái cây lớn sau nhà sư đoàn phải bị hạ 
xuống để khỏi cản trở trực thăng. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Martin giận dữ trước sự thách thức ấy. Trước đây, máy bay đã từng đi qua những 
trận pháo kích. Tình hình chẳng đến nỗi nghiêm trọng. Cuộc di tản bằng phi cơ có 
cánh cố định vẫn tiếp tục. Để không quân có thể quyết định lúc hạ cánh. Chẳng có 
lý do gì để hoảng loạn, cũng chẳng có lý do nào để nghĩ đến chuyện di tản bằng 
trực thăng. Cái cây sẽ không bị hạ xuống. Đốn nó có nghĩa là tự ràng buộc mình 
vào cuộc di tản cuối cùng. Martin nói ông ta chưa sẵn sàng làm như vậy, nó không 
cần thiết. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Polgar và Smith bèn nổi nóng. Nói qua hai hàm nghiến chặt vào chỉ vừa đủ để giữ 
bình tĩnh, họ tìm cách báo cho Martin biết sự thật. Hai lính thuỷ đánh bộ Mỹ 
chết là chuyện hoạ hoằn-Hàng nghìn người đang ngẹt thở vì Tân Sơn Nhất bị pháo 
kích. Máy bay chẳng có cách nào hạ cánh. Khu nhà hàng không Mỹ ở đối diện ngay 
bên đường đi qua lgn Phương Đông đã trở thành đống gạch vụn sau cuộc pháo kích. 
Mấy chiếc máy bay thường và trực thăng ở đó tiêu tan rồi. Không quân Sài Gòn tan 
nát vì cuộc pháo kích.&lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;Trùm CIA tóm gọn cảm nghĩ của hầu hết mọi người trong phòng họp: Martin đang 
mang ảo tưởng. Tình hình đang rất nghiêm trọng. Sài Gòn hoàn toàn bị bao vây 
rồi. Căn cứ duy nhất còn trong tay chính quyền Sài Gòn là Tân Sơn Nhất. Cuộc 
xung phong cuối cùng vào chính thành phố có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Ý kiến 
Martin khăng khăng đòi di tản bằng máy bay có cánh cố định là sai. Nó sẽ phải 
trả giá bằng sinh mạng. Cuối cùng Polgar nói, nếu Martin không tin ở những người 
khác nói thì ông ta nên đến Tân Sơn Nhất mà nhìn tận mắt. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Martin chồm lên tức tối. Được-ông ta nói-đấy là điều chính ông ta sẽ làm. Polgar 
và Smith còn hầm hầm tức giận. Jacobsen khuyên Martin đừng đi Tân Sơn Nhất. 
Martin cho biết ông ta sẽ đi và ra lệnh ngay lập tức. Jacobsen tuy bênh vực 
Martin nhưng cũng thấy chỉ bằng cách tận mắt nhìn thấy sự tàn phá tại Tân Sơn 
Nhất thì đại sứ mới chịu đổi ý nghĩa. An ninh cho Martin được bố trí. Một xe chở 
đầy lính thuỷ quân lục chiến, và dăm ba lính khác cùng ngồi xe với Martin để bảo 
vệ. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Smith đi theo Martin vì Tân Sơn Nhất nằm dưới quyền chỉ huy của ông ta. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Khi xe của Martin rời khỏi sứ quán đi về hướng sân bay thì trùm CIA trưng dụng 
vài lính gác thuỷ quân lục chiến nổ máy cưa và hạ cái cây xuống. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Jacobsen theo dõi qua điện đài từng phút một chuyến đi của Martin đến Tân Sơn 
Nhất. Ngeh ba bốn điện đài cùng một lúc, ông ta theo dõi tin tức về các đám nổi 
loạn, pháo kích và những nơi dàn quân của Sài Gòn. Vào lúc ấy, quân đội Sài Gòn 
là mối nguy hiểm lớn nhất. Đa số quân lính đắng cay trước sự thật hiển nhiên là 
cuộc rút lui và việc cắt đứt viện trợ của Hoa Kỳ. Đang có tin đồn là các tướng 
lĩnh Sài Gòn sẽ tìm cách ngăn chặn người Mỹ di tản. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Chuyến đi Tân Sơn Nhất diễn ra trơn tru. Xe của Martin lách qua các đống đổ nát 
đi vào sân bay. Viên đại sứ không nói một lời. Những người đi theo cho biết thái 
độ đại sứ ỉu xìu. Rõ ràng là bị bàng hoàng trước sự tàn phá, nguy cơ và khói 
lửa, Martin dường như không tin vào cả mắt mình. Chiếc xe vòng lại rồi trở về sứ 
quán lúc 10 giờ. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
--------------------------- &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;i&gt;Sơ đồ Đại sứ quán Mỹ tại SG và đội hình đoàn xe của Martin ra thăm TSN :&lt;/i&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="center"&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/martin203.gif" border="0" width="400"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&amp;nbsp;&lt;/p&gt;
&lt;p align="center"&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/martin202.gif" border="0" width="400"&gt;
&lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&amp;nbsp;&lt;p align="center"&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/martin201975.gif" border="0" width="400"&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;Sau chuyến đi Tân Sơn Nhất, Martin trông như một người mất hồn. Cô thư ký của 
ông ta muốn rơi nước mắt. Ông ta ít nói, đi thẳng vào văn phòng. Trong vòng nửa 
giờ, ông ta gọi hầu hết những thành viên trong hội đồng sứ quán lại và ra lệnh 
tiến hành kế hoạch di tản sau cùng. Vâng, trực thăng phải được sử dụng. Không 
chắc gì máy bay có cánh cố định hạ xuống được Tân Sơn Nhất. Mọi người nên biết 
phần việc của mình và nên thi hành. Martin không đề cập gì đến cái cây nếu quả 
tình là còn nghĩ tới nó. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Tướng Smith cảm thấy nhẹ nhõm đã nhận lệnh qua điện thoại về việc di tản và 
chuyển nó đi Honolulu theo hệ thống quân đội. Từ đó nó trở về các tàu Mỹ ở ngoài 
khơi Vũng Tàu. Martin và Polgar thì đánh những bức điện hoả tốc của mình về Bộ 
ngoại giao và sở chỉ huy CIA. Các viên chức sứ quán lại bắt đầu gọi điện thoại 
đến các trụ sở, cư xá, tư gia, khách sạn mà họ đã gọi liền 4 giờ trước đó mới 
hết để báo cho biết sự chuẩn bị trước hạ màn. ”Lần này không có chuyện thực tập 
đâu”. Họ nói như vậy. Cuộc “kéo mạnh” bắt đầu đấy. Mọi người, nhắc lại nhé, mọi 
người nên đến trình diện ở địa điểm di tản mà họ được chỉ định. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Trên giấy tờ, nó có vẻ là cuộc di tản liều lĩnh. Nhiều người cho rằng nó lạc 
quan. Lẽ tất nhiên, rốt cuộc nó đã trở thành cơn ác mộng. Thất bại không phải 
hoàn toàn vì yếu tố con người tuy có sai lầm nghiêm trọng trong việc làm kế 
hoạch. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Thứ nhất là vấn đề xe buýt. Mấy ai đã từng lái xe buýt mà cuối cùng cũng phải đi 
các ngõ hẻm để nhặt từng người. Thứ nhì, ít nhất phải có 25 trực thăng Hu-ây 
(UH-1) để làm việc cứu người mắc kẹt trên mái nhà. Khi có lệnh, phần lớn phi 
công đã về nhà. Một nửa số trực thăng bị phá huỷ trong cuộc pháo kích sân bay 
Tân Sơn Nhất. Số lớn còn lại phải đi đồng bằng sông Cửu Long nhặt người mà lãnh 
sự quán Mỹ bỏ lại. Thứ ba là thiếu hợp đồng giữa dân sự và giới quân sự. Ai cũng 
tưởng bay một chuyến thì xong, nhưng hầu hết đã bay đến lúc kiệt sức. Hơn hết là 
sự trễ nải của Martin đã đè nặng lên bước “kéo mạnh” sau cùng. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Lúc này, lệnh giới nghiêm 24/24 không còn có hiệu lực và chẳng còn lực lượng an 
ninh để thúc đẩy thực hiện nó. Có khoảng 100 nghìn linh hồn hoảng loạn, lang 
thang trên đường phố, theo dõi dấu hiệu cuộc di tản. Họ đã nắm giấy phép mà 
không đi được. Thế thì tướng Smith đâu, lính mũ nồi xanh đâu? Câu hỏi đến nay 
chưa được giải đáp. Khoảng 2 giờ chiều lính Sài Gòn không chịu cho xe buýt vào 
Tân Sơn Nhất nữa bằng cách huơ súng qua lại như đám hung thần trong phim cao 
bồi. Chỉ có một cổng vào bị một tá lính Sài Gòn giữ chặt. Đáng lẽ lính mũ nồi 
xanh hay thuỷ quân lục chiến chiếm lấy nó. Sự thất bại trong việc mở cổng dẫn 
tới sự hoảng loạn cuối cùng ở sứ quán sau này. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Smith muốn bắt đầu di tản lúc giữa trưa. Vì lý do không hiểu nổi, Martin lại ra 
lệnh hoãn một tiếng đồng hồ. Đang lúc chiếc trực thăng sẵn sàng bay chuyến đầu 
tiên vào Sài Gòn thì một giọng nói trên đài chỉ huy ra lệnh phi công tắt máy và 
đợi một giờ nữa. Chẳng biết được ai ra lệnh ấy? &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Thuỷ quân lục chiến ở trụ sở DAO phần lớn chưa qua thử thách chiến trường, tất 
cả đều run sợ trước cái chết của Judge và Mc Mahon và đều mỏi mệt. Hầu hết là 
một lũ anh hùng rơm. Cộng sản đã giảm pháo kích Tân Sơn Nhất nhưng thỉnh thoảng 
vẫn có quả đạn rơi xuống, do đó càng gây thêm khiếp đảm. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Sự hoảng loạn bắt đầu khoảng 3 giờ chiều, khi các trực thăng xuất hiện từ hướng 
Đông. Chúng bay thấp trên bầu trời Sài Gòn. Các đám đông bắt đầu tụ lại ở sứ 
quán Mỹ. Một trung đội lính thuỷ quân lục chiến mới toanh được trực thăng vận 
tải từ hạm đội 7 vào giúp việc kiểm soát đám đông. Họ cũng khiếp đảm trước tình 
hình như vậy. Tại Tân Sơn Nhất, lính gác đang bắn cảnh cáo các xe buýt trở đầy 
người Mỹ. Các xe phải quay lui vì không ai hiểu liệu lính Sài Gòn có dám thực sự 
bắn vào xe Mỹ không, nhưng chẳng ai muốn thử làm gì. Cảng Sài Gòn là điểm di tản 
và cũng như một nhà thương điên. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Nguyễn Cao Kỳ rời khỏi Tân Sơn Nhất trong cuộc di tản bằng trực thăng riêng hóa 
ra lại đến hạm đội 7 trước cả người Mỹ di tản. Một sĩ quan Mỹ cũng gọi điện 
thoại báo cho trùm buôn thuốc phiện lậu và là phụ tá quân sự của Thiệu là Đặng 
Văn Quang rằng, giai đoạn “kéo mạnh” đã bắt đầu. Xoè chứng minh thư ra, Quang đã 
vào được cổng sau sứ quán, trơ trẽn và vẫn cười hinh hích được. Kẻ thay thế Cao 
Văn Viên là Vĩnh Lộc đã được đặt lên một trực thăng di tản. Tám, bạn thân mà 
Martin quan tâm trong việc gói ghém vật dụng trong nhà hom trước cũng leo lên 
trực thăng. Tướng 3 sao Đồng Văn Khuyên cũng đi mất. Thế là gần hết đám tai to 
mặt lớn trong bộ máy chỉ huy quân đội Sài Gòn đã lỉnh mất. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Tấn thảm kịch và trò lừa đảo trong cuộc di tản khỏi Sài Gòn sẽ còn được kể nhiều 
năm nữa. Tuy nhiên, hình như chẳng mấy ai rút ra bài học gì đó ngoài một nhóm 
nhỏ viên chức Hoa Kỳ.&lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
&lt;i&gt;Một seri hình ảnh về cuộc tháo chạy :&lt;/i&gt; &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&amp;nbsp;&lt;p align="center"&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/di20tan201.jpg" border="0" width="400"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="center"&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/di20tan202.jpg" border="0" width="400"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="center"&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/di20tan203.jpg" border="0" width="400"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&amp;nbsp;&lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/di20tan204.jpg" border="0" width="400"&gt;
&lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&amp;nbsp;&lt;p align="center"&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/ditan206.jpg" border="0" width="400"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="center"&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/di20tan207.jpg" border="0" width="400"&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;Những lời tiên đoán rằng sứ quán Mỹ sẽ trở thành cảnh tượng chính cho sự hoảng 
loạn giờ đây thành hiện thực. Không chiếm lĩnh cổng Tân Sơn Nhất, hậu quả là các 
người Mỹ di tản ngày cuối cùng phải tìm đến sứ quán. Không thực hiện được giới 
nghiêm 24/24 thì hậu quả là một đám người Nam Việt Nam cuồng nộ ập đến, tràn 
ngập cả sứ quán. Không tuyển chọn được một lực lượng an ninh có nghĩa là sẽ xảy 
ra những giờ phút căng thẳng giữa đám đông bên ngoài với thuỷ quân lục chiến bên 
trong. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Vẫn có những trường hợp đặc biệt, không hề bận tâm gì đến cuộc di tản. Cách Tân 
Sơn Nhất hai dặm trong một ngõ hẻm, Mike Mielke, một người Mỹ, bình thản nhìn 
theo những chiếc trực thăng bay qua nhà anh ta ra biển Đông. Mielke đang đứng 
trong sân trước căn nhà kiểu vla kín cổng cao tường, tiếp tục sơn một cái chuồng 
chó. Qua điện đài kiểu PRC.25, anh ta lắng nghe sự hoảng loạn lớn dần trong đám 
người Mỹ tham dự di tản. Trước đây, anh ta là trung sĩ trong lực lượng đặc biệt, 
làm cố vấn nghĩa quân. Thế nhưng anh ta muốn ở lại cùng với người vợ Việt lai Mỹ 
tên là Mistry và đứa con gái 2 tuổi tên là Madeleine quen gọi tắt là Linny. Họ 
đã từ chối vô số lời đề nghị giúp đỡ họ di tản. Melke đang nhấp ly rượu rum pha 
nước ngọt côla khi cuộc di tản bắt đầu. Trên mái nhà anh ta đã đặt hai tấm ván 
ép màu da cam thành hình chữ X. Đối với phi công trực thăng, nó có nghĩa là anh 
ta không muốn ra đi. Vợ anh ta, Mistry (tên Mỹ dịch từ tên tiếng Việt là Sương) 
không muốn anh ta ra đi. Khi những chiếc trực thăng bay ngang bên cạnh vila của 
Mielke thì anh ta đã xua tay khinh miệt: “Thôi… Cám ơn! Từ biệt chúng mày, đồ 
cục cứ ****!”. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Martin liên lạc với Kissinger ở Washington van nài cho cuộc di tản tiếp tục, 
Kissinger tỏ vẻ khó chịu nói rằng tổng thống muốn loan báo cuộc di tản đã kết 
thúc. Martin ngỏ ý xin ở lại để giúp Minh lớn và Nam Việt Nam. “Nào 
Graham-Kissinger nói-chúng ta muốn tất cả trở về thôi”, Kissinger đã ra lệnh 
buộc Martin phải ra đi. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Tại sứ quán Hoa Kỳ, không ai tin rằng cuộc di tản thế là đã kết thúc. Đám đông 
người vẫn đông nghẹt cả ở bên trong lẫn bên ngoài. Giữa bóng đêm, không ai nhận 
thấy đám thuỷ quân lục chiến đã rút vào trong. 4 giờ sáng, đám đông lại nghe 
thấy tiếng trực thăng bay trở lại. Nó hạ cánh xuống nóc nhà sứ quán. Vài người 
chạy tới, leo lên máy bay. Ngồi trên trực thăng có Graham Martin. Chưa ai nghĩ 
đó là chiếc trực thăng di tản cuối cùng. Trời hửng sáng, lại thêm vài chiếc nữa 
đến bốc nốt đám lính thuỷ quân lục chiến của họ ở Việt Nam. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Tại một khu phố trung tâm Sài Gòn, khi biết tin G.Martin đã ra đi, một nhà báo 
đã lẩm bẩm rằng “liệu có ai đó nhớ vặn tắt ngọn đèn ở cuối đường hầm chưa nhỉ”. 
Đến ngày 3-5, Cộng Sản tuyên bố nắm gọn chủ quyền toàn cõi Việt Nam, kể cả các 
đảo ngoài khơi. Năm 1954, 16 nghìn lính Pháp, lê dương và Việt Nam đã cầm cự với 
quân đội Bắc Việt Nam 55 ngày đêm ở Điện Biên Phủ rồi thì đầu hàng. 21 năm sau, 
Bắc Việt Nam đã tràn ngập toàn cõi Nam Việt Nam, đánh bại một đội quân Sài Gòn 
tất cả là 1 triệu người. Cũng như Điện Biên Phủ, trận đánh này cũng mất 55 ngày 
đêm cả thảy. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
------------------ &lt;/p&gt;&lt;p align="center"&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/5.jpg" border="0" width="400"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="center"&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/1-4.jpg" border="0" width="400"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="center"&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/di20tan2010.jpg" border="0" width="400"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="center"&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/hoang20loan.jpg" border="0" width="400"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="center"&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/di20tan2012.jpg" border="0"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="center"&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/ch47over2.jpg" border="0"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="center"&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/hoang20loan202.jpg" border="0" width="400"&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;&lt;i&gt;&lt;b&gt;Lời kết thúc &lt;/b&gt; &lt;/i&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;i&gt;&lt;b&gt;Sài Gòn không trở thành thành phố Hồ Chí Minh qua một đêm được. Nhưng rõ ràng là 
những ngày xưa cũ hết rồi. Đường lối chính sách chung được phổ biến rộng rãi và 
một tờ nhật báo bằng hai thứ tiếng (Việt Nam và Trung Hoa) đã có mặt trên đường 
phố sau một tuần. Điều hiển nhiên là sau khi cuộc chiến tranh chấm dứt, không có 
chuyện tắm máu. &lt;/b&gt;&lt;/i&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;i&gt;&lt;b&gt;Minh lớn và Trần Văn Hương được phép ở lại nhà. Với những người khác, nó là vấn 
đề cải tạo. Dinh Độc Lập thành “di tích chế độ tư bản”. Sứ quán Mỹ thành một 
viện bảo tàng. Nhà của viên sĩ quan phụ trách tổng hành dinh Hoa Kỳ, Steven Bray 
biến thành nơi trưng bày “tội ác chiến tranh của Hoa Kỳ”. Nhà nghỉ mát của Thiệu 
cạnh bờ sông thành câu lạc bộ công nhân. &lt;/b&gt;&lt;/i&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;i&gt;&lt;b&gt;Còn một câu chuyện cuối cùng đầy ý nghĩa, liên quan đến binh nhì Đức, người lính 
thuỷ quân lục chiến Sài Gòn. Mặc dù ngay từ đầu, cuốn sách này đã xác định Đức 
là nhân vật tổng hợp của mấy thuỷ quân lục chiến, nhưng con người Đức thực sự đã 
đến với tôi vào tháng 8-1975, khi một trong số nhân viên của UPI bị giữ một tuần 
lễ. Trong nhà giam, anh ta gặp người lính thuỷ quân lục chiến mà tôi gọi là Đức, 
nghe kể lại câu chuyện khó tin lúc bấy giờ về cách thức đối xử của Cộng Sản với 
tù nhân. Không có cách nào liên lạc với Đức để biết đoạn kết thúc. Nhưng với 
tính cách là một điển hình minh họa cách đối xử của Cộng Sản Việt Nam năm 1975 
đối với kẻ thù xưa, thì chuyện này thuộc loại có một không hai. &lt;/b&gt;&lt;/i&gt; &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
&lt;i&gt;&lt;b&gt;Trong những ngày cầm súng trong quân đội Sài Gòn, binh nhì Đức đã giết 13 chiến 
sĩ Cộng Sản, cho đến khi anh ta bị bắt sau ngày “giải phóng”. Đức được đưa đến 
trung tâm tạm giam chính tại thành phố Biên Hoà cách Sài Gòn 14 dặm về phía Đông 
Bắc. Trong thâm tâm Đức cảm thấy nhẹ nhõm. Sự tồn tại ngày lại ngày anh ta trải 
qua từ sau cuộc rút lui khỏi Quảng Trị giờ đây đã đến lúc chấm dứt rồi. Đức cảm 
thấy đau xót cho gia đình mình, nghĩ rằng mình sẽ bị hành quyết, nhưng anh ta 
chấp nhận khổ đau không còn sợ chết nữa. &lt;/b&gt;&lt;/i&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;i&gt;&lt;b&gt;Anh ta nói hết những gì mình đã làm cho các viên chức tại Biên Hoà nghe và phải 
mất gần trọn một ngày để liệt kê lại những sự kiện “tội ác” đó, thỉnh thoảng chỉ 
ngập ngừng chút ít trước câu hỏi của người trung tá hỏi cung anh ta. &lt;/b&gt;&lt;/i&gt; &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
&lt;i&gt;&lt;b&gt;Nhiều khi Đức ngạc nhiên thấy mình bị nhốt vào một phòng biệt giam tại khám. 
Phòng thì nóng và thiếu nước. Không có chuyện giặt giũ. Linh gác cũng như tù 
nhân đều được cung cấp nước uống theo tiêu chuẩn. Ngoài cái đó ra thì mọi việc 
khác đều có thể chịu đựng được. Đức chuẩn bị tinh thần đón nhận sự hành quyết. 
Cuộc chiến đấu giờ đây đã tiêu tan trong lòng anh ta và chỉ mong cái chết đến 
càng nhanh càng tốt. &lt;/b&gt;&lt;/i&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;i&gt;&lt;b&gt;Vào khoảng giữa buổi sáng ngày hôm sau, Đức được hộ tống đến văn phòng có cái 
quạt trần vặn tắt rồi. Anh ta cảm thấy và biết rằng bản án sắp sửa được đọc. Quả 
đúng như thế, mặc dù nó không phải là cái mà Đức mong đợi. Người trung tá bắt 
đầu giảng giải cho anh khoảng một tiếng đồng hồ. Đại ý như thế này: &lt;/b&gt;&lt;/i&gt; &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
&lt;i&gt;&lt;b&gt;Chính quyền cách mạng căm ghét những gì Đức đã làm, nhưng hiểu tại sao anh ta 
lại làm như thế. Người lính thuỷ quân lục chiến cũ này đã được người Mỹ và phe 
Sài Gòn huấn luyện để làm việc đó mà đó là việc Đức phải tuân theo mệnh lệnh. 
Tuy nhiên Đức đã mắc tội là không tuân lệnh chính quyền cách mạng kêu gọi bỏ 
súng xuống và sớm đầu hàng. Với tội này, Đức sẽ bị giam 6 tháng. Thời gian đó, 
Đức phải lao động như một người quét dọn nhà tù, sẽ được học tập hai, ba buổi 
trong một tuần để hiểu biết về chính quyền mới. Nếu sau 6 tháng, Đức chứng tỏ 
được nhiệt tình với chính quyền, hiểu chính sách, ra sức lao động với công việc 
quét dọn được chỉ định thì sẽ được thả. Anh ta sẽ được phép trở về gia đình, ở 
đó anh ta sẽ lao động vì gia đình Đức đã về miền quê. Gia đình Đức đã được thông 
báo về sự giam giữ và ngày có thể trở về của anh. &lt;/b&gt;&lt;/i&gt; &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
&lt;i&gt;&lt;b&gt;Cựu binh nhì Đức cảm thấy biết ơn. Ngượng ngùng trước sự có mặt của bề trên, anh 
ta lúng túng nói lời cảm ơn và nhận ra rằng, rốt cuộc thì mình vẫn còn ý muốn 
ham sống. Ngày lại ngày tiếp đó, anh ta chăm chỉ làm công việc người ta giao 
cho. Đức nói với các tù nhân khác là anh ta có ý định làm đúng theo mệnh lệnh 
của người trung tá. Đức tỏ ý biết ơn về việc được tạo cho cơ hội làm lại cuộc 
đời theo như cách nhìn của anh ta đối với bản án. &lt;/b&gt;&lt;/i&gt; &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
&lt;i&gt;&lt;b&gt;Vào giữa tháng 8-1975, nhà cầm quyền yêu cầu tôi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Tôi 
không có cách nào theo dõi sự kết thúc câu chuyện có vẻ tốt đẹp ấy. Ngày 
3-9-1975, tôi đáp máy bay rời khỏi Việt Nam sau gần 8 năm rưỡi ở tại một đất 
nước đã uốn nắn tôi và làm tôi rung động.&lt;/b&gt;&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-8669392044886662758?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/8669392044886662758/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=8669392044886662758' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/8669392044886662758'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/8669392044886662758'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/05/55-ngy-ch-si-gn-sp-alan-dawson-chng-cui.html' title='55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ Alan Dawson Chương Cuối'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-8704216471563778628</id><published>2008-05-10T01:34:00.000+07:00</published><updated>2008-05-10T01:48:55.352+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chiến tranh Việt Nam'/><title type='text'>55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ Alan Dawson Chương 12</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;b&gt;Chương 12: Trước lúc đầu hàng&lt;/b&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Loại A.37 được mang đến Việt Nam là do không quân Mỹ trao cho phi công SG. Nó là 
loại oanh tạc tấn công nhỏ nhưng tốt nhât trong không quân SG. Khoảng 20 chiếc 
đã bị bỏ lại ở Đà nẵng và hầu như có thể bay đwợc sau khi tu bổ chút ít. Một 
điểm thuận lợi chính lầ kích thước của nó, chỉ cao ngang tầm vai và có thể bảo 
quản dễ dàng bởi cỡ người thấp nhất của dân phương Đông vốn nhỏ bé. Nó bay dưới 
mức siêu âm, nguyên thuỷ là một máy bay huấn luyện và vẫn còn giữ hai chỗ ngồi 
kề nhau như khi ông thầy và học sinh ngồi bay. Phi công Hoa kỳ nhận thấy nó là 
loại máy bay lý tưởng cho cuộc chiến Việt Nam, đặc biệt vì nó bay chậm, do đó 
làm cho phi công có thể thực sự nhìn thấy mục tiêu đang tìm cách đánh trúng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Nó chẳng phải loại máy bay &amp;quot;con ma&amp;quot; thậm chí nó không thể bay từ SG đi Hà nội để 
oanh tạc được, tầm hoạt động của nó giới hạn nên đó là lý do khiến ngwời Mỹ có 
thể giao nó cho quân đội SG. Nó giản đơn so với chiếc phản lực nhưng như thế 
không có nghĩa là giống như xe hơi kiể T cổ lỗ của Hoa kỳ. Nó bay thuờng xuyên 
và tốt, chính xác, tuy chỉ sử dụng được vào ban ngày, không bay được trong mưa 
giông lớn. Nó không có vũ khí tự vệ để chống lại phi cơ khác, không có tên lửa 
không đối không. Đáng buồn là chính những máy bay ấy lại quật bom vào Tân Sơn 
Nhât, bịt nốt cái phi cảng cuối cung mà người Mỹ có thể hy vọng di tản qua con 
đường đó. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Còn một loại bom được để ở Thái lan và chỉ có một ít nằm ở đấy vì sợ tai tiếng 
chính trị. Số ít người Mỹ biết được sự có mặt của chúng ở Thái lan đã gọi chúng 
là vũ khí tối hậu mà các sĩ quan không quân Hoa kỳ mê mệt. Chúng chỉ là một 
trong số hàng trăm vũ khí không nguyên tử và có tính chất huỷ diệt vốn xuất phát 
từ quỹ nhiều tỷ đô la tài trợ cho quân đội Hoa kỳ giữa thập kỷ 60 để tiến hành 
chiến tranh Việt Nam. Mục đích các chương trình này là khám phá ra cách giết 
nhiều địch trong khi lực lượng Mỹ tổn thất ít hơn. máy bay không người lái, lựu 
đạn cải tiến, bom CBU.55 chỉ là số ít trong những kết quả đạt được. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Bom CBU (viết tắt của các chữ Cluster Bomb Unit) với số hiệu 55 là một trong 
những vũ khí đáng sợ, có ba khoang chứa đầy nhiên liệu protan, một hỗn hợp bí 
mật các loại chất khí khác và chất nổ. CBU.55 chưa hề được sử dụng trong chiến 
tranh. Một số lượng nhỏ loại bom này được để ở Thái lan phòng hờ bất trắc. Tuy 
nhiên cho đến 4-1975, ít người Mỹ nào lại dám đề nghị sử dụng nó. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Đầu tháng 4, một quả bom CBU.55 được trở bằng máy bay từ căn cứ không quân 
Utapao đến SG rồi chuyển bằng xe tới căn cứ không quân Biên Hoà. Thứ vũ khí này 
vẫn nằm dưới quyền kiểm soát kỹ thuật của Mỹ mặc dù nằm trong tay không quân SG. 
Thiệu từ chức vẫn không có cách gì cứu vãn đà sụp đổ của quân đội SG, tướng 
Homer Smith, sĩ quan cao cấp nhất của Mỹ ở Nam Việt Nam đã cho phép SG sử dụng 
loại vũ khí ấy. Các sĩ quan SG đã chọn Xuân Lộc làm mục tiêu khi lực lượng SG 
đãng rut lui và Cộng Sản đang tiến về SG. Một máy bay vận tải C.130 được lệnh 
chuẩn bị sẵn sàng vào sáng 21-4. Quả bom CBU.55 được chất lên. Con ngựa bốn động 
cơ của hãng Lockhead cất mình nhẹ nhàng khỏi cái phi đạo Biên Hoà và bay thẳng 
đến Xuân Lộc. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ở độ cao 6.000m, cánh cửa vỏ sò ở đuôi máy bay mở ra. Cái dù thăng bằng đeo quả 
bom rơi vào không trung... Với một tiếng rền nghe có vẻ dồn nén kỳ lạ, và một 
quả cầu lửa khổng lồ bùng lên. Phi hành đoàn kinh sợ nhìn xuống... &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trong vòng hai ngày, đài Hà Nội đã công kich việc sử dụng loại vũ khí mới ấy. Họ 
miêu tả đúng nó, có lẽ do báo cáo của csc điệp viên ở Tân Sơn Nhất và Biên Hoà. 
Cộng Sản coi đó là nỗ lực sau cùng trong lúc tuyệt vọng của quân đội SG mà cũng 
đúng thế thật. Bom CBU.55 không đưọc chở đến nữa. Loại có sẵn ở đó sau này được 
đem ra phòng trưng bày &amp;quot;tội ác chiến tranh&amp;quot; ở thành phố Hò Chí Minh. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cũng còn những vũ khí khác được sử dụng trong nhwngx ngày chiến đấu luýnh quýnh 
sau cùng. C.130 ném dăm ba quả bom loại 15.000 cân Anh (khoảng 7 tấn rưỡi) xuống 
các vị trí Bắc Việt Nam. Các trực thăng lớn ném &amp;quot;thùng phuy xăng&amp;quot; một thứ bom 
napan chế tạo nội địa gồm có xăng và mảnh vụn xà phòng hiệu Tuyết Ngà (Ivory 
Snow). Cũng vì B52 không có thể giúp sức SG được nữa nên đã có nỗ lực tìm cách 
biến loại C.130 thành máy bay ném bom. Những chuỗi bom 500 cân Anh còn nguyên 
trong thùng được đẩy ra sau đuôi máy bay vận tải cho rơi xuống. Chúng có chung 
tác động với cuộc chiến: chẳng làm nổi trò trống gì. Cũng như B52, hầu hết loại 
bom chùm này cũng chỉ gây tổn thất cho môi trường và đám khỉ. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Các vũ khí bí mật như vậy đã chẳng giúp SG thắng nổi cuộc chiến thì chính trị 
cũng chẳng làm được gì hơn. Chẳng có sự ủng hộ nào dành cho Hương, dù vài người 
cũng tin rằng lão già ấy có thể quy tụ được sự ủng hộ nào đó. Martin, đại sứ Mỹ, 
J. M. Herillon đại sứ Pháp, Trần Văn Lắm, Dương Văn Minh đều có những ý kiến 
riêng biệt được hoặc quyện vào nhau về cách thức chấm dứt cuộc chiến. Ai cũng 
muốn hành động tức khắc nhưng giống như diễn viên trong phim hài hước rẻ tiền, 
họ đụng nhau côm cốp. Không ai biết tất cả những chuyện mà ba người kia đang làm 
và không ai ủng hộ hoàn toàn việc làm của một trong ba người kia. Có thể so sánh 
họ với chuyện &amp;quot;Ba thằng hề cộng một&amp;quot;. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cộng Sản lúc đó chưa kêu gọi một cuộc đầu hàng. Đòi hỏi tuyệt đối không được 
thương lượng là &amp;quot;tất cả lực lượng quân đội Hoa kỳ phải rut ra khỏi Nam Việt 
Nam&amp;quot;. Hà Nội ép SG đang thua phải nhượng bộ. Cộng Sản đã đi theo con đường ấy 
suốt 43 năm lịch sử. Không bao giờ nhường một tấc trong khi vẫn thúc đẩy để mang 
về từng thắng lợi ngoại giao hoặc quân sự. Họ chưa hề rut lui trong các đòi hỏi 
công khai. Giống như một đấu thủ quần vợt đứng sát lưới, họ không để đấu thủ 
ngoại giao có khoảng trống. Trái bóng chỉ ở sân họ trong tích tắc và không để 
chạm đất đã nẩy lên. Trong năm 1975 này, B52 không còn lảng vảng gần Hà Nội nữa.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;... Cuộc không vận của Mỹ di tản tăng lên hàng ngày. Ngày 24-4, có 24 chuyến 
bay, phần lớn là loại C.141 với 250 người một chuyến. Ngày 25-4 có 26 chuyến và 
26-4 có 31 chuyến. Tầu bè chũng bị gom vào dịch vụ di tản. Martin cho phép trả 
tiênhối lộ cho cánh sát SG tại sân bay Tân Sơn Nhất để đem người Việt Nam đi qua 
trạm kiểm soát vào sân bay tham gia di tản. Cứ 20 đô la một xe qua. Trong 10 
ngày cuối cùng, tốn khoảng 50.000 đô la. Có lính gác Việt Nam đòi giá rất cao và 
cũng đượ người Mỹ thoả mãn. Có lẽ 250.000 đô la, thậm chí 500.000 đô la là món 
tiền hối lộ đã lọt vào túi họ. Suy cho kỹ thì đây là cách nhục mạ cuối cùng mà 
người Nam Việt Nam đối với người Mỹ. Đến Việt Nam với một mong muốn giúp đỡ - 
tuy có thể còn phải bàn cãi điều này là phạm sai lầm - người Mỹ giờ đây phải bỏ 
tiền ra mua lấy sự thoát thân của họ. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cuộc chiến chưa ngừng lại dù rằng nó giảm xuống mức gần như đứng yên. Nơi thấy 
rõ điều này là Biên Hoà, căn cứ lớn nhất còn trong tay quân đội SG. Chiến trận ở 
đây là tiếng còi và tiếng rít xé gió, thứ âm thanh đáng sợ nhất thế giới. Đạn 
pháo nổ và hoả tiễn ập xuống Biên Hoà với con số ngày càng tăng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Vào buổi sang Xuân Lộc sụp đổ cũng là ngày Thiệu từ chức thì đạn pháo của Cộng 
Sản đã làm phi đạo bị tê liệt mất nửa ngày. Nửa lực lượng không quân SG nằm bẹp. 
Hai ngày sau, đạn pháo và hoả tiễn vẫn còn rơi xuống làm cho không ai ngủ ngon 
giấc qua đêm. Chúng rơi trúng kho bom rồi trúng cả máy bay. Trực thăng giờ đây 
trở thành vô dụng và phi công Nam Việt Nam không bay nữa. Ở Biên Hoà hãy còn một 
ít cố vấn Mỹ đang sửa chữa những chiếc trực thăng để chúng có thể tham chiến. 
Nhưng khi sửa xong máy bay thì phi công SG lại không chịu bay. Lưới lửa phòng 
không Bắc Việt Nam đã áp sát Biên Hoà khiến các phi công SG xem trực thăng chỉ 
là phương tiện để dự trữ chứ không phải là cái gì khác. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cố vấn Mỹ nổi cáu nhưng người Việt Nam khư khư giữ quyết định của họ. Hầu hết 
người Mỹ đi SG để về Hoa kỳ. Ngày 23-4, tình hình pháo kích vào Biên Hoà tăng 
thêm và quân Cộng Sản bao vây căn cứ thì không quân SG bèn rut đi. Máy bay F.5 
chuyển về SG, loại A.37 thì về Cần Thơ. Các phi công được cho đi phép một tuần 
rồi được bảo là sẽ về trình diện ở SG hoặc Cần Thơ. Xe vận tải được gom lại để 
chuyển bom từ Biên Hoà về các căn cứ mới. Thế là hơn một nửa lực lượng không 
quân SG đã bị xếp cánh. Cùng ngày ấy, &amp;quot;lãnh sự quán Hoa kỳ&amp;quot; ở Biên Hoà vẫn mở 
cửa. &amp;quot;Vâng, mở cửa vô hạn định&amp;quot;. Ngày hôm sau, cánh cửa đã khoá tịt lại. Người 
Mỹ đã trốn trong đêm về SG bằng một chiếc trực thăng. Người ta hy vọng lá cờ 
nhiều sao mà họ bỏ lại tiếp tục bay trên lãnh sự quán sẽ giúp ngăn ngừa sự hoảng 
loạn ở Biên Hoà. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Lãnh sự quán ở Cần Thơ cũng thế. Họ cũng chuồn về SG ban đêm bằng trực thăng. 
Người Mỹ từ lâu vẫn nói rằng châu thổ sông Cửu Long là thìa khoá của Nam Việt 
Nam vì rât đông dân giờ đây lại bỏ ra đi trước khi cuộc chiến bắt đầu. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ngày 25-4, Bộ Tư lệnh Bắc Việt Nam hỏi các phái đoàn Bắc Việt Nam và Việt Cộng 
tại sân bay Tân Sơn NHất rằng họ cần bao nhiêu thời gian để chuẩn bị sẵn sàng 
đối phó với &amp;quot;cuộc giải phóng&amp;quot; bằng bạo lực. Vài phút sau, nột điện mật trả lời 
rằng cấp trên không phải lo lắng cho những người ở đây. Mọi người owr trại David 
sẵn sàng hiến dâng mạng sống cho thắng lợi sau cùng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cách SG 6 dặm về phía Bắc, lùi vào quốc lộ đi Biên Hoà 3 dặm, bộ đội Bắc Việt 
Nam đã chuyển pháo 105 ly đến cánh đồng trống ngay sau các rặng cây và nhà cửa. 
Họ ít tiếp xúc với dân chúng. Những ai bước ra khỏi nhà để nói chuyện với &amp;quot;quân 
giải phóng&amp;quot; đều được bảo là nên tránh xa khu vực ấy. Sắp có một trận đánh lớn 
vào SG và những khẩu đại bác này sẽ phá thành phố thành tro bụi nếu cần. Nhưng 
họ không biết khi nào thì trận đánh sẽ xẩy ra. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Các sĩ quan cấp thấp thuộc 4 sư đoàn Bắc Việt Nam đã chuyển đến những vùng sát 
phía Bắc SG. Giữa ban ngày, họ đã tiếp xúc với Việt Cộng nằm vùng. Hầu hết những 
người này thuộc trung đoàn Đồng Nai cũn. Bộ đội Bắc Việt Nam nói rằng cuộc tấn 
công SG sắp xẩy ra. Việt Cộng sẽ là người dẫn đường. Nhiều bản đồ đưa ra và 
những người Cộng Sản trong vùng chỉ cho các sĩ quan biết những con đường, nơi bố 
trí phòng thủ và các mục tiêu chủ chốt. Các lực lượng Cộng Sản vẫn chuẩn bị một 
cuộc tấn công toàn lực vào SG, nhưng họ vẫn hy vọng sẽ không cần thiết phải làm 
như vậy. Xét cho cùng một cuộc đầu hàng cẫn tốt hơn nhiều so với cuộc tấn công 
tàn phá thành phố. Các nhà chính sách của họ bèn chọn ngày 28-4 là kỳ hạn cuối 
cùng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Điều buôn cười lúc này là sự giả vờ can đảm của Nguyễn Cao Kỳ. Kỳ đang tính 
chuyện bên lề với Bộ trưởng quốc phòng Mỹ nhằm đem các máy bay đi không để lọt 
vào tay Cộng Sản và cũng đã gửi vợ đi theo các cuộc di tản khỏi Nam Việt Nam. 
Thế mà Kỳ vẫn được một số người Mỹ tin là can đảm. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Việc Kỳ muốn nắm quyền hành ở Nam Việt Nam thì gần như chuyện công khai. Trong 
khi kêu gọi Thiệu từ chức, suốt mấy tuần qua Kỳ tự xem mình như là tổng thống, 
là kẻ cầm đầu cái chế độ ngắc ngoải này. Thế là khi đứng trước đám đông độ 6.000 
người thiên chúa giáo khuynh hữu và xế trưa thứ sáu 25-4, cái ngổ ngoá của viên 
tướng không quân này còn nguyên vẹn. Kỳ nói chuyện phòng thủ SG, rằng những kẻ 
chạy trốn theo Mỹ là hèn nhát. Đàn bà và trẻ con đã được gửi đi đảo Phú Quốc. 
Dân SG sẽ đứng lên chống +, Kỳ ở tuyến đầu. Trong lúc bốc lên, viên tướng râu dê 
này nói nếu cần thành phố sẽ trở thành Stalingrad, nơi đã cầm cự 900 ngày trong 
vòng vây hãm. Ít ra nhân dân thế giới cũng nhớ đến sự anh dũng của những người 
bảo vệ Stalingrad chứ sẽ chẳn ai thèm nhớ đến SG nếu nó chịu đầu hàng ngay. Kỳ 
khuyên mọi người đừng di tản, hãy đứng lên mà chiến đấu. Việc phân phối vũ khí 
sẽ làm ngay, mọi người nên ở lại SG. Đám dân di cư đã từ Bắc Việt Nam vào đây từ 
1954 bị kích động đã hoan hô Kỳ rầm rĩ... &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Nhưng sĩ khí chống + chỉ thế thôi đấy. Sau đó Kỳ bỏ vào sân bay Tân Sơn Nhất để 
sắp xếp cho các máy bay di tản sang Thái lan và đồng thời cũng bí mật ra lệnh 
cho một chiếc trực thăng đến đón mình. Chẳng dại gì mà liều ở lại với Cộng Sản. 
Tấn tuồng chống cự của viên tướng can đảm nhất quân đội SG công diễn âm thầm độ 
nửa giờ là đóng màn. Dù sao các nhà báo nước ngoài lúc ấy cũng ghi vào sổ tay 
chi tiết đó. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Còn Thiệu và mụ vợ thì đang bận gói ghém vàng, kim cương, ngọc thạch và đồ cổ. 
Công việc đó là 16 vali quần áo, tư trang và theo tin ở dinh thì còn 100.000 đô 
la nữa. Martin giúp bọn này ra đi và có ý định chỉ cho mang đồ vật cá nhân nhẹ. 
Thế là tay cựu tổng thống và mụ vợ phải tính đến cách khác. Mai Anh đã xoay xở 
lấy được 16 tấn vàng ra khỏi ngân hàng bắng cách ép, doạ bọn thuộc cấp. Vàng nằm 
trong dinh lúc Thiệu từ chức &amp;quot;vì lý do an ninh&amp;quot;. Mụ ta cho chuyển phần lớn số 
vàn thỏi ấy lên một máy bay thuê của hãng hàng không Thuỵ Sĩ, nhưng các phi công 
đòi biết trong thùng hàng có gì, theo nguyên tắc phòng xa. Họ khám phá ra đó là 
vàng nên phải hỏi lãnh sự quán Thuỵ Sĩ và rồi họ từ chối không chở nữa. Lý Long 
Thân (tay người Hoa, chồng em nuôi vợ Thiệu) nhảy vào cứu nguy. Tay này có 
phương tiện riêng là tầu &amp;quot;Trương tinh&amp;quot;, tuy không phải là tầu đi xa nhưng khẩn 
cấp quá rồi. Thân ra lệnh chở vàng đi Pháp, sau này Thiệu có thể nhận lại ở đó. 
Ngọc thạch và kim cương hầu hết đóng thùng kỹ lưỡng và vợ Thiệu giám sát từng 
bước gói ghém hàng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Đến lượt những thứ đò cổ. Giá trị của chúng không ai biết rõ là đồ của viện bảo 
tàng SG thì chác là phải đáng giá nhiều. Buồn thay, nhiều thứ lại vô giá trị. 
Các nhân viên bảo tàng cũng ăn hối lộ như điên nên đã thay thế phần lớn đồ cổ 
bằng những thứ giả giống hệt nó. Họ đem bán chúng (đồ thật) cho các chủ hiệu và 
người sưu tầm. Vợ Thiệu chẳng biết gì và cứ yêu cầu viên phụ tá của Thiệu là 
Đặng Văn Quang thu xếp gửi đi đau đấy. Quang chọn Canada là nơi lưu vong đã 
chuyển những đồ cổ thật lẫn giả lên một chiếc tầu đi Montreal thông qua Hoa kỳ. 
Vợ Thiệu vẫn đinh ninh như thế.&lt;/p&gt;
Một cách tuyệt đối bí mật, chiếc máy bay C.118 của không quân Mỹ đến Tân Sơn 
Nhất lúc 3 giờ sáng ngày 26-4 để chở thiệu đi di tản. Thiệu được báo trước một 
giờ để sửa soạn hành lý lần cuối cùng, kể cả chuyện lén lút chở đi số tiền 100 
nghìn đôla mà Kỳ nói là đầy ắp 4 vali thuộc quỹ dự phòng hờ trong dinh. Cựu thủ 
tướng và là tướng 4 sao Khiêm được báo trước 20 phút. Xe Mỹ chở họ đến Tân Sơn 
Nhất. Máy bay cất cánh đi Đài Loan. Chẳng có họp báo, chẳng có tường thuật việc 
Thiệu đến Đài Bắc. Cuộc ra đi của Thiệu âm thầm và hoàn toàn nhục nhã. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Quốc hội Sài Gòn họp sau lúc Thiệu ra đi. Một số ý kiến đồng ý với Martin nên cử 
Hương hay Trần Văn Lắm làm tổng thống. Lắm vẫn mơ ước chức vụ ấy và đến lúc này 
vẫn còn thèm. Khi cộng sản đã vây chặt Sài Gòn và sắp san nó thành bình địa thì 
Martin lại có ý kiến khác nữa là Hương hoặc Lắm, ai làm tổng thống cũng được, 
còn thủ tướng nên để cho Minh lớn. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trước lúc bình minh ngày thứ bảy, nhiều xe vận tải Bắc Việt Nam đỗ lại bên sông 
Sài Gòn cách thủ đô 6 dặm về phía Bắc. Chúng chở hoả tiễn và đạn pháo 105. Những 
đại bác và hoả tiễn này đã nằm vào các vị trí bắn sau những rặng cây. Chiến 
tranh bắt đầu trở lại sáng chủ nhật và báo hiệu bằng tin dữ: 4 hoả tiễn rơi 
xuống Sài Gòn. Đây là dấu hiệu cho thấy phút bắt đầu của giai đoạn cuối và ai 
nấy đều biết. Ba năm rưỡi, chưa có đạn pháo hay hoả tiễn rơi xuống Sài Gòn. Bây 
giờ chiến tranh đang rẽ sang một bước ngoặt mới, cho thấy Hà Nội sẵn sàng tấn 
công Sài Gòn. Thời gian cấp bách một cách tuyệt vọng. Sự xào xáo chính trị nội 
bộ bây giờ là một thứ xa hoa không còn chỗ đứng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Phòng tuyến sau cùng của Sài Gòn bắt đầu rung rinh vào sáng chủ nhật. Tại Long 
Thành, một trong những trận đánh bằng xe tăng dữ dội nhất cuộc chiến đã xảy ra, 
xe tăng Bắc Việt tràn ngập lên căn cứ thiết giáp của quân đội Sài Gòn. Trong 
vòng cung từ Đông Nam sang Đông Bắc chỉ còn căn cứ không quân Biên Hoà, đang bị 
cắt đứt ngày chủ nhật, lần cuối cùng và mãi mãi. Những cuộc tấn công dữ dội vào 
các tiền đồn ở Mỹ Tho-Long An đã đẩy sư đoàn 9 lùi về phía Sài Gòn. Phía Nam và 
Tây Nam Sài Gòn, 20 nghìn bộ đội Bắc Việt Nam chỉ còn cách Sài Gòn 15 dặm. Phía 
Tây Bắc Sài Gòn, dọc quốc lộ 1 đi Campuchia, vài sư đoàn Bắc Việt Nam đã cắt đứt 
con đường ấy, đẩy sư đoàn 25 giạt ra 2 hướng nằm ngoài xa vành đai Sài Gòn. Hai 
đại đội của sư đoàn 9 Bắc Việt Nam rẽ vào Gia Định, chốt các cầu trên quốc lộ 1 
gần cửa hàng tạp hóa Mỹ và kho chứa hàng viện trợ Mỹ. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Các tướng lĩnh Sài Gòn bắt đầu dàn thế trận lần cuối. Biệt động quân và lữ đoàn 
dù cuối cùng được dàn thành hình quạt tù phía Nam sang Đông Bắc Sài Gòn. Đó là 
lực lượng phòng thủ đáng thương hại, bị áp đảo với tỷ lệ 1 chọi 15. Phe Cộng Sản 
đang thiết lập vị trí tiền tiêu, thử phản ứng của quân đội Sài Gòn. Nhưng viên 
tướng 4 sao duy nhất trong quân đội lúc bấy giờ là Tổng tham mưu trưởng Cao Văn 
Viên đã lên máy bay riêng loại C.47 vào xế trưa thứ hai bay đi Băng-cốc. Hơn nửa 
số tướng lĩnh Sài Gòn đã bỏ chạy khỏi đất nước. Thủ tướng cuối cùng-Nguyễn Bá 
Cẩn cũng lên chiếc C.141 rời Sài Gòn. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/sg201.jpg" border="0"&gt;&lt;p&gt;
Ba hoả tiễn rơi xướng Sài Gòn ngày thứ hai. Không cần lời cảnh cáo nào thêm nữa 
về việc cộng sản sẵn sàng đánh chiếm Sài Gòn. Đến trưa, thính giả nghe đài phát 
thanh của sứ quán biết được Martin đang làm gì trong phần thời gian cuối trong 
ngày cuối khốn khổ này. “Đại sứ Tám có một bộ sưu tập những vật quý giá trao cho 
đại sứ (Mỹ) giữ gìn và ông ta cần một số người gói hàng. Ông ta cần khoảng 20 
hộp nhỏ, khoảng một tá hộp lớn hoặc thùng và một số chăn bông. Đại sứ Martin 
quan tâm trong vụ này: Chúng tôi muốn chuyển ông ta (Tám) và đi vào ngày hôm 
nay…”. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ai đó ở đầu bên kia đài phát thanh của đại sứ quán đã vạch cho thấy những vấn đề 
cụ thể trong việc chuyển đồ cổ của tướng 3 sao Trần Ngọc Tám, người đã trở thành 
bạn của Martin khi cả hai đều làm đại sứ tại Thái Lan trong thập kỷ 60. Có lẽ 
Martin muốn giúp đỡ gói ghém hành lý. Nhưng những người di tản khác thì đang ra 
đi một cách khôn ngoan. Họ bỏ lại tài sản cuộc đời-hay nói đúng hơn là tìm cách 
dồn tài sản cuộc đời vào trong một cái túi đeo vài thôi thì mới thoát được. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Minh lớn lái xe đến dinh, dù đoạn đường chỉ 5 phút đi bộ. Minh gặp Hương tại 
cửa. Khi Hương đọc diễn văn ngắn trao quyền cho Minh thì tổng thống mới xem lại 
bài viết. Minh bước lên diễn đàn hô hào thành lập một chính quyền gồm mọi thành 
phần chính kiến khác nhau. Đám mây trên Sài Gòn bung ra và trút xuống một cơn 
mưa lớn. Một tiếng sét và sấm rền âm vang làm im lặng căn phòng. Lúc ấy là 5 giờ 
15 chiều. Minh bước ra khỏi dinh, về ăn cơm chiều thì 5 chiếc phản lực A.37 đang 
bay thẳng về phía sân bay Sài Gòn. Những lệnh ngắn qua điện đài được đánh lên 
máy bay, yêu cầu chúng cho biết xuất xứ. Không có câu trả lời nào. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Minh họa mấy chiếc A-37 &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/a37.jpg" border="0"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&amp;nbsp;&lt;/p&gt;
&lt;img src="http://img.photobucket.com/albums/v655/aloxio/Gai/a37202.jpg" border="0"&gt;&lt;p&gt;
Ba hoả tiễn rơi xuống SG vào ngày thứ hai. Không cần lời cảnh cáo nào thêm nữa 
về việc Cộng Sản sẵn sàng đánh chiếm SG. Đến trưa, thính giả nghe đài phát thanh 
của sứ quán biết được Martin đang làm gì trong phần thời gian cuối trong ngày 
cuối khốn khổ này. &amp;quot;Đại sứ Tám có một bộ sưu tập những vật quý giá trao cho đại 
sứ (Mỹ) giữ gìn và ông ta cần một số người gói hàng. Ông ra cần khoảng 20 hộp 
nhỏ, khoảng 1 tá hộp lớn hoặc thùng và một số chăn bông. Đại sứ Martin quan tâm 
trong vụ này: Chúng tôi muốn chuyển ông ta (Tám) đi vào ngày hôm nay...&amp;quot; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ai đó ở đầu cầu bên kia đài phát thanh của đại sứ quán đã vạch cho thấy những 
vấn đề cụ thể trong việc chuyển đồ cổ của tướng 3 sao Trần Ngọc Tám, người đã 
chở thành bạn của Martin khi cả hai đều làm đại sứ tại Thái lan trong thập kỷ 
60. Có lẽ Martin muốn giúp đỡ Tám gói ghém hành lý. Nhưng những người di tản 
khác thì đang ra đi một cách khôn ngoan. Họ bỏ lại tài sản cuộc đời - hay đúng 
hơn là tìm cách dồn tài sản cuộc đời vào trong một cái túi đeo vai thôi thì mới 
thoát được... &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Minh lớn lái xe đến dinh, dù đoạn đường chỉ 5 phut đi bộ. Minh gặp Hương tại 
cửa... Khi Hương đọc diễn văn ngắn trao quyền cho Minh thì tay tổng thống mới 
xem lại bài viết. Minh bước lên diễn đàn hô hào thành lập một chính quyền gồm 
mọi thành phần chính kiến khác nhau... Đám mây trên SG bung ra và trút xuống một 
cơn mưa lớn. Một tiếng sét và sấm ầm vang làm im lặng căn phòng. Lúc ấy là 5 giờ 
15 chiều. Minh bước ra khỏi dinh và về ăn cơm chiều thì 5 chiếc phản lực A.37 
đang bay về phía sân bay SG. Những lệnh ngân qua điện đài được đánh lên máy bay 
đã yêu cầu chúng cho biết xuất xứ. Không có câu trả lời nào... &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Đại tá Tuấn, tham mưu phó hành quân của SG làm việc với sư đoàn 5 không quân 
tình cờ có mặt tại đài kiểm soát không lưu. Tuấn đang ra lệnh cho chuyến bay 
khác ngừng lại vì có đám mây đen tích điện. Tuấn nghi ngờ 5 chiếc A.37, bèn ra 
lệnh gọi đi Cần Thơ và Biên Hoà. Các căn cứ này trả lời họ không bay. Thật ra nó 
từ Phan Rang tới và do các phi công Bắc Việt Nam lái. Không có chuyện bay thử 
ngang qua một lượt. Ngay trong lần đầu tiên bay qua căn cứ, những phi công lái 
MIG lão luyện này đã bấm nút thả bom, một tá bom loại 500 cân Anh rơi xuống khu 
vực quân sự. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Bài diễn văn kêu gọi thương thuyết của Minh lớn được A.37 trả lời sau 35 phut 
tính từ khi Minh ngừng nói. Tại Tân Sơn Nhất, hàng ngàn người đều kinh hoàng. 
Chưa mấy người đã nằm dưới trận ném bom. Trong hầu hết mọi tần số, tiếng gọi qua 
điện đài loạn xạ xin được hướng dẫn làm gì. Một người Mỹ trong sứ quán nói với 
các người đang nghe tần số của mình: &amp;quot;Chẳng thể làm gì được cả. Nằm sấp xuống và 
nín thở thôi&amp;quot;. Người khác nói: &amp;quot;Chúng tới phía trước, ôm lấy hai bắp chân vào 
mình, cuíu đầu xuống càng thấp càng tôt. Nếu cần, hôn từ giã cái mông của anh 
đi&amp;quot;. Tuấn muốn phóng các F.5 lên trời. Một lần nữa các phi công SG không có mặt 
trong máy bay theo quy định. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tại trung tâm SG, dân chúng biết chắc rằng cuộc tấn công sau cùng vào SG đã bắt 
đầu. Hơn 100.000 bộ đội Bắc Việt Nam và những người Việt Cộng dẫn đường đã trang 
bị lên vai sẵn sàng bằng SG. Từ bây giờ trở đi, nó sẽ là cuộc chiến tranh khong 
còn gì hạn chế và kiềm chế nữa. Đêm thứ hai, sau cuộc ném bom, các người phát 
ngôn SG cho biết điều kiện đi đến hoà bình là &amp;quot;giải trừ bộ máy chiến tranh và 
kìm kẹp của SG&amp;quot;. Nói khác đi, quyết định đã có rồi. SG sẽ phải đầu hàng quân sự 
hoặc là quân đội Bắc Việt Nam sẽ đáng chiếm thủ đô. Trường hợp sau, ít có hy 
vọng là họ sẽ thua trận.&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-8704216471563778628?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/8704216471563778628/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=8704216471563778628' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/8704216471563778628'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/8704216471563778628'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/05/55-ngy-ch-si-gn-sp-alan-dawson-chng-12.html' title='55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ Alan Dawson Chương 12'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-6350709197271451695</id><published>2008-05-10T00:57:00.000+07:00</published><updated>2008-05-10T00:58:14.217+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chiến tranh Việt Nam'/><title type='text'>55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ Alan Dawson Chương 9 10 11</title><content type='html'>&lt;p align="justify"&gt;&lt;b&gt;Chương 9 : Kẻ cầm đầu chế độ&lt;/b&gt; &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Hai ngày sau khi Phan Rang sụp đổ, tỉnh lỵ anh em với nó là Phan Thiết cũng bị 
Bắc Việt Nam chiếm nốt. Thế là Cộng Sản kiểm soát 20 tỉnh, trọn vẹn 2 quân khu, 
hai phần ba Nam Việt Nam rồi. Ở Sài Gòn, các thế lực đều đòi thủ cấp chính trị 
của Thiệu, kẻ cầm đầu chế độ. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Phe tự nhận là trung lập của Sài Gòn, không thích Cộng Sản và không thích chống 
+ cũng muốn Thiệu ra đi. Phe cực hữu cũng muốn Thiệu ra đi, và éo le thay, chính 
họ lại công khai tấn công vào sự tham nhũng của tổng thống. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Từ tháng 9-1974, nhóm này đã phổ biến “bản cáo trạng số 1”. Các nhật báo Sài Gòn 
đăng cáo trạng này đều bị tịch thu nhưng vẫn còn rất nhiều bản được chuyền tay 
trong dân chúng khắp đất nước. Những lời tố cáo đó mang tính chất nghiêm trọng 
và có giá trị tài liệu. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Thiệu, với lợi tức chỉ vài trăm đôla hàng tháng mà có hai căn nhà ở Sài Gòn, trị 
giá hơn 150 nghìn đôla, một nhà thuỷ tạ ở sát phía Bắc Sài Gòn, một “vila tráng 
lệ” ở Thuỵ Sĩ, nhiều đất đai ở vô số tỉnh. Vợ Thiệu xây cái gọi là bệnh viện cho 
người nghèo, đã dùng hàng lậu thuế để trang trải việc xây dựng, bòn rút ngoại 
viện vào túi và kết cục thì dân nghèo không thể vào bệnh viện này. Anh vợ Thiệu 
thì đầu cơ nâng giá phân bón hóa học do Mỹ cung cấp, bán cho nông dân với giá 
cắt cổ. Cố vấn cho Thiệu là Đặng Văn Quang và Trần Thiện Khiêm tổ chức buôn 
thuốc phiện lậu. Một người cô của Thiệu tích trữ đầu cơ và nâng giá gạo, thâu 
tóm nhiều phương tiện vận tải để làm giàu. Thiệu còn “nhận quà” bằng đất đai, 
dùng công binh xây trang trại riêng… &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Những lời tố cáo như bom nổ. Tuy bản cáo trạng thứ hai không gây náo động như 
bản cáo trạng thứ nhất, nhưng lại được dư luận rộng rãi tin. Thế là những người 
cánh hữu cương quyết đòi uống máu Thiệu về mặt chính trị. Còn ở mức độ rộng lớn, 
quân đội Sài Gòn muốn Thiệu ra đi vào tuần thứ nhì của tháng 4-1975. Đây là lá 
phiếu quan trọng nhất chống lại tổng thống. Sau 10 năm ở chức vụ cao nhất tại 
Nam Việt Nam trong đó 8 năm làm tổng thống, năm 1975 Thiệu là người giàu nhất 
Nam Việt Nam nhờ tham nhũng. Trong chức vụ, Thiệu không hề được phép nhận hơn số 
lương 600 đôla mỗi tháng, và có lẽ từ 300 đến 400 đôla phụ cấp. Thế nhưng dù xét 
bất cứ tiêu chuẩn nào, thì Thiệu đã và vẫn còn giàu sụ. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Làm thế nào giàu được, đó là chuyện phức tạp và quanh co. Những gì sắp kể ra đây 
chắc chắn là không đủ. Cái biết được là với hai trường hợp ngoại lệ-một vila ở 
Thuỵ Sĩ và một ngân hàng Sài Gòn bị phá sản-còn tên thì cả Thiệu lẫn tên vợ 
Thiệu đều không tim thấy trong bất cứ hồ sơ nào. Thế mà họ đã trở nên giàu có. 
Theo các cuộc phỏng vấn và các nguồn điều tra khác thì gia đình Thiệu đã ăn cắp 
hàng trăm triệu đôla. Đó là tiền thuế của dân Mỹ và dân chúng đất nước họ. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Công cuộc làm tiền của Thiệu là dựa trên chiến tranh và môi trường cuộc chiến do 
viện trợ Mỹ nuôi dưỡng. Có lẽ Thiệu thành thật tin rằng không bao giờ thương 
lượng được với Cộng Sản. Thiệu tin như vậy nên cuộc chiến tiếp tục. Bởi vì cuộc 
chiến tiếp diễn nên Thiệu và gia đình Thiệu giàu thêm. Ở hạ tầng, sự tham nhũng 
đơn giản. Nhưng ở thượng tầng, nó là một mạng lưới phức tạp. Cũng như đảng 
maphia, nó lấy việc bảo vệ tay thủ lĩnh làm mục đích chính. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Ở hạ tầng, nó là sự mua bán thế lực vụn vặt, bảo vệ và tống tiền. Một tiệm thuốc 
đường Catinat bán công khai thuốc cần sa nha phiến cho lính Mỹ vì chủ tiệm được 
cảnh sát bảo vệ. Các chỉ huy Mỹ cấm lính tới đó vì thuốc ma tuý được chuyển qua 
gái bán bar. Những tay buôn gỗ ở Tây Nguyên hoạt động được vì các cấp chỉ huy 
quân đội được trả một số phần trăm lợi nhuận. Tiền lời ngừng trả thì đoàn xe trở 
gỗ bị phục kích bởi &amp;quot;du kích Việt Cộng&amp;quot; &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Khi tham nhũng trở nên quan trọng và số tiền dính líu nhiều hơn thì hệ thống trở 
thành một mạng lưới hình tháp. Ngồi trên đỉnh tháp tham nhũng tại Nam Việt Nam 
là Thiệu. Tháp chỉ là công cụ tổ chưc không nhất thiết là con đường chuyển tiền. 
Bằng cách cho những người xung quanh cái tháp ấy tự kiếm ăn, Thiệu tạo được ân 
nghĩa và những món nợ quyền lực. Từ 1965 - 1975, y đã tạo hàng ngàn hoặc hàng 
vạn ơn nghĩa. Khi cần đền đáp thì lớn bé trong cái tháp ấy răm rắp tuân theo.
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Phải hiểu rằng ở Nam Việt Nam, dù hiến pháp có được tuân theo triệt đểthì tổng 
thống vẫn có quyền lực bao la. Thiệu có quyền nhiều hơn cả hiến pháp cho phép. 
Là chủ tịch hội đồng tướng lĩnh, một cơ quan nằm ngoài hiến pháp, Thiệu nắm 
quyền hành trưởng hội đòng này. Là tổng tư lệnh quân đội, đứng đầu tổ chức hành 
chính công vụ, một tay Thiêuh nắm hơn 3 triệu chỗ làm, một nửa chỗ công ăn việc 
làm của chế độ. Thiệu giữ toàn quyền bổ nhiêm thăng thưởng, giáng và cách chức 3 
triệu người giữ các chỗ làm ấy, không uỷ nhiệm cho ai. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Tiền bạc tuồn lọt từ cao xuống thấp và ngược lại. Mỗi cấp rut bớt phần ra để 
chia xẻ cho họ. Đó là hoạt động của đường dây tham nhũng. Nhưng hình như Thiệu 
không thèm làm. Tiền hậu tạ của chủ hiệu Bar, kiều dân nhập cư bất hợp pháp... 
không đến tay Thiệu. Y thu lượm ân nghĩa và dùng ơn nghĩa giúp tay tổng thống 
này lám giầu theo các kế hoạch riêng. Phương pháp thu lượm ơn nghĩa được G. 
Lansdale mô tả như sau: &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&amp;quot;... Guồng máy dân sự và quân sự hoạt động theo một chế độ chủ nhân xoay quanh 
mỗi tư lệnh quân đoàn. Mỗi người đã bổ nhiệm và cách chức một tỉnh trưởng, quận 
trưởng&amp;quot;. Năm 1975, Thiệu bổ nhiệm và cách chức thường xuyên 4 tư lệnh quân đoàn, 
nắm phần lớn lớn việc bổ nhiệm tư lệnh sư đoàn, như vậy là còn nắm quyền kiểm 
soát nhiều hơn cái chế độ mà Lansdale đã nói trong năm 1958. Một thí dụ đặc biệt 
cho thấy cách thứ hoạt động của Thiệu. Năm 1973 y thăng cấp lên tướng 3 sao cho 
Nguyễn Vĩnh Nghi và bổ nhiệm Nghi làm tư lệnh quân đoàn 4, tức là Nam Bộ. Nghi 
được tự do xoay xở làm giầu. Vào giữa nam 74, các nguồn tin sứ quán Hoa Kỳ nói 
rằng 8.000 điện đài và 25.000 khẩu súng M.16 và vũ khí nhỏ khac đã biến mât khỏi 
kho quân khu 4 trong thời gian Nghi làm tư lệnh. Bản cáo trạng số 1 buộc Thiệu 
có hành động tượng trưng để dẹp tham nhũng, thì tay tổng thống đã phải cách chưc 
Nghi. Hai tướng lĩnh khac thuộc quân khu 3 đã bị nhôt năm 1974 khi những người 
đi điều tra của cả quân đội SG lẫn sứ quán Hoa Kỳ nói là tụi này đã cố tình bán 
gạo cho Việ Cộng. Hai người đó là Trần Quốc Lịch của sư đoàn 25 Tây Bắc SG và Lê 
Văn Tư của sư đoàn 5 ở hướng Bắc thủ đô. Việc bán lương thực và trang bị quân sự 
cũng như giấy hoãn quân dịch trong 2 sư đoàn đã làm hai đơn vị này về mặt tác 
chiến trở nên vô hiệu lực. Đến lúc chúng buộc phải ném vào trận đánh ở SG tháng 
4-1975 thì sư đoàn 25 đã không thể nào hành quân như lực lượng chiến đấu.&lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;Những bổ nhiệm vào hàng tá chức vụ như thế là do Thiệu làm ra, với cách tính 
toán là tạo ra ơn nghĩa để dùng sau này. Một viên tướng được Thiệu bổ nhiệm là 
có thể tự do xây dựng mạng lưới tham nhũng riêng của mình. Kiếm tiền bằng cách 
ghi vào sổ lương sư đoàn những lính ma. Bán những chỗ làm việc an toàn tránh xa 
chiến trường cho binh sĩ nào muốn và đủ sưc trả cái giá đưa ra. Bán trang bị 
dành cho đơn vị ra chợ trời, thậm chí bán cả cho Việt cộng. Họ cố tránh bán vũ 
khí sợ Mỹ biêtthí phải mở cuộc điều tra, còn đồ dùng nhà ăn tập thể, quân phục, 
xe Jeep, giầy cao cổ thì mang lại nhiều tiền và các mặt hàng này tràn trề ngoài 
chợ trời chứng tỏ các sĩ quan cao cấp phải nhúng tay vào. Xăng trở thành mặt 
hàng đắt khách ở chọ trời sau khi khối Ả rập nâng giá. Một số tướng lĩnh SG rỗ 
ràng đã điều khiển các đường dây, bảo vệ đám con buôn chợ trời và buôn lậu. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Họ làm tiền thế nào, Thiệu không cần để ý. Chỉ có quy định ngầm là phải tránh 
các đường dây do tay tổng thống này và gia đình điều khiển. Thiệu côt tạo ơn 
nghiã và ta sẽ xem ân nghĩa được đáp trả như thế nào? &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Tướng lĩnh do Thiêubổ nhiệm có quyền bổ nhiệm cấp thuộc hạ của mình. Ở đây, tiền 
mặt được trao tay. Chỗ làm cao giá nhất là chỉ huy trưởng cảnh sát Chợ Lớn, khu 
người Hoa. Chức vị đó khoảng 15 triệu tức khoảng 130.000 đô la. Chỗ này dễ kiếm 
tiền đến nỗi chỉ sau 2-3 tháng là đủ tiền trả chỗ. Các đại tá quân đội phải mua 
80.000 đô la nếu muốn làm tỉnh trưởng Châu Đốc, giáp biên giới với Cambodia. 
Nguồn thu chính là qua các tay buôn lậu trâu bò, tiền lời đến theo đầu súc vật 
qua biên giới. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Đi dần lên trong các cấp chính quyền, hầu hết các bộ trưởng đã xoay xở làm giầu 
bằng tham nhũng. Điển hình là Phạm Kim Ngọc, bộ trưởng kinh tế được Mỹ thích, đã 
xoay xở mở được trương mục 8 triệu đô la ở Đài Loan bằng cách lấy &amp;quot;tiền hoa 
hồng&amp;quot; do việc đảm bảo những hợp đồng của các công ty muốn làm ăn ở Việt Nam. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Nhưng so chuyện Thiệu và gia đình tay tổng thống này làm thì các chuyện trên 
không đáng kể. hai người làm tấm che gió án ngữ sự tham nhũng hàng triệu đô la 
cho Thiệu là Nguyễn Thị Mai Anh, vợ thiệu và Lý Long Thân, tên chồng người Hoa 
của cô em gái nuôi Mai Anh. Những số tiền lớn từ đó đi vào các trương mục ngân 
hàng của Thiệu ở Singapore, Thuỵ Sĩ, chia lời thầm lặng ở Đài Loan, Guam, Hawai 
vv... &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Những dính líu của Mai anh khó xac lập thành hồ sơ. Mụ ta là một tay mê say kim 
cương có tiếng. Trong các cuộc chiêu đãi, mụ ta bàn bạc về kim cương một cách 
thông thạo với các mệnh phụ trong đoàn ngoại giao và khách mời. Mai Anh thường 
đeo một viên kim cương lớn khi đi ra ngoài và luân chuyển các nữ trang kim cương 
thành sưu tập lớn. Theo một số người thì mụ ta có một bộ sưu tập về kim cương 
hạng nhất châu Á, cả về số lưọng lẫn chất lượng. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Nguồn thu nhập quan trọng của Thiệu là buôn lậu, cả trong lẫn ngoài Việt Nam. 
Kim lọai vụn: đồng, sắt, đặc biệt đồng là món hàng xuất khẩu béo bở nhất. Đồng 
là phần còn lại của những viên đạn và đại bác bắn đi. Sắt là tàn tích của xe 
tăng, xe vận tải và máy bay bị hư hại trong chiến tranh. Kim loại vụn lúc đó là 
mặt hàng được giá trên mọi thj trường, đặc biệt tại Nhật vì giá thép tăng cao. 
Một triệu lính bắn biết bao đạn dược. Họ dùng hỏng bao nhiêu xe tăng, xe vận 
tải, xe jeep, máy bay, điện đài, máy đánh chữ. Trong lúc rut đi, nó bị bỏ lại ở 
chiến trường, được thu gọn về các kho sắt vụn và bắt đầu cuộc đời mới là vật làm 
ra tiền cho Thiệu. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Bản thân việc buôn lậu thì đơn giản, cần it người nhúng tay. Kẻ nào nhúng tay 
đều mang ơn nghĩa của Thiệu. Chính vào giai đoạn này của cuộc làm ăn, tay tổng 
thống này mới gọi đến những tướng tá vốn mắc nợ Thiệu về chức vụ mang ân nghĩa 
đến. Trả ơn thật đơn giản. Các anh hãy quay mặt đi đúng lúc và ra lệnh cho thuộc 
hạ cũng làm như thế. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Kim loại phế thải trở bằng xe nhà binh, phủ bạt kín để tránh các cặp mắt tò mò. 
Điểm trở hàng đến thường là cẳng SG. Tay tổng thống cũng dễ dàng đòi các viên 
chức ở đây quay mặt đi chỗ khác. Tầu chở thuê đăng ký quốc tịch Panama, thuỷ thủ 
là người Nam Triều Tiên. Ra đến biển khơi thì các tay tài phiệt Mỹ mới nhúng tay 
vào. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Mai Anh đích thân lo việc lấy tiền hàng. Lý Long Thân thì sắp xếp các chi tiết 
tẩy xoá sự tham nhũng ở các ngân hàng Đài Loan, Hongkong, Singapore, Philipin, 
Guam. Mai Anh thỉnh thoảng dùng lý do che đậy là đi thăm con ở châu Âu để bỏ 
tiền vào ngân hàng hay biến nó thành đồ nữ trang. Trong một chuyến đi như vậy 
năm 1972, Mai Anh đã mua một villa ở Thuỵ Sĩ. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Việc buôn lậu ra nước ngoài đáng trách nhưng it gây hậu quả cho cuộc chiến. Buôn 
lậu trong nước gây chết chóc, kéo dài chiến tranh và giúp sức trực tiếp cho Việt 
Cộng. Hàng không Việt Nam (Air Vietnam) từ SG bay đến 11 thành phố châu Á nằm 
dưới quyền điều khiển của Trung. Con trai Trung là chồng con gái Thiệu. Các 
khoang chứa hàng của máy bay E Vietnam (Air Vietnam) từ Tokyo, Hongkong, 
Singapore về đều chất đầy hàng. Rượu, thuốc lá, son phấn, hàng điện tử, cúc áo, 
đồ dùng phòng ăn... hầu hết những thứ nhét lọt qua khoang chở hàng đều có mặt 
trên các chuyến bay phản lực về Việt Nam, được biết là đều theo chỉ thj của vợ 
Thiệu. Hàng về, binh sĩ SG bao quanh máy bay đông nghẹt. Họ bốc xuống xe nhà 
binh những thùng rượu Pháp, hàng Nhật, Hongkong trước con mắt của khách nhìn qua 
cửa sổ. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Sự tham nhũng của Thiệu đặc biệt có hại cho Nam Việt Nam kể rừ 1972 trở đi, khi 
Nam Việt Nam chệnh choạng trên bờ vực phá sản. Viện trợ của Mỹ giảm, giá hàng 
lại tăng. Thiệu, đám bạn bè và gia đình tay tổng thống mỗi ngày một giầu. Dân 
chúng thì mất niềm tin ở tổng thống của họ. Đến giữa tháng tư, khi Thiệu bước 
sang năm thứ 10 làm quốc trưởng Nam Việt Nam thì sức ép đãquá lớn rồi. Vấn đề 
không còn là Thiệu có ra đi hay không mà phải ra đi và như thế nào. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Chỉ có Graham Martin là không muốn Thiệu ra đi. Theo lời một số người trong đám 
thân tín của viên đại sứ thì Martin cho rằng &amp;quot;Thiệu là tổng thống duy nhất mà 
chúng ta (Mỹ) có thể kiếm được&amp;quot;. Cái mà Martin hy vọng là Thiệu chịu thương 
lượng với Hà Nội để tìm kiếm hoà bình. Martin đã mất không biết bao thời gian để 
thuyết phục Thiệu. Như vậy thì buộc Thiệu phải quỳ xuống van xin thương lượng để 
Hà Nội và Việt Cộng nhổ nước bọt vào mặt mình. Thiệu không chịu và chiến tranh 
cứ kéo dài.&lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;&amp;nbsp;&lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;&lt;b&gt;Chương 10: &amp;quot;Guốc bai - ông Mỹ&amp;quot;&lt;/b&gt; &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Đêm ấy, khi SG đã đi ngủ thì tổng thống Ford bắt tay hành động ở Washington. 
Những lời chỉ trích đã lên đến tột cùng, tất cả nhằm tố cáo Martin kéo dài lê 
thê cuộc di tản người Mỹ. Martin lập luận rằng việc di tản người Mỹ sẽ làm đất 
nước ấy hoảng loạn và làm chi sự đầu hàng trở thành không tránh khỏi được, nó sẽ 
làm chiến thắng của Cộng Sản nhanh hơn. Điều tệ hại nhất là có thể gây ra hoảng 
loạn ở SG, nếu đem so sánh thì ngay sự hoảng loạn ở Đà nẵng cũng chẳng thấm tháp 
gì... &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Giờ đây, nhiều người Mỹ đang ló mặt khỏi cái tủ SG kín mít. Sứ quán tin rằng có 
lẽ khoảng 6.000 người Mỹ sẽ di tản nếu bắt đầu cuộc di tản vào giữa tháng tư. 
Nhưng khi cuộc tấn công thần tốc của Bắc Việt Nam đẩy mạnh thì ngày càng có 
nhiều công dân Mỹ xuất hiện. Nhiêug người là quân nhân về hưu. Họ chọn SG để 
sống vì nhiều lý do khác nhau, thường là do chuyện giá rượu rẻ và số lượng thiếu 
nữ quá thừa thãi. Những người khác là người Việt Nam nhập tịch Mỹ. Rồi lại còn 
thành phần đào ngũ nữa. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Chẳng ai biết có bao nhiêu người Mỹ bỏ trốn khỏi quân đội ở Nam Việt Nam. Con số 
điều tra đi đến ước lượng khoảng 300 bih sĩ. Số này sống tại SG, dùng mánh lới 
bỏ vợ bên Mỹ. Nhiều người dính líu đến chuyện buôn ma tuý và là tay buôn lẻ. 
Nhiều người khác đã xong được hộ chiếu và sống đàng hoàng. Giữa 15 và 28-4, 277 
người đến trình diện tại các địa điẻm nhận di tản và cho biết họ là công dân Mỹ. 
Chẳng ai có giấy tờ trong mình, đều là người Âu da trắng, da đen, nói tiếng Anh 
giọng Mỹ. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Mệnh lệnh công khia của Ford là đem hết người Mỹ &amp;quot;không cần thiết&amp;quot; ra khỏi SG. 
Chẳng ai giải thích tại sao viên chức Mỹ &amp;quot;không cần thiết&amp;quot; lại có mặt ngay từ 
đầu làm gì và nhiều đến thế. Nó được ban hành không phải chỉ vì sự động tâm muốn 
cứu vớt sinh mạng mà vì đừng trông mong quốc hội bỏ phiếu viện trợ cho SG trừ 
phi hầu hết người Mỹ trong vùng chiến trận được mang đi nhanh chóng. Martin 
chẳng thích chuyện này, nhưng không ngăn cản được. Một viên chức cao cấp trong 
giới chức Mỹ ở Việt Nam sẽ làm việc để thực hiện kế hoạch. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Hai ngày sau khi Phan Rang sụp đổ, Martin vẫn chưa lấy lại được sức khỏe, vẫn 
còn bị hoành hành bởi bệnh sưng phổi đã mắc phải ở Hoa Kỳ. Trong điều kiện bình 
thường thì đại sứ đã phải nằm bệnh viện hoặc ít ra cũng nằm trên giường tại nhà. 
Nhưng bây giờ con bài đã ném ra, những quyết định quan trọng xẩy ra hàng ngày, 
gần như hàng giờ nên Martin khăng khăng đòi có mặt ở chỗ làm việc. Martin muốn 
nắm chặt sứ quán, đích thân làm ra mọi quyết định thường thường là bí mật. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Viên đại sứ miễn cưỡng thi hành lá thư của tổng thống Ford trong việc đẩy mạnh 
cuộc di tản người Mỹ ở Nam Việt Nam. Giống như một thuyền trưởng, ông ta ra lệnh 
cho đàn bà trẻ con đi trước rồi mới chấp thuận giảm bớt nhân viên sứ quán. Về 
quan hệ của Mỹ với Nam Việt Nam, Martin vẫn tin Thiệu là một tay tổng thống được 
dân bầu mặc dầu không phải là được dân ưa thích. Câu trả lời của Martin là dù 
thích hay không, Thiệu vẫn là tổng thống, tháng 10-1975 sẽ hết hạn, khi ấy cử 
tri có thể đuổi Thiệu khỏi vị trí. Martin quả là có nói chuyện với tay tổng 
thống này vài ba lần. Trong tuần lễ cuối cùng nắm giữ chức vụ, Thiệu ít kiếm 
được đồng bào nào của mình để dựa. Viên chức, chính trị gia, tướng lĩnh đều đòi 
uống máu Thiệu. Chỉ Martin là chỗ dựa và lời đe doạ của Martin sẽ cắt toàn bộ 
viện trợ của Mỹ mới làm các tướng lĩnh SG chùn tay làm đảo chính Thiệu. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Martin gặp Thiệu vào thời điểm Nghi bỏ Phan Rang vĩnh viễn để tim cách bơm hơi 
cho tay tổng thống trong khi chính thể xác ông ta chẳng khoẻ gì. Viên đại sứ đã 
nói Hoa Kỳ đặt trọn niềm tin ở Thiệu vì Thiệu là tổng thống dân cử của Nam Việt 
Nam. Martin khuyến khich Thiệu đừng từ chức. Martin nói trong hiện tại, Thiệu 
nên giữ cho vững. Mỹ vẫn cam kết với chính quyền Thiệu về sự tồn tại của &amp;quot;VNCH&amp;quot;. 
Viện trợ Mỹ sẽ đến SG. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Thiệu lại nghĩ khác. Sứ quán Nam Việt Nam ở Mỹ cho Thiệu biết là khó có thêm 
viện trợ. Trong cuộc nói chuyện với Martin Thiệu đòi máy bay Mỹ nhảy vào cuộc 
chiến. Thiêụ nói với viên đại sứ rằng không có sự giúp đỡ của Mỹ thì Thiệu sẽ từ 
chức, &amp;quot;guốc bai ông Mỹ&amp;quot; &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
* &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Cuộc tấn công thăm dò đầu tiên trong trận đánh cuối cùng và SG xảy đến ngày 
18-4. Một toán đặc côngCộng Sản đã tấn công cứ điểm truyền tin Phú Lâm. Trên một 
khía cạnh Cộng Sản đã mang chiến tranh gần đến SG. Khía cạnh khác là các nhà 
quân sự đều cho rằng đó là cuộc tăm dò phòng thủ, thử phản ứng và di chuyển của 
quân đội SG. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Trực thăng vũ trang ở Tân Sơn Nhất đã phản ứng nhưng SG sẽ gặp khó khăn nếu trận 
đánh lớn xảy đến. Quân đội SG chỉ còn 1 lữ đoàn dù, đôi ba tiểu đoàn quân biệt 
động ở nội thành. Không quân chẳng còn mấy nữa. Các bộ tham mưu cố tái lập một 
số đơn vị nhưng chẳng tiến triển gì mấy. Các đơn vị khác còn ở tư thế nào đó để 
phòng thủ SG là: &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
- Sư đoàn 5, đóng ngay phía Bắc SG, bị xem là tác chiến không hữu hiệu, do nạn 
tham nhũng là suy yếu đơn vị không sửa chữa nổi. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
- Sư đoàn 25 còn tệ hơn cả sư đoàn 5 đóng ở Bắc SG. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
- Sư đoàn 9 khá hơn, nằm cách SG 25 dặm về phía Nam. Bộ Tổng tham mưu phá các 
tiền lệ ranh giới bất khả xâm phạm giữa các quân khu định cho sư đoàn 9 vượt lên 
quân khu 3. Một khu vực rộng lớn ở phần phía Bắc ĐBSCL bị bỏ ngỏ cho Cộng Sản. 
Các đơn vị Việt Cộng đi vào các làng mạc và nắm quyền kiểm soát mà không gặp sự 
chống đối nào. Cái thòng lọng đặt lên cổ SG đang xiết chặt dần, chẳng còn chỗ 
nào để Thiệu xoay xở gì nữa. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Martin trong khi bất tuân lệnh đẩy mạnh cuộc di tản thì lại xoay trần ra làm cái 
mà ông ta coi đấy là nhiệm vụ chính của mình. Đó là việc ngăn chặn sự hoảng loạn 
rõ ràng là đang lớn lên trong những mảng lớn dân chúng Việt Nam. Quân đội SG đã 
tháo chạy ở tất cả mọi nơi mà nó gặp phải thử thách, ngoại trừ Xuân Lộc nhưng 
cũng đang bị sưc ép nặng nề. Ít nhấy cũng là 100.000 bộ đội Cộng Sản, 10 sư đoàn 
bộ binh và lực lượng yểm trợ đang ở trong khoảng cách SG một hai ngày đường. SG 
được phòng thủ bởi các đơn vị bộ binh tồi mà hầu hết những người am hiểu đều tin 
rằng chúng sẽ co rut nhanh chóng sau phut đầu chạm súng. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Thiệu sẽ không từ chức, tay tổng thống này nói thế nhưng trên thực tế thì Thiệu 
đang suy yếu. Thiệu nói rằng sẽ không co thương lượng. Martin muốn Thiệu ở lại 
để tìm cách mặc cả. Cộng Sản đòi Thiệu cút đi và nói thẳng rằng nếu còn Thiệu 
thì sẽ tàn phá SG. Mỹ thì lo việc di tản. Phe Việt Nam thân Mỹ thì hoảng loạn, 
chẳng còn làm ăn được gì. Mọi người Việt Nam đều có khả năng gây thương tích cho 
Thiệu và chán Mỹ, muốn gút-bai người Mỹ. Sự căm ghét của họ đối với Thiệu quá 
sâu đậm rồi. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Nói cách khác, chiến tranh Việt Nam sắp đến hồi kết thúc.&lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;&amp;nbsp;&lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;&lt;b&gt;Chương 11: &amp;quot;Người Mỹ các ông...&amp;quot;&lt;/b&gt; &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Ba năm rưỡi qua, kể từ 20-12-1971, SG là hòn đảo kỳ quặc trong chiến tranh, 
không bị bom đạn đụng đến. Nó có và cách chiến trận 1.000 dặm nên không phải là 
chiến trường. Nhưng nó đang là chiến trường bởi vì SG là trung tâm của vùng 
chiến trận. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Khi Hà Nội bị B.52 tập kích thì SG chan hoà ánh nắng. Khi lính chết la liệt ở 
các tỉnh quanh nó thì SG bình yên. Đến tháng 4-1975, nó căng thẳng hơn đôi chut 
. Thế là biết cuộc chiến sắp kết thúc. Cộng Sản sắp sửa nhẩy lên chỗ ngồi của 
người cầm lái để làm chủ chiếc xe. Chiến tranh đang đến gần với SG, Tiếng nổ kho 
đạn ở Biên Hoà có thể nghe thấy được, &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Cản trở duy nhât cho sự dàn xếp hoà bình trước khi khói lửa chiến tranh bốc lên 
ở SG được xem là Thiệu. Tiếng rít lên đòi thủ cấp chính trị của Thiệu vang động 
ngày chủ nhật tương đối yên tĩnh này. Ở mọi nơi &amp;quot;trừ văn phòng lầu ba ở toà đại 
sứ Hoa Kỳ&amp;quot; (văn phòng Martin), người ta đều chấp nhận là Thiệu phải đi thôi. 
Thiệu hết thời rồi. Tay tổng thống này còn ngồi đấy thì chiến tranh sẽ đến với 
SG. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Suốt ngày 20-4, Thiệu ngồi ở hầm trú bom dưới dinh Độc lập. Xế trưa thứ bẩy, một 
chiếc trực thăng đáp xuống sân cỏ của dinh. Từ trực thăng bước ra là tướng 4 sao 
Cao Văn Viên và tướng 3 sao Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh vùng 3 bao quanh SG. Gặp 
được Thiệu, Toàn đi ngay và trọng tâm: &amp;quot;Thưa tổng thống, cuộc chiến coi như 
xong&amp;quot; Toàn nói vậy. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Toàn nắm cuộc họp ấy, Toàn muốn Viên đi theo chỉ vì tay tổng thống này tin VIên 
hơn và Toàn muốn Viên làm một nhân chứng, Toàn bảo Thiệu là Phan Rang tiêu tan 
rồi, điều mà 3 ngày qua được giữ kín với Thiệu. Vĩnh Nghi đã bị bắt, Căn cứ 
không quân rơi vào tay Cộng Sản. Phan Thiết sụp đổ nhanh chóng. Chắc chắn Cộng 
Sản sẽ quay sang quốc lộ 1 để tràn xuống, không cần theo đường bờ biển đi vào 
SG. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Toàn nói cả chuyện gì đã xảy đến cho mồ mả gia đình Thiệu ở Ninh Chữ. Tay tổng 
thống này, tay chân vốn đã run rẩy, mặt mày trở nên trắng bệchkhi nghe Toàn nói 
điều đó. Toàn định ém chuyện này đi nhưng quá nhiều người đã biết chuyện. Nghi 
cũng đã đánh điện tín về Biên Hoà trước khi rời Phan Rang. Chuyện ủi sập mồ mả 
tổ tiên Thiệu là đầu đề trò chuyện ở sở chỉ huy của Toàn. Toàn nghĩ tôt hơn hết 
là nên nói thẳng tin này cho Thiệu biết hơn là để y nghe thiên hạ xầm xì. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Cả Viên và Toàn đều ngạc nhiên khi không thấy Thiệu nổi giận lôi đình. Viên nghĩ 
cách để nói rằng chuyện xảy ra là hậu quả hành động của Thiệu. Nhưng Thiệu đã 
quay đi bước vào phòng nghỉ, không buồn bảo Toàn và Viên về nghỉ. Hai viên tướng 
tự động bước ra ngoài. Đấy là chuyện của ngày thứ bẩy. Giờ đây là chủ nhật. 
Thiêụ đang ngồi im như tượng. Thiệu cũng không nói gì trong 24h qua ngoài câu 
dặn dò khôngtiếp ai cả. Nửa ngày thứ bẩy, cả ngày chủ nhật và sáng thứ hai Thiệu 
rút vào cô độc, không ăn uống gì mặc dầu tronghầm chứa nhiều thức ăn... Phòng 
báo chí vẫn loan baotóng thống sẽ dự lễ kỉ niệm Hùng Vương vào chiều thứ hai. 
400 nhà báo nước ngoài vẫn chờ sẵn để quan sát tổng thống vào thời điểm khủng 
khoảng. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Cùng lúc ấy Lê Minh Đảo, chỉ huy sư đoàn 18 ở Xuân Lộc biết rằng thành phố kể 
như tiêu rồi. Đêm chủ nhật, sáng thứ hai, Cộng Sản đã chuyển quân vào để dứt 
điểm. Lữ đoàn dù SG đã sa lầy trong rừng cao su, trung đoàn dự bị của sư đoàn 
không hy vọng chọc thủng vòng vây nữa. Suốt đem, tỉnh lỵ bị pháo kích. Hoả lực 
tấn công của Cộng Sản còn hơn bất kỳ đơn vị bộ binh Mỹ mà Đảo đã biết. Tiền đồn 
xung quanh Xuân Lộc lần lượt sụp đổ. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Sau rạng đông, Đảo nói chuyện bằng điện đài với sở chỉ huy Biên Hoà. Biết là 
Toàn không có mặt tại đó, nhưng đã dặn lại truyền lệnh giữ Xuân Lộc càng lâu 
càng tôt. Không còn kiểu ra lệnh của Thiệu là giữ bằng mọi giá. Đến nửa buổi 
sáng thí sư đoàn 18 rõ ràng là tuyệt vọng. Xuân Lộc, biểu tượng tử thủ của quân 
đội SG sắp sụp đổ. Đảo ra lệnh rut bỏ vị trí và chạy. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Thiệu cũng bước ra khỏi hầm, tâm trạng âu sầu. Tay tổng thống quyết định rồi, 
sang phòng họp phía tây, lấy giấy but soạn thảo diễn văn. Thiệu muốn họp với tả 
hữu tin cậy không còn nửa tá và ra lệnh gọi Martin sau 1h nũa có mặt ở dinh tổng 
thống. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Các nhân viên quanh Thiệu nhanh chóng loan truyền tin Thiệu sắp từ chức. Một nhà 
báo Mỹ bèn gọi một cú điện đến hỏi Martin. Thế nhưng viên đại sứ lại hiểu tay 
tổng thống hoàn toàn trai ngược. Theo lời Martin, Thiệu có ý định ở lại chức vụ 
và đang chống cự với mọi nỗ lực tìm cách phế truất y. Qua truyền hình, Thiệu có 
ý định đòi hỏi bỏ phiếu tín nhiệm và Martin tiên đoán là Thiệu sẽ thắng. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Bài diễn văn của Thiệu nói trước đám viên chức là những lời lẽ quyết liệt. Nó 
được đưa lên truyền hình lúc 8h tối. Tay tổng thống noi &amp;quot;tình hình thật khẩn 
cấp&amp;quot;, gần như phải rut lui đến dinh Độc Lập. Nếu người Mỹ chỉ cần can thiệp vào 
như họ đã hứa thì Nam Việt Nam đâu đến nỗi nào đang phai đương đầu với nguy cơ 
sắp mất thủ đô. Thiệu cả gan nói láo rằng cái gì đã xảy ra ở vùng cao nguyên là 
do quyết định của viên chỉ huy quân khu 2. Lệnh rut lui của cấp chỉ huy quân khu 
2 tất yếu dẫn tới việc quân khu 1. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Khi Mỹ rut khỏi Nam Việt Nam năm 1973, quân đội SG mất 63% sức mạnh quân sự. Tay 
tổng thống ngừng nói, cắn môi rõ ràng là để cầm nước mắt. Thiệu nói: &amp;quot;Người Mỹ 
các ông... không chịu cho chúng tôi viện trợ mà các ông hứa hẹn. Tức là không 
ủng hộ chúng tôi nữa. Thế thì được rồi, tôi sẽ ra đi. Nếu người Mỹ không giúp đỡ 
Nam Việt Nam nữa hãy để họ ra đi, cút đi, hãy để họ nuốt hết những lời hứa của 
họ&amp;quot;. Thiệu thay đổi giọng điệu nhanh chóng và tuyên bố từ chức.&lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;Dân chúng thở phào nhẹ nhõm trước sự từ chức của Thiệu. Con người bị khinh 
miệt nhất trong đất nước đã bước xuống, chấm dứt nhu cầu đảo chính, nhưng khả 
năng thương lượng vẫn mong manh. Chẳng có cách gì để lấy lại đất đã mất. Ít ai 
cảm thấy quân đội Sài Gòn có thể bảo vệ nổi phần còn lại của Nam Việt Nam. Vậy 
mà định thương lượng tức là sẵn sàng quỳ xuống để đối phương nhổ nước bọt vào 
mặt. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Bộ đội Bắc Việt Nam tiếp tục đổ xuống theo các quốc lộ hướng về Sài Gòn, sư đoàn 
nối tiếp sư đoàn, đặc biệt ở phía Bắc và Tây Bắc xuống. Trong phần lớn đoạn 
đường, họ ngồi trên xe tải và xe tăng. Một chố giao lưu quan trọng là Đồng Xoài, 
cách Sài Gòn 35 dặm về phía Bắc. Tại đây, điểm giao nhau giữa các cánh quân xuất 
phát từ đường mòn Hồ Chí Minh, từ vùng biên giới Campuchia, từ vùng Đông Bắc, 
nơi các sư đoàn chiến thắng ở cao nguyên, Đà Nẵng và Nha Trang đổ về Sài Gòn. Xe 
vận tải nối tiếp nhau đi ngang qua Đồng Xoài, nơi trước đây có một trại lính mũ 
nồi xanh của Mỹ, đã bị tràn ngập. Các loại xe chuyên môn cũng đã quá nhiều, 
không thể đếm được. Chúng chở cầu, kéo pháo, chở xăng cho xe tăng và các loại xe 
khác &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Một công-voa kéo dài 3 ngày xuất phát từ các dãy núi. Nó được gọi là Trường Sơn, 
đặt theo tên vùng cao nguyên mà nó đi ngang qua. Công-voa hầu hết là xe vận tải 
mới của Bắc Việt Nam mà theo như những người lái chúng cho biết là mang đủ đạn 
cho trận đánh một tháng. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Cuộc vây hãm Sài Gòn đang được dựng lên. Từ Đồng Xoài, hàng trăm xe tải thẳng 
hướng Tây, tiến về Tây Ninh, Bình Dương. Những chiếc khác đi thẳng hướng Đông 
theo quốc lộ 1đến Biên Hoà. Hàng trăm chiếc khác xuôi những con đường ít ai biết 
đến để ra Vũng Tàu và bờ biển. Vòng vây đặt quanh Sài Gòn không phải là một vòng 
tròn nhưng toàn vẹn và chặt chẽ. Thậm chí cả về phía Nam, nơi còn một chút kiểm 
soát của quân đội Sài Gòn, Cộng Sản vẫn đang đi vào vị trí để vây bọc và cắt đứt 
liên hệ giữa vùng châu thổ với Sài Gòn. Máy bay của không quân phần lớn chẳng có 
thể tìm ra các công-voa. Giả dụ dân chúng tìm ra thì cũng chẳng đủ máy bay, rồi 
dù có máy bay cũng chẳng có phi công nào liều chết bay đi khi đã nhan nhản tin 
đồn về loại tên lửa phòng không vác vai tuyệt diệu SA.7 xuất hiện trong đội hình 
các đoàn quân ấy. &lt;/p&gt;&lt;p align="justify"&gt;
Trong tầm pháo của Sài Gòn, bộ đội công binh Cộng Sản đặt một chiếc cầu trong 
vòng không đầy một ngày. Với nó, hàng tá xe tăng, đại bác hạng nặng và mấy chục 
xe vận tải vượt sông Đồng Nai để tấn công Sài Gòn từ hướng Tây. Khoảng chừng 
hơn10 sư đoàn đã bao quanh Sài Gòn và nằm im chờ lệnh tấn công. Nửa tá các sư 
đoàn khác đang đứng sau lưng họ, sẵn sàng bổ xung cho tuyến xung phong. Về phía 
Bắc và Đông Bắc, Cộng Sản ở trong vòng 20 dặm đối với thủ đô. Về phía Đông, họ 
cách chừng 30 dặm. về phía Tây và Tây Nam, sau khi Thiệu từ chức, Cộng Sản đang 
thay đổi đội hình nhưng cũng chỉ cách Sài Gòn vào khoảng 30-35 dặm. &lt;/p&gt;
&lt;p align="justify"&gt;
Đến ngày 26-4, Sài Gòn là mục tiêu nằm trong tình thế đợi phía bên kia bấm nút. 
“Người Mỹ các ông” lừng khừng không di tản sao được nữa.&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-6350709197271451695?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/6350709197271451695/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=6350709197271451695' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/6350709197271451695'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/6350709197271451695'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/05/55-ngy-ch-si-gn-sp-alan-dawson-chng-9.html' title='55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ Alan Dawson Chương 9 10 11'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-6399193180999190338</id><published>2008-05-09T23:30:00.001+07:00</published><updated>2008-05-10T00:36:08.367+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chiến tranh Việt Nam'/><title type='text'>55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ Alan Dawson Chương 4 5 6 7 8</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;b&gt;Chương 4: Phút cuối cùng của giai đoạn mở màn - Đánh chiếm Huế&lt;/b&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Thông tin viên của UPI ở huế điện về Sài Gòn cho biết 600 quả đạn pháo tên lử và 
súng cối đã rơi xuống thành phố phía Băc này vào ngày 22-3. Đây là cuộc pháo 
kich dữ dội nhât trong mấy năm qua. Phut cuối cùng đang đến, mặc dù một số người 
lạc quan ở Sài Gòn thich gọi đây là trận phòng thủ kiên cường. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Đêm ấy, tại căn cứ tiểu đoàn ở Phú Lộc, đại uý Trần Bá Phước rât sợ và nghĩ đến 
chuyện bỏ chạy. Cái thắng anh ta là một bài báo, hình như đã đọc trong tạp chí 
Mỹ &amp;quot;Thời báo&amp;quot; hay &amp;quot;Tuần tin tưc&amp;quot;. Phước cho biêt đã đọc mấy năm rồi và đâu như 
qua cuộc phỏng vấn một lính Mỹ. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Người lính này nói rằng anh ta luôn luôn sợ hãi trong chiến đấu, một sự thú nhận 
làm Phươc kinh ngạc, bởi vì Phươc nghĩ rằng người lính bộ binh đáng lẽ phải 
không biêt sợ. Nhưng người trung sĩ dày dạn kinh nghiệm ấy lại được thưởng huy 
chương và nói rằng sợ hãi là chuyện tự nhiên. Nhât thiêt phải biêt đúng sự sợ 
hãi, phải kìm chế nó. Rồi thì lắng tai nghe mệnh lệnh và sử dụng cái đầu để suy 
nghĩ. Theo người trung sĩ Mỹ ấy một người lính không biêt sợ thì hoặc là ngu 
đần, hoặc là điên khùng, bởi vì anh ta nói láo hoặc săp đi nhà thương điên. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Nhớ lại cảm giac luc ấy và bài báo, Phươc vẫn không châp nhận rằng mình đang sợ. 
Phươc vẫn nghe thấy tiếng đạn pháo dội xuống Phú Bài, Huế và vùng cảng. là một 
tiểu đoàn trưởng, Phươc có mấy cái diện đài trong sở chỉ huy của mình. Đó là một 
căn lều và một hầm nhỏ. Một điẹn đài vặn tần số &amp;quot;mạng lưới chỉ huy liên lạc với 
chỉ huy sở chỉ huy tiền phươngcủa quân đoàn 1 đóng tại Huế. Mạng lưới giup Ngô 
Quang Trưởng tuy vẫn tỏ ra thoải mái nhưng đang bù đầu ở Đà Nẵng biêt những tin 
tưc mơi nhât về cánh quân phía Băc đang rung rinh của mình. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Chính trên mạng lưới chỉ huy mà Phươc nghe được thuỷ quân lục chiến đang chạy. 
Cộng sản mât khoảng nửa giờ để tràn qua vị trí này của thuỷ quân lục chiến dọc 
theo bờ sông Mỹ Chánh. Lần này đám lính thuỷ quân lục chiến không kịp ngừng lại 
để phá sập cầu. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trong số lính thuỷ đánh bộ ở bờ sông Mỹ Chánh ấy có Đức đã chạy ở Quảng Trị về. 
Đức chẳng nghĩ đến chuyện sợ hãi. Tiếng đạn pháo rơi xuống Huế không làm cho anh 
ta lo ngại. Khu vực của anh ta yên lặng. Đức nằm ở dãy phòng tuyến và chẳng hề 
sợ khi nghĩ đến một cuộc tấn công. Một cuộc đột kich của đặc công khó có thể xảy 
ra. Pháo kich là chuyện có khả năng nhât, nhưng lo về nó chẳng có cach nào ngoài 
việc chui xuống hố cầu nguyện. Bât cứ cuộc tấn công lớn nào cũng sẽ chạm trán 
đám thuỷ quân lục chiến trươc khi đến Đức. Anh ta sẽ có khối thì giờ để chuẩn bị 
chiến đấu hoặc bỏ chạy. Anh ta nghĩ có lẽ phải chạy. Thật kỳ cục, một tuần lễ 
trươc, bỏ chạy là chuyện anh ta nghĩ đến sau cùng, còn giờ đây, nó lại ở ngay sờ 
sờ trong đầu. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cái ý nghĩ bỏ chạy khỏi chiến trường, khi mà anh ta đã được dạy bám trụ chiến 
đấu và tấn công, không còn hâp dẫn đối với Đức. Khi bàn với bạn bè thì nó càng 
trở nên là điều châp nhận được. Chiến đấu để rồi chêt là điều ngu xuẩn khi cuộc 
tấn công thể nào cũng tràn ngập vị trí của mình. Một thuỷ quân lục chiến nói 
được tiếng Anh dịch lại thành ngữ của Mỹ &amp;quot;Advance to the rear&amp;quot; (tiến về phía 
sau). &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Lần đầu tiên trong đơn vị của Đức, chuyện rut lui trở thành giải phap châp nhận 
dượcđể thay cho việc tiến tới. Họ đã biêt chuyện rut lui khỏi vùng cao nguyên. 
Họ đã biêt chính tổng thống của họ ra lệnh ấy. Nếu cả cao nguyên chẳng còn nghĩa 
lý gì thì Mỹ Chánh có nghĩa gì nữa? Về mặt tâm lý, đây là mầm mống nản chí khổng 
lồ đã gieo vào quân đội Sài Gòn. Chính là với lệnh rut lui khoi cao nguyên của 
Thiệu đã cấy vào binh sĩ của họ ý nghĩ rut lui nếu không muốn nói là đầu hàng.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Khi Đức ngồi trong giao thông hào đêm ấy, bàn chân anh ta hơi co lên khỏi cái 
mặt đât lạnh và ẩm ươt..., thì sờ sờ trong tâm trí anh ta là chuyện bỏ chạy, là 
ý nghĩ chạy khỏi chiến đấu để tìm cái sống. Phần lớn những người còn lại trong 
cac đội quân 1 triệu người của SG đã nghĩ tương tự trong đêm ấy. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Binh nhì Đức đang thẫn thờ ngắm dòng sông Mỹ Chánh thì trận tấn công băt đầu. 
một lần nữa, lại cũng những chiêc xe tăng Băc Việt Nam đã đánh bật lữ đoàn thuỷ 
quân lục chiến 2.500 người này ở giữa tỉnh Quảng Trị. Giờ đây, từ hướng Đông và 
dọc theo bờ Nam sông Mỹ Chánh, những chiêc xe tăng xuât hiện, những chiêc xich 
săt nghiến ken ket, nghe rõ mồn một trong cái đêm quang đãng và vẫn còn lành 
lạnh của mùa xuân. Đức có thể thấy một số gần anh ta nhả đạn. Pháo binh SG bắn 
rải rac xung quanh thuỷ quân lục chiến. Cac xe tăng Băc Việt Nam loại T.54 và xe 
lội nươc PT.76 đang bắn thẳng vào phòng tuyến lính thuỷ đánh bộ. Cac tay súng 
đại liên, với loại súng cỡ đạn 7,62 và 12,7 ly ló đầu khỏi thap pháo, nhả đạn 
như mưa vào lính thuỷ đánh bộ. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Sẽ không dễ gì khi rút lui lần này, Đức nghĩ vậy. Lần trước, xe tăng không bắn, 
bật đèn cho thuỷ quân lục chiến thấy đường mà chạy về nam Mỹ Chánh. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Giờ đây rút lui sẽ là nhận lấy một tràng đạn ghim sau lưng. Một quả đạn pháo của 
xe tăng xé gió bay về hướng anh ta. Anh ta rút vào hố cá nhân tránh nó. Quả đạn 
nổ, văng một ít đất lên người Đức. Anh ta không hề biết gì nhưng lỗ tai bị ù 
đặc. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Khi đỡ ù tai, anh ta nghe được một thứ âm thanh mới ở trong trước mặt bên kia 
sông. Xe tăng Bắc Việt Nam đang từ phía Bắc tới. Đây mới là vấn đề. Với hoả lực 
yểm trợ tốt, lính Cộng Sản ngồi gọn trong xe tăng lội nước PT.76 băng qua sông 
đổ bộ lên ngay sở chỉ huy lực lượng của Đức. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Nhiều người đang bị giết trên vành đai phòng thủ. Tiếng kêu la của số người bị 
thương vọng đến tai Đức, trong khi tiếng súng lặng đi. Lực lượng này của Cộng 
Sản rõ ràng lớn hơn ngay cả lực lượng đã đuổi toàn bộ sư đoàn thuỷ quân lục 
chiến ở Quảng Trị chạy dài. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Sau này Đức nhớ rằng anh ta có lẽ là người thứ 25 trong đơn vị mình bắt đầu bỏ 
chạy. Không có mệnh lệnh nào cả. Có thể cuộc rút chạy của tiểu đoàn dân vệ 350 
người ở phía Đông đã làm đám thuỷ quân lục chiến chuyển động. Đám thuỷ quân lục 
chiến vẫn cố giữ kỷ luật nhưng cứ lùi. Tiến về phía sau mà, Đức nghĩ vậy. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Đức nhận ra rằng mình đang ở với khoảng năm chục người trong cùng đơn vị. Họ lui 
kiểu cóc nhảy, bằng trực giác, đảo ngược lại thủ tục tấn công mà họ được huấn 
luyện. Một dặm rồi hai dặm. Rất nhiều lính thuỷ quân lục chiến đã ngã xuống. 
Những người nào còn sức đều cố chạy. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Người ta nói Cộng Sản nhân đạo đối với lính bị thương. Sự việc đã đúng như vậy.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trận đánh chiếm Huế được băt đầu như thế từ phía Bắc.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong vài giờ sau, nó cũng bắt đầu như thế từ phía sau: Đại uý Phước lắng 
nghe cuộc rút quân của thuỷ quân lục chiến trên chiếc đài bắt tần số sở chỉ huy. 
Phước nhìn lại một lần nữa chiếc xe Jeep của mình, vật có thể hộ thân giúp anh 
ta chạy theo quốc lộ 1 về Đà nẵng. Nhưng đạn pháo rơi nhiều dọc đường. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Bấy giờ, Phước rất sợ. Đã quá nửa đêm để sang ngày khác, ngày thứ bẩy 23-3. 
Phước gọi các đại đội khác báo cáo tình hình. Các đại đội trưởng cho biêt quân 
lính đang hoang mang... &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Quân đội Bắc Việt Nam đẵ cắt nát 2 tiểu đoàn quân biệt động giữ sườn phía Tây 
của Phước ngọt như cá mập bơi trong nước. Cũng giống như cá mập, Cộng Sản nghiền 
vụn ngay đám 700 quân biệt động này. Đơn vị của Phước bị khep chặt bởi một vòng 
vây. Nhưng bộ đội Cộng Sản rõ ràng với ý định quét sạch đám quân biệt động chưa 
đả đọng gì đến chuyện tấn công tiểu đoàn của Đức thuộc sư đoàn bộ binh số 1 vốn 
được coi là giỏi nhất. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
4 giờ sáng, tiểu đoàn bị tấn công. báo cáo bằng điện đài của các đại đội trưởng 
cho thấy rằng ít nhất có 2 tiểu đoàn Bắc Việt Nam tấn công, mỗi tiểu đoàn một 
hướng. Phước đang vặn từ tần số này sang tần số khác, cố gắng nắm mọi báo cáo. 
Thình lình nhân viên điện đài vặn tần số khác. Phước nghe được một giọng không 
quan, đang ra lệnh tấn công. Anh ta nhận ra ngay lập tức đó là một sĩ quan phía 
bên kia, Bắc Việt Nam, có lẽ là tiểu đoàn trưởng căn cứ vào loại chỉ thị và thẩm 
quyền của giọng nói. Phước cố gắng phát hiện kiểu cách ra lệnh của phe địch. 
Những gì nghe được làm anh ta rợn người. Người chỉ huy đang ra lệnh ấy giữ vững 
vị trí đợi các đơn vị khác tấn công. Trung đoàn hay sư đoàn nữa? &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Những người khác cùng ngồi trong lều chỉ huy đều nghe được. Một binh nhất còn 
trẻ hét vào mặt Phước rằng tất cả bọn họ sắp sửa chết hết. Sau này Phước cho 
biết là đã phải &amp;quot;đánh gục anh chàng&amp;quot; tuy cố gắng không gây thương tật cho anh 
ta. Tình cờ Phước đồng ý với kết luận của người lính trẻ ấy. Anh ta cầm tổ hợp 
của điện đài ấn nut nói mấy làn. Người sĩ quan Bắc Việt Nam cảnh giác đòi biết 
cho được ai đang trên tần số. Phước không trả lời, nhưng cảm thấy trach nhiệm 
đối với những người như chàng binh nhất. Phước ấn nut tổ hợp lần nữa, hit một 
hơi dài và đằng hắng hai lần rồi bắt đầu nói: &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&amp;quot;Đây là đại uý Trần bá Phước, tiểu đoàn trưởng quân đội VNCH. Các ông đang tấn 
công vị trí của tôi. Tôi muốn đầu hàng&amp;quot; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Im lặng trong chốc lát, Phước nhắc lại lời nói và buông tay khỏi nut &amp;quot;nói&amp;quot; để 
người sĩ quan Bắc Việt Nam có cơ hội trả lời. Trận đánh tiếp tục. Phước định nói 
lần nữa, nhưng thấy một giọng khác xuất hiện trên điện đài, hình như sĩ quan cao 
cấp hơn. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&amp;quot;Đây là ông Ba (bí danh của người chỉ huy cộng sản thương dùng) của Quân đội 
giải phóng nhân dân&amp;quot;. Người ấy nói: Ông Ba thông báo không đứng ra nnhậ sự đầu 
hàng của Phước mà thuộc quyền sĩ quan cao cấp hơn. Ông ta yêu cầu trả lời. Phước 
trả lời xin đợi vài phút. Ông Ba cho biêt sẽ đợi vài ngày nếu cần, nhưng trong 
luc ấy cuộc tấn công sẽ tiếp tục. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Phước lên điện đài nói chuyện với các đại đội trưởng của mình, phác hoạ tình 
huống và đề cập điều kiện đầu hàng Cộng Sản. Trong vong 5 phút, ba trung uý đồng 
ý với Phước. Một đại đội trưởng là thiếu uý khác quan điểm với các đại đội 
trưởng kia. Phước van nài anh ta bằng cách vạch ra rằng đường rut lui đã bị cắt 
rồi. Bắc Việt Nam đang thêm quân tới. Tiểu đoàn sẽ bị tràn ngập. Hai giờ nữa mới 
sáng, mới có sự yểm hộ của không quân. Người thiếu uý vẫn không đồng ý... &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Thình lình điện đài của người sĩ quan trẻ im bặt. Phước sắp thử tần số khác thì 
lại nghe một trung sĩ ôn tồn thông báo cho biết tai nạn đã xảy ra ở sở chỉ huy 
đại đội. Thiếu uý đã bất lực. Thực ra người ấy đã bất động vĩnh viễn rồi. Trung 
sĩ này đang chỉ huy đại đội. Họ chấp nhận đề nghị của Phước: Đầu hàng! &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&amp;quot;TTXVN - (Hà Nội) 27-3. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Theo tin của TTXGP, ngày 26-3, 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 1 thuộc sư đoàn 1 - 
Quân đội SG ở tỉnh Thừa Thiên đã bỏ sang phía cách mạng đem thoe mọi vũ khí...&amp;quot;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cho dù đầu hàng hay đổi bên thì đây vẫn là cuộc bỏ ngũ tập thể đầu tiên sang 
phía bên kia của quân đội SG. Vậy thì cuộc đầu hàng tập thể của một trong những 
tiểu đoàn ưu tú của cái sư đoàn bộ binh ưu tú áy là một bước quan trọng đẩy mạnh 
quá trình suy sụp tinh thần của quân đội SG. Nó cho thấy sẽ không có cảnh Cộng 
Sản tắm máu ở miền Nam Việt Nam. Trong vung Huế - Đà nẵng người ta biết rộng rãi 
tin tiểu đoàn của Phươc không bị trả thù, được đối sử quá tốt, thậm chí không 
giống tù binh tí nào vì đã được mang ra khỏi tinh Quảng Trị và ngủ trong các nhà 
bỏ lại của dân. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Bộ đội Bắc Việt Nam &amp;amp; Việt Cộng giờ đây kiểm soát hoàn toàn 10 trong số 44 tỉnh 
của Nam Việt Nam: Thừa Thiên tỉnh bao quanh Huế đã ở trong tay họ dù Huế chưa 
sụp đổ. Đà nẵng đang ỏ trong nguy cơ nghiêm trọng. Điều quan trọng xét vè mặt 
chiến lược là việc họ chiếm Quảng Ngãi đã cắt Nam Việt Nam làm đôi. Ba trong số 
12 sư đoàn chiến đấu của Nam Việt Nam hoàn toàn tan nát. Thuỷ quân lục chiến 
không còn chiến đấu với tư cách sư đoàn nữa Quân biệt động hầu như bị tiêu diệt.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Bắc Việt Nam mất một it người theo cách tính của họ, nhưng tinh thần chiến đầu 
lên cao. Sự giải phóng hoàn toàn đã nằm trong tay rồi. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Giờ đây, binh nhì Đức của thuỷ quân lục chiến có thể nhìn thấy được Huế. Anh ta 
đã chạy, rut lui trong hơn 24h &amp;amp; không được ngủ. Đức còn cach Huế chỉ đôi ba 
dặm. Người sĩ quan chỉ huy có được 1 điện đài. Toàn thể binh sĩ đều nghe được 
mẹnh lệnh. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ngô Quang Trưởng từ sở chỉ huy quân đoàn 1 ở Đà nẵng đã ra lệnh tổng phong thủ 
Huế. Huế sẽ không bị bỏ rơi. Sẽ có 1 trận đánh bảo vệ thành phố ấy. Đây là lệnh 
từ tổng thống và tư lệnh quân đoàn 1. Trên những tần số khác, thuỷ quân lục 
chiến nhận lệnh. Ước lượng khoảng 25.000 binh sĩ mang súng của quân đội Sg làm 
cuộc phòng ngự Huế để đọ sức với khoảng 40.000 bộ đội Cộng Sản. Phòng tuyến đã 
được vạch ra. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Nhưng SG đã rut lui khỏi Huế! &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Không một ai, nhất là Trưởng lại dám thú nhận đã ra lệnh bỏ rơi Huế mà không 
chiến đấu. Trong lúc Đức đang ngủ thì có dấu hiệu cuộc rut lui đã đến. NGười ta 
đánh thưc Đức dậy. Anh ta không thể nào tin được dù cuộc di tản đang bắt đầu. Sĩ 
quan khóc công khai. Binh sĩ thở phào nhẹ nhõm vì rõ ràng họ không phải chết ở 
Huế. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Bắc Việt Nam tấn công vào trưa hôm ấy, ngày 25-3. Từ phía Tây Nam &amp;amp; Bắc, Cộng 
Sản đi vào Huế. Ở phía Nam, ngược QL1 xuất hiện Phươc trước đây là đại uý quân 
đội SG. Bây giờ Phươc là người dẫn đường cho Cộng Sản. Ông Ba nói thẳng với 
Phươc là một âm mưu đưa tiểu đoàn ông vào bẫy thì sẽ phải đổi bằng sinh mạng của 
Phươc. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Phươc không lừa dối. Ông ta cầm ống liên hợp của cái điện đài loại PRC-25 do Mỹ 
chế tạo &amp;amp; gọi đến sở chỉ huy Huế, nói chuyện với người thiếu tá trong nội thành. 
Thành Huế cách họ có nửa dặm. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ông ta nói với người thiếu tá trên điện đài rằng ông ta tận măt biêt rõ Huế đang 
bị bao vây. Vũ khí mà Bắc Việt Nam là đáng sợ. Lực lượng của họ là vô địch... 
Người thiếu tá trong thành nội đồng ý giao thành luc 9h sáng. Một giờ sau, 10h 
sáng, một trợ lý của ông Ba nhận khẩu M.16 tượng trưng mà người thiếu tá trao 
cho ở cổng thành nội. Ông Ba không đich thân nhận súng mà đang tổ chức kéo một 
lá cờ Việt Cộng khổng lồ trên cột cờ thành nội. Lá cờ này lớn hơn cả lá cờ 3 sọc 
của SG. Nó đã được may ở một âp thuộc Quảng Trị, coi như công trình của cả xã 
một tháng trước đó. Kich thươc thực sự chưa rõ, nhưng những người tận mắt nhìn 
thấy nói khoảng 8m x 5m. Có lẽ còn lớn hơn thế.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&amp;nbsp;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Chương 5: Phút mở màn của giai đoạn cuối - Mất Đà Nẵng&lt;/b&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Việc mất Huế là thảm hoạ có một không hai cho chính quyền SG trong cuộc chiến. 
Từ ngày ông Ba kéo là cờ Việt Cộng lên trên thành nội, Nam Việt Nam đã đến ngày 
tận số. Mọi người Nam Việt Nam đều biết Huế, SG có thể là thủ đô, Đà nẵng có thể 
là một thành phố quan trọng hơn về mặt thương mại, nhưng nhiều người chống cộng 
và dân chung thân chính quyền rât sững sờ trươc việc mất Huế. Với tính cách 
giành một thắng lợi nhanh gọn, Bắc Việt Nam đã làm rất tôt trong việc chiếm Huế. 
Nhưng việc chiếm Huế mà không phải giao tranh là thắng lợi quan trọng nhất trong 
cuộc chiến. Cái sự kiện quân đội SG được lệnh rut khỏi thành phố làm mọi người 
sửng sốt gấp đôi. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Thiệu không để dấu hiệu yếu kém nào lộ ra bề ngoài tuy nhiên bên trong các hội 
đồng cơ cấu quyền lực SG, khó khăn bộc lộ lan tràn. Quân đội vốn là nền tảng của 
chế độ lại đang tan rã... bỏ rơi từng mảng đất rộng lớn &amp;amp; các thành phố mà không 
chiến đấu. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Thiệu chẳng ngu gì vì có quyền lực, và khư khư muốn giữ lấy nó, tin rằng chỉ 
mình mình là có thể cứu Nam Việt Nam khỏi tai hoạ bàn tay đám ngoại bang muốn 
thấy nó đổ sụp. Thiệu kể luôn người Mỹ vào đám ngoại bang này. Chính trong lúc 
ấy, tịa Đà nẵng, sự hỗn loạn đang lớn dần &amp;amp; trở nên tồi tệ. Thành phố này là 
điểm tập trung cho 1 triệu hoặc 1,5 triệu người di tản. Ngày Huế sụp đỏ, 14 hoả 
tiễn đã rơi trúng căn cứ không quân Đà nẵng. Sự hoảng loạn tự nó lớn lên ở Đà 
nẵng và chẳng ai có thể làm gì đối với nó. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ngô Quang Trưởng vẫn còn làm việc vào ngày sau hôm Huế sụp đổ, nhưng hoạt động 
của Trưởng đã trở nên mơ hồ. Trưởng muốn đám sống sot của sư đoàn bộ binh 1 đi 
về phía Tây &amp;amp; Tây Nam. Đám biệt động quân ở phái Nam thay lính dù đã bị Thiệ rut 
về SG. Vùng phía Nam là mắt xich yếu nhât. Nhưng đám quân còn lại từ Huế đổ bộ 
lên Đà nẵng thì thật thảm thương. Binh sĩ ném bỏ trang bị. Sư đoàn 1 bộ binh 
không còn là lực lượng quân sự nữa. Đây là đám người cuồng dại. Dân chúng há hốc 
mồm nhìn đám người đó, lòng cay đắng vì trước đây nó là lực lượng thiện chiến 
nhất của quân đội SG. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Rạng sáng ngày 28-3, bộ chỉ huy của Cộng Sản ở Đà nẵng đã ban hành mệnh lệnh. 
Lệnh đó được chuyển nhanh chong xuống các đơn vị thâp nhât, không cần giữ bí mật 
nữa. Nó được đài phát thanh Cộng Sản loan đi như tài liệu tuyên truyền: &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&amp;quot;... Nhân dân Đà nẵng hãy nổi đạy cùng với các lực lượng vũ trang giải phóng nắm 
lấy quyền quyết định vận mệnh của mình. Bọ địch đã bị bao vây &amp;amp; đang bị tấn 
công. Chúng đang tìm cách tháo chạy. Thời cơ giải phóng tỉnh Quảng Đà và TP Đà 
nẵng đã đến...&amp;quot; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Mệnh lệnh thật giản đơn và rõ ràng. Bắc Việt Nam đã cảm thấy việc tấn công Đà 
nẵng gần kề đến nỗi bỏ qua cả bí mật trong mệnh lệnh tấn công. Họ cảm thấy phổ 
biến lệnh ấy thuc đẩy sự đầu hàng của Đà nẵng... Vào trưa ngày 28-3, một buổi 
trưa thứ sáu ở các nơi khác trên thế giới với ngày nghỉ cuối tuần đang đến và 
chẳng còn chuyện gì khác thì Đà nẵng lại đang ở cơn co quắp cuối cùng của sự 
kinh hoàng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Binh sĩ từ Huế đến đang nổi loạn. Nhưng sĩ quan nào kiểm soát nổi đám lính sống 
sót từ Quảng Ngãi - Tam kỳ ra, cũng như từ Quảng Trị về. Họ đang biến thành các 
đám đông cuồng dại. Tiếng súng nổ như pháo Tết. Giết người và hãm hiếp trở thành 
chuyện bình thường. Cướp bóc ngự trị ngay ngày hôm ấy. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trong cái mệnh lệnh cuối cùng được xem là còn bình tĩnh, Trưởng ra lệnh cho các 
xe tăng của quân đội Nam Việt Nam xuống đường tái lập trật tự và giới nghiêm 
24/24 giờ. Nó chẳng làm được chuyện gì vì đa số lính trên các xe tăng gia nhập 
đám người vơ vết. Lính khac thì sợ chăngnr ai chống lại vì không ai muốn chết 
trong cái ngày có vẻ là cuối cùng của cuộc chiến. Họ càng chẳng muốn chết trong 
chiến trận với đồng ngũ cùng mang thứ quân phục với mình. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Quá trư 28-3, tình hình quân sự xung quanh Đà nẵng thật đen tối. Hội An, cách Đà 
nẵng 15 dặm về phía Nam đã bị bỏ rơi, tạo thuận lợi cho Cộng Sản thọc vào Đà 
nẵng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
9h tối, hoả tiễn bắt đầu rơi xuống Đà nẵng. Các tuyến phòng thủ phía Nam và phía 
Tây sụp đổ. Ngô Quang Trưởng, người anh hùng, người lính chiên, người đào hố tử 
thủ, đã rút ra ngoài tìm đến một chiếc tầu gần bờ. Trưởng đã một mực sử dụng giả 
thuyết cho răng trong thành phố quá nguy hiểm, sẽ bị đám lính lang thang cướp 
bóc gây nguy hại cho sự chỉ huy, Trưởng cho biêt sẽ chỉ huy trận đánh giành Đà 
nẵng tù ngoài bờ. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Điều nhanh chóng thấy rõ là Trưởng không biết bơi, it nhất là bơi không giỏi. 
Sóng nước không lớn, nhưng các ngọ sóng bạc đầu đang ở cách bờ khoảng 100m. Ngọn 
sóng thứ nhất vật ngã Trưởng, ngọn sóng thứ hai phủ lên người viên tướng này.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trong tình hình Trưởng ra đi còn khoảng 100.000 lính có mặt trong vùng. Ước đoán 
có khoảng 80% đang cố sức thoát ra hoặc vơ vét cái gì có thể kiếm được trong 
khoái lạc bắn giết và cướp bóc. Các tướng khác đang hoạch định hai chuyến bay bí 
mật. Đà nẵng đã được trao tay rồi. Nó chẳng còn nữa, mất hết, đã được trao về 
cho Việt Cộng &amp;amp; Bắc Việt Nam. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Thành phố Đà nẵng, thành phố lớn thứ nhì ở Nam Việt Nam đã sụp đổ. So với bất kỳ 
thành phố nào trên toàn bộ đất nước được nó phòng thủ mạnh nhât và được cầm đầu 
bởi viên tướng được coi là giỏi nhất trong quân đội SG. Các kho của nó chất đầy 
lương thực đủ dùng trong nhiều tháng, chứa đầy đạn dược và vũ khí đủ dùng trong 
60 ngày. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Hai xe vận tải chở đày du kích, quá nửa là phụ nữ đã vào chiếm thành phố. Một 
lần nữa, Cộng Sản đã chiến thắng gần như không một phát súng. Gần như thế! Cộng 
Sản lúc đó có 13 tỉnh Nam Việt Nam dưới quyền kiểm soát của họ. Với việc chiếm 
Đà nẵng, Cộng Sản nắm được đúng 50% lãnh thổ Nam Việt Nam đằng sau phòng tuyến 
của họ. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ngày 30-3, một ngày sau khi Đà nẵng sụp đổ, lại là ngày chủ nhật. Chủ nhật nên 
không có cuộc họp báo của chính quyền SG nhưng Lê Trung HIền vẫn có mặt ở văn 
phòng. Hiền đang nghĩ cách xem phải nói gì về Đà nẵng trong buổi họp báo xế trưa 
hôm ấy. Hiền sẽ không nói láo mà chiến thuật của Hiền là thận trọng thế nàođể 
khỏi ghi công cho kẻ thù trước khi họ xứng đáng nhận nó một cách công khai. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Hôm ấy các nhà báo cũng tránh hỏi Hiền về việc mất cái thành phố lớn thứ nhì đó.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&amp;nbsp;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Chương 6: Mọi việc vẫn ổn định&lt;/b&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Khi bộ đội Cộng Sản vào chiếm thành phố ngày 29-3 thì binh nhì Đức đang ở trên 
một tầu hải quân Nam Việt Nam ở ngoài khơi Đà nẵng. Có lẽ có khoảng 2.000 lính 
thuỷ đánh bộ trên tầu, phần lớn phải đứng thôi. Quả thật chẳng còn chỗ nào mà 
nằm nữa. Mũi tầu đang hướng về phía Cam Ranh. Lúc 2h trưa, một chiếc trực thăng 
Mỹ lượn sát phía trên con tầu. Trên máy bay có Kenedy, một nhà báo và là bạn của 
tổng thống Ford vừa sang Nam Việt Nam. Trên tầu, đám bạn của Đức đã dương súng 
M.16 nhằm chiếc trực thăng mà bắn. Đó là một cách bầy tỏ sự phẫn nộ. Chiếc trực 
thăng với lá cờ Mỹ đang chế nhạo họ, họ nghĩ như vậy. Những người nào không có 
súng thì la hét, chửi rủa chiếc trực thăng, vung nắm đấm lên đả đảo nó. Chiếc 
trực thăng trao mình rồi bay vọt ra xa. Không ai bị thương và máy bay cũng không 
hề gì, nhưng Kenedy tỏ ra sửng sốt. Chính cái sư đoàn thuỷ quân lục chiến mà 
Kenedy khen ngợi nhiều lần là cái sư đoàn giỏi nhất nhì trong quân đội SG lại 
tìm cách giêt người Mỹ. Biến cố ấy cho Kenedy cái nhìn sâu sắc vào tinh thần 
quân đội SG. Nói tóm tắt, rõ ràng là nó chẳng còn tinh thần nào cả. Kenedy định 
viết báo cáo riêng cho Ford sau khi từ Nam Việt Nam trở về. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
30-3, một ngày sau khi Đà nẵng sụp đổ, tướng P. Weyand tham mưu trưởng lục quân 
Mỹ là chuyến công du tìm hiểu sự thật ở Nam Việt Nam đã có mặt ở Nha Trang. 
Weyand đang tận mắt quan sát những gì còn lại của quân khu 2 Nam Việt Nam, vùng 
miền Trung đất nước. Tư lệnh quân khu là Phú. Chính Phú là kẻ đơn độc đứng trước 
mặt Thiệu ngày 14-3 khi tay tổng thống này ra lệnh rut khỏi Tây Nguyên. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Phú đang thuyết trình cho Weyand tình hình. Lẽ tất nhiên không có gì để lạc 
quan. Nha Trang còn yên tĩnh. Theo con mắt của các sĩ quan hành quân thì không 
có gì hiểm nghèo cả. Weyand nhất trí như thế. Lý do cho sự lạc quan ấy là niềm 
tin rằng: Cộng Sản, sau khi chiếm được những mảnh đất khổng lồ và trung tâm dân 
cư, sẽ phải ngừng bước tiến để củng cố thành quả và bổ xung lực lượng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Những dữ kiện và lập luận mà Weyand thu được là cho ông ta có thể về Washington 
mà nói: :&amp;quot;Lực lượng Nam Việt Nam không mất tinh thần xét theo bất cứ khía cạnh 
nào. Quân đội SG sẽ đứng lên chiến đấu&amp;quot; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Còn ở Nha Trang hôm ấy, Weyand nói: “mọi việc đang ổn định”. Các nhà báo ghi lia 
lịa. “Tôi phấn khởi trước những gì nhìn thấy được do quân đội Việt Nam Cộng hoà 
đang làm. Họ đang hành động giỏi”. Weyand nói quân đội Sài Gòn đã quyết định 
phòng thủ “phần sinh tử” của Nam Việt Nam, và “phần sinh tử” ấy bao gồm Nha 
Trang và vùng đất phía Nam của nó. Phú đã tuyên bố sẽ phòng thủ luôn cả Quy Nhơn 
và tỉnh phía Bắc Nha Trang. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Weyand, Phú và các chuyên gia của họ đều xem những gì xảy ra trước đây đều là 
chân lý vĩnh cửu. Những đơn vị bộ đội Cộng Sản chưa bao giờ có thể di chuyển 
nhanh. Phương án chiến đấu của họ có phạm vi hạn chế và chẳng còn chỗ cho cấp 
chỉ huy chiến trường quyết định. Vào thời điểm Nha Trang, các các sĩ quan tình 
báo Sài Gòn vẫn cho rằng chiến thuật Cộng Sản vẫn như cũ. Họ đã thu được thành 
quả cơ bản ở Tây Nguyên, quân khu 1 thì Bắc Việt Nam hẳn phải dừng lại củng cố. 
Các đường tiếp tế phải đuổi bắt kịp xe tăng và bộ binh. Đấy là cách mà mấy năm 
qua họ đã từng chiến đấu. Chẳng ai nghĩ hoặc nghĩ quá ít đến việc Bắc Việt Nam 
đã cải tiến phương phác tác chiến và trên thực tế đã giao thêm quyền quyết định 
cho các tư lệnh chiến trường. Các tuyến tiếp tế đang đi theo quân Bắc Việt Nam 
chứ không còn nằm cố định sau phòng tuyến nữa. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Một điểm khác chẳng mấy ai nghi ngờ là Weyand cũng như Phú và chính quyền Sài 
Gòn đánh giá không đúng sự đổ vỡ tinh thần của dân chúng chống + và binh lính 
Sài Gòn. Họ cảm thấy bị phản bội. Không những bởi Mỹ không còn viện trợ mà bởi 
cả tổng thống của họ là Thiệu. Trong lúc ấy họ lại coi Bắc Việt Nam thuộc hạng 
siêu nhân. Thế là thấy được “Việt Nam Cộng hoà” tận số rồi. Weyand và các nhà 
lãnh đạo Mỹ vì lý do nào đó mà đui mù trước thực tế này, thái độ đó sẽ gây biết 
bao thống khổ trong 31 ngày kế tiếp. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Thống khổ đầu tiên thấy được là tấn thảm kịch Nha Trang sụp đổ ngày 1-4, không 
có lấy một cuộc giao tranh, sụp đổ trong sự hoảng loạn. Hoảng loạn bắt đầu từ 
việc mất Quy Nhơn. Tên tỉnh trưởng và tư lệnh sư đoàn 22 đã bỏ rơi tỉnh lỵ Bình 
Định quá nhanh chóng. Phần nửa cái sư đoàn 10 nghìn người ấy với trang bị đầy đủ 
để đánh nhau lại bỏ chạy lên tàu thuyền. Bộ đội Bắc Việt Nam, ước lượng chỉ độ 
cấp trung đoàn đã xung phong vào Dục Mỹ. Việc Dục Mỹ bị bỏ rơi không có ai chống 
cự đã vọng về Nha Trang. Sở chỉ huy của Phú đã gói ghém hành trang, rõ ràng là 
nó lại sắp di chuyển. Sự hoảng loạn từ đó mà lớn lên không ai ngăn được.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Binh nhì Đức và đám thuỷ quân lục chiến đến vịnh Cam Ranh ngày 1-4. Bọn quân 
cảnh, bình thường dữ tợn, nhưng lúc này thấy hãy nên tránh xa bọn thuỷ quân lục 
chiến. Bọn này lên bờ, bắt đầu chất người lên xe tải, xe jeep, xe du lịch, chĩa 
súng vào người lái yêu cầu chở đi Nha Trang. Những người lái hiểu ngay vì không 
muốn bánh xe bị bẹp gí bởi đạn M.16. Vừa ra khỏi vịnh Cam Ranh, đám thuỷ quân 
lục chiến nhanh chóng biết được Nha Trang giờ đây hoặc chẳng bao lâu nữa sẽ nằm 
trong tay Cộng Sản. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Gần một nửa đám lính này lại gí súng vào lái xe yêu cầu đưa họ quay lại vịnh Cam 
Ranh. Họ lại lên những chiếc tàu đã chở họ từ Huế đi Đà Nẵng, từ Đà Nẵng đi Cam 
Ranh và bây giờ từ Cam Ranh xuôi tiếp về phía Nam. Đức không có mặt trong tốp 
đó. Đức và hàng nghìn người khác cứ ngồi trên xe chạy dọc quốc lộ 1. Mục tiêu là 
đến Sài Gòn. Hàng nghìn người khác bỏ chạy về phía Nam, trong đó có cả Phú và sở 
chỉ huy quân đoàn 2. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cũng như Đà Nẵng, việc Nha Trang sụp đổ được xác nhận bằng một cú điện thoại đến 
chỉ huy quân sự ở Sài Gòn. Từ Nha Trang, tỉnh trưởng Khánh Hoà đã gọi về lúc xế 
chiều. Ông ta hét vào tai người sĩ quan trả lời điện thoại, làm cho người này 
sững sờ với câu nói: “Tôi đi đây, tình hình tuyệt vọng rồi”. Rồi ông ra cúp điện 
thoại. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Giờ đây, cái gọi là quân lực Sài Gòn một triệu người đã bị tiêu diệt đúng phần 
nửa. Sáu sư đoàn rưỡi được gọi một cách văn vẻ là “mất hiệu lực tác chiến”. 
Chẳng sư đoàn nào sẽ chiến đấu trở lại. Những gì còn lại: chỉ có nửa sư đoàn dù 
và sư đoàn 18 được xem là còn đôi chút giá trị. Các sư đoàn 5 và 25 đã mất hiệu 
lực vì tư lệnh của chúng nằm tù do tham nhũng và bán vật liệu cho Việt Cộng. Ba 
sư đoàn khác nằm trong vùng châu thổ, năng lực đáng nghi ngờ và không thể chuyển 
về Sài Gòn được. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Hai tỉnh khác cùng Nha Trang rơi vào tay Cộng Sản là Quy Nhơn và Tuy Hoà. Thế là 
15 trong số 23 tỉnh phía Bắc Sài Gòn vĩnh viễn nằm trong tay Bắc Việt Nam và 
Việt Cộng. Riêng tại Đà Nẵng, 100 nghìn lính Sài Gòn bị bắt. Tổng số lực lượng 
bị mất ước chừng 300 nghìn người, chưa kể số binh sĩ chẳng bị bắt, bị thương mà 
chỉ hoàn toàn vô tổ chức. Ba trong bốn thành phố lớn nhất ở Nam Việt Nam đã nằm 
trong tay Cộng Sản. Khoảng 2 triệu dân di tản về phía phòng tuyến Sài Gòn. Họ là 
những người làm nghẽn đường đi, ngốn thức ăn, làm mất thì giờ và đòi chiếm đủ 
mọi thứ phương tiện khác. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Chính trong ngày này, cột trụ của Thiệu là Trần Thiện Khiêm thông báo ý định từ 
chức. Khiêm nói thẳng với Thiệu rằng Thiệu đã mất hết tín nhiệm không những đối 
với các nhà chính trị mà còn cả với quân đội nữa. Khiêm là một trong hai tướng 4 
sao ở Sài Gòn (tay kia là Cao Văn Viên) là lý do chính giữ Thiệu tại vị. Chừng 
nào Khiêm còn ủng hộ Thiệu thì đa số các tướng khác cũng vậy. Thiệu đang cố tìm 
cách né tránh những lời đả đảo đã huỷ bỏ luôn buổi họp chia tay với tướng Weyand 
lúc 5 giờ chiều ngày 1-4. Thiệu hẹn gặp lại Weyand, Martin và tướng Viên vào 
sáng ngày 2-4. Weyand đang nóng nảy muốn cuốn gói về sớm để báo cáo với tổng 
thống Mỹ. Nhưng Thiệu lại huỷ bỏ buổi hẹn ấy lần nữa. Đang bù đầu với những khó 
khăn chính trị, Thiệu chưa sẵn sàng gặp những người Mỹ này. Rốt cuộc, chiều ngày 
2-4, lúc 17 giờ Thiệu mới chịu tiếp họ. Tay tổng thống đã bị tác động nên khinh 
miệt gay gắt với Martin và Weyand, Thiệu rút ra một lá thư của cựu Tổng thống 
Nixon hứa can thiệp bằng quân lực Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam nếu Cộng Sản 
vi phạm hiệp định. Thiệu mắng nhiếc chính quyền Mỹ, nói thẳng vào mặt Weyand là 
về phần mình, con người Thiệu đã bị Kissinger viết chung một hoá đơn bán đứt 
cùng với Hiệp định Paris rồi. Cuộc gặp gỡ cù cưa, cù nhầy cho đến lúc nó chấm 
dứt. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trong lúc những chuyện đại loại như vậy đang diễn ra ở Việt Nam thì ở 
Washington, Nhà Trắng nhận được báo cáo: Mọi việc vẫn ổn định và có chiều hướng 
tốt.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&amp;nbsp;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Chương 7 : Tuyến phòng thủ và trẻ em&lt;/b&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trận đánh chiếm Sài Gòn đã bắt đầu từ cái ngày sau thảm họa Nha Trang, mặc dù 
lúc ấy ít ai nhận ra điều đó. Đúng 4 tuần sau, nó kết thúc thảm họa di tản sứ 
quán Mỹ vài giờ. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Với những ai ở Việt Nam 4 tuần ấy, các sự kiện như nhoè đi. Những giờ phút thật 
dài, trí nhớ không hoàn toàn đáng tin cậy nữa. Muốn viết phải sắp xếp lại dữ 
kiện, không thể dựa vào trí nhớ riêng của mình. Phải dựa vào cả những ghi chú, 
điện văn có liên quan. Sự kiền dồn dập như phim quay nhanh. Với người Nam Việt 
Nam, nó còn là thảm kịch, sợ hãi, tuyệt vọng. Tháng 4 ở Sài Gòn là toàn bộ cuộc 
chiến tranh 30 năm thu nhỏ lại. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trẻ con Việt Nam được thế giới nhìn như đám cô nhi lăn lóc trở thành chất xúc 
tác cho cái bệnh di tản sau khi Nha Trang sụp đổ. Những người quản lý các viện 
mồ côi ở Sài Gòn để lộ ý muốn của họ cho đám trẻ con đi. Điều này tức khắc trở 
thành thời cơ tuyên truyền không chỉ riêng cho những người thực tâm giúp đỡ trẻ 
em. Những kẻ mỉ mai, ích kỷ đã tìm thấy thời điểm ngon lành. Trong bọn này phải 
liệt Martin vào đấy. Vào một lúc không được kín đáo, Martin đã nói với một người 
trong đám thân tín rằng, vấn đề di tản trẻ con là đòn tuyên truyền tuyệt diệu. 
Viên đại sứ cảm thấy việc làm rùng beng tối đa chương trình di tản trẻ em giúp 
vào việc lái dư luận quốc hội Mỹ nghiêng về phía Sài Gòn. Mọi âm mưu đã thành 
công. Chiều ngày 3-4, một chiếc DC.8 đã chở 85 trẻ mồ côi và một số nhà báo chọn 
lọc từ Nam Việt Nam đi Mỹ. Chiếc C5A đã hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất sáng sớm ngày 
4-4. Nó quá lớn đến nỗi có vẻ chậm chạp trong khi bay. Công nhân bốc xuống hàng 
chục tấn thiết bị quân sự cho cái quân đội khốn khổ. Người ta sắp đặt cho nó cất 
cánh trưa hôm ấy với chuyến hàng chính thức là trẻ mồ côi và những người Mỹ, 
danh nghĩa là đi theo chăm sóc trẻ. Các nhà báo được ân cần mời ra Tân Sơn Nhất 
để chụp hình và phỏng vấn đám trẻ lên phi cơ. Chiếc C5A thuộc loại máy bay khổng 
lồ trên trời. Một số ít may mắn kiếm được ghế ngồi còn tuyệt đại đa số khoảng 
gần 400 trẻ em phải chui xuống dưới các dây chằng hàng. Cuối cùng cái cửa sổ 
khổng lồ cũng được đóng lại. Nó được đài không lưu báo là trống chỗ để di chuyển 
ra đầu đường băng. Phanh nhả ra. 4 động cơ phản lực khổng lồ rít lên. Chiếc máy 
bay lấy đà rồi cất cánh. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
4 giờ 45 phút chiều hôm đó, máy bay ra đến biển Đông ở độ cao 4 dặm. Nó tiếp tục 
nâng độ cao lên 8 dặm mới ổn định đường bay. Lúc bấy giờ, trong máy bay hành 
khách còn bị chằng dây an toàn. Phần đông người lớn nắm tay nhau thành trò vui. 
Một số người cất tiếng hát. Bỗng nhiên, cánh cửa máy bay văng mất, sức hút của 
gió cuốn đi những vật gì không được cột chặt trong máy bay, kể cả mấy đứa trẻ sơ 
sinh. Chiếc máy bay cố tìm cách quay lại Tân Sơn Nhất. 20 phút sau, phi công 
không sao giữ được máy bay ổn định nên quyết định hạ cánh khẩn cấp. Chiếc phản 
lực khổng lồ chạm xuống một cái gò trên ruộng lúa, lướt qua con rạch rồi sựng 
lại trong đám ruộng kề đó, cách Tân Sơn Nhất không đầy 2 dặm. Lửa bùng cháy và 
khói làm cho số lớn người trên máy bay bị thiệt mạng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Martin nhận cú điện thoại báo tin tai nạn máy bay rơi. “Chiếc C5A đã rơi”-một 
viên chức Hoa Kỳ nói với Martin bằng điện thoại siêu tần số của toà đại sứ. 
“Vâng”, Martin trả lời. “Có người sống sót”, viên chức ấy nói tiếp. “Vâng, cảm 
ơn anh”. Martin đáp rồi cúp điện thoại. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
19 giờ sau, một máy bay phản lực B.747 chở 400 trẻ em khác ra khỏi Việt Nam. 
Cuộc di tản những người Mỹ vẫn không được sứ quán Hoa Kỳ giúp đỡ. Martin sẵn 
sàng giúp trẻ con bởi vì đám cô nhi ấy “giúp” ông ta. Còn với đồng bào của viên 
đại sứ, Martin vẫn giữ vững lập trường là pháp luật phải được tôn trọng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Quân đội Sài Gòn đã bỏ thêm Đà Lạt vào ngày 3-4. Ở Sài Gòn người ta tự hỏi khi 
nào phòng tuyến được giữ vững? Khi Đà Lạt được trao cho Cộng Sản thì Khiêm đọc 
diễn văn cuối cùng trên đài phát thanh quân đội Sài Gòn. Thực tế Khiêm vẫn là 
quân nhân nhưng đã lột sao để nắm vai trò dân sự là thủ tướng. Với giọng đều 
đều, Khiêm đã đọc bài diễn văn chiến đấu trong giờ ngủ trưa, không chắc có đến 
10% người nghe, van nài đồng bào đừng rút lui, công bố ý định từ chức để phản 
đối Thiệu.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ngày 4-4 ấy là ngày bận rộn đối với Thiệu. Chấp nhận cho Khiêm từ chức, mở 
cuộc bắt bớ thứ hai các đối thủ chính trị, gặp Weyand trước khi viên tướng này 
về báo cáo với Ford. Weyand cho Thiệu biết rằng viện trợ cho Nam Việt Nam sẽ gặp 
khó khăn nếu rút lui nữa. Mỹ đã quyết định lập phòng tuyến Phan Rang-Tây Ninh, 
nhưng Nha Trang sụp đổ làm Weyand xúc động vì ở đó ông ta đã nói với các nhà báo 
rằng, Sài Gòn sẽ chiến đấu. Weyand đã nói thẳng với tay tổng thống Nam Việt Nam 
rằng những cuộc rút lui quy mô lớn làm mất phiếu quốc hội ủng hộ Sài Gòn. Lực 
lượng của Thiệu ít nhất cũng phải một lần chiến đấu, thắng được một trận càng 
tốt. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Thiệu hứa một trận đánh như vậy sẽ diễn ra. Sau đó, Thiệu triệu tập các cố vấn 
quân sự và quyết định Phan Rang là địa điểm. Thiệu moi móc trong chốc lát rồi 
quyết định trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi sẽ cầm đầu cuộc chống giữ ấy. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Viên tướng ba sao này chẳng có thành tích chiến trường nào đáng nói. Nghi đã làm 
tư lệnh quân khu 4 nhưng tham nhũng công khai, đến nỗi người Mỹ cũng thấy ngượng 
và đã buộc Thiệu phải cách chức Nghi năm 1974. Nghi không có tài nhưng có lòng 
trung thành đặc biệt với Thiệu, điều có thể sử dụng vào năm1975 này. Lần này, 
Thiệu giao cho Nghi quyền chỉ huy Phan Rang và Phan Thiết cách Sài Gòn 165 dặm 
về phía Đông Bắc. Về nguyên tắc, Nghi phải báo cáo về sở chỉ huy quân đoàn 3 ở 
Biên Hoà. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tối ngày 4-4, Thiệu lên đài truyền hình, khiến người ta phải nhức mắt. Thiệu 
chửi Mỹ đã cắt viện trợ và kết luận: làm sao người ta có thể tin ở Mỹ được. 
Thiệu chửi báo chí, doạ trừng trị các hãng thông tấn ngoại quốc bóp méo sự thật. 
Thiệu sôi nổi hỏi tội các cấp chỉ huy không chịu cố thủ. Với kế hoạch bỏ rơi Tây 
Nguyên, Thiệu coi đó là”chiến dịch quân sự xuất sắc bị quân đội thực hiện tồi”, 
Huế mất vì “phải chọi với lực lượng cộng sản ưu thế hơn”. Đà Nẵng sụp đổ vì 
“không có thì giờ dựng lên một vành đai phòng thủ trong tình hình hoảng loạn”. 
Thiệu xác định mình vẫn sẽ là tổng thống và quân đội sẽ chiến đấu từ Phan Rang. 
Kết thúc bài diễn văn gay gắt, Thiệu ra lệnh tống giam ba tướng: Phạm Văn Phú vì 
đã cãi vã với Thiệu về chuyện bỏ Tây Nguyên, Phạm Quốc Thuần vì không phòng thủ 
Nha Trang, Dư Quốc Đống để mất Phước Long. Còn viên tướng thứ tư mà Thiệu muốn 
bỏ tù thì lại đang nằm giường bệnh vì bị giày vò và xấu hổ, đó là Ngô Quang 
Trưởng. Trưởng chằng giữ nổi thành phố nào ở khu vực phía Bắc, nằm bệnh viện và 
đang tuyệt thực. Nhưng Trưởng không điên. Đến ngày tận số của Nam Việt Nam thì 
Trưởng là người đầu tiên leo lên trực thăng Hoa Kỳ. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Binh nhì Đức của thuỷ quân lục chiến ngồi xe xuôi theo quốc lộ 1, rời Cam Ranh 
ngày 1-1. Anh ta dừng chân ở quận lỵ Du Long cùng bạn bè “mua” thức ăn bằng 
súng, thuê gái đĩ bằng dao găm nhởn nhơ vài ngày. Đến ngày 6-4, khi bốn lính 
thuỷ quân lục chiến, trong đó có Đức-cười sằng sặc bẻ khóa vồ một xe Jeep và đi 
thẳng tiếp về Sài Gòn thì đã tươi tỉnh lại. Ra khỏi thị trấn 15 dặm, cả bọn đụng 
đầu với quân cảnh và bị xung vào quân đội một lần nữa. Đám quân cảnh ấy đang làm 
việc cho Vĩnh Nghi. Bất cứ ai có vẻ có khả năng chiến đấu đều bị xung vào hoặc 
ép trở lại quân đội Sài Gòn để phòng thủ Phan Rang. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Một trong các lý do chọn Phan Rang làm phòng tuyến vì đó là quê Thiệu. Nhiều 
người cho đấy là lý do độc nhất. Tay tổng thống này sinh ra ở bên ngoài Phan 
Rang, gần Ninh Chữ và sát bờ biển. Mẹ Thiệu sống ở đó đến đầu thập kỷ 70. Tổng 
thống hay về thăm quê, thường xuyên hơn mọi vùng khác của đất nước. Thiệu theo 
đạo Thiên chúa là do chiều ý vợ. Lúc nhỏ, Thiệu theo đạo Phật nên vẫn về Ninh 
Chữ đều đặn để thăm mồ mả tổ tiền. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Nghi chẳng phải là con người khờ dại về chính trị nên đã vạch kế hoạch phòng thủ 
Phan Rang bao gồm cả Ninh Chữ, cách Phan Rang 5 dặm về phía Bắc, hơi chếch về 
hướng Đông. Ninh Chữ không phải là nơi hoàn toàn có thể phòng thủ được. Vài 
chuyên gia cũng thắc mắc nhưng Nghi giải thích rằng, nó có thể kiếm soát được 
đường rút lui, hoặc mất Ninh Chữ thì tỉnh lỵ sẽ nằm trực tiếp dưới hoả lực Cộng 
Sản. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Đức và 3 người bạn thuỷ quân lục chiến đến Ninh Chữ. Có mặt ở đây gồm quân biệt 
động, lính bộ binh, nghĩa quân và cả mấy lính không quân. Một số trong đám lính 
này thậm chí chẳng hề biết viên đạn nằm ở đầu nào của cây súng. Nét chung nhất 
của lực lượng phòng thủ Ninh Chữ là hầu hết số lính bỏ chạy khỏi chiến trường 
nơi khác trong 3 tuần lễ qua. Ninh Chữ trở thành một làng chết được bảo vệ bởi 
đám lính thích bỏ chạy. Ít ai tin rằng họ sẽ thôi không chạy nữa. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trung tá Bảo xuất hiện vào chiều ngày 7-4 để lãnh trách nhiệm phòng thủ Ninh 
Chữ. Ông ta báo cáo trực tiếp về tướng Nghi. Theo lời ông ta nói với lính rằng 
ông ta có ý định giữ vững Ninh Chữ cho viên tướng cũng như cho tổng thống. Bảo 
là con người nổi bật. Cầm đầu đám lính có một không hai với bộ đồ trận mới toanh 
và giầy bóng loáng. Ông ra không cho biết mình từ đâu đến, tuy nhiên Đức và đám 
bạn thân đoán được rằng ông ta từ bộ chỉ huy Sài Gòn ra và được Nghi đích thân 
lựa chọn. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Khó xác định được đúng ngày trận đánh Phan Rang khởi sự. Thành phố bị pháo kích 
và dân chúng bỏ đi từ trước khi Nghi nắm quyền chỉ huy phòng thủ. Cuộc tấn công 
lớn bằng bộ binh xảy ra lần đầu tiên ngày 7-4. Nhưng những biến cố khác làm mờ 
cuộc phòng thủ Phan Rang. Đó là cuộc ném bom dinh Tổng thống Thiệu ngày 8-4, một 
điểm ngoặt dẫn đến cuộc di tản người Mỹ.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&amp;nbsp;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Chương 8 : Cái hố tử thủ&lt;/b&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trận đánh Sài Gòn đã bắt đầu, nhưng dân chúng chỉ phát hiện được vào ngày 9-4, 
một ngày sau cuộc ném bom dinh Thiệu. Ngày 7-4, trận đánh Phan Rang bắt đầu nóng 
bỏng. Đức không nhìn thấy nhưng nghe được tiếng pháo kích nặng nề trong tỉnh lỵ 
và căn cứ không quân cạnh đó. Ở Sài Gòn, Thiệu ra lệnh tống giam tư lệnh không 
quân Tân Sơn Nhất. Tướng 2 sao Nguyễn Văn Hiếu, phó tư lệnh quân khu 3 tự tử sau 
khi cãi nhau với tướng 3 sao Nguyễn Văn Toàn về chuyện phòng thủ thủ đô. Trận 
đánh lớn nhất là ở tỉnh Long Khánh, cách Sài Gòn 38 dặm về hướng Đông Bắc. Toàn 
bộ một sư đoàn Cộng Sản tràn đến Xuân Lộc. Một cái hố tử thủ đã được đào vào 
thời điểm ấy. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Phòng thủ Xuân Lộc là lính sư đoàn 18, sư đoàn tệ nhất trong quân đội Sài Gòn. 
Khi mới được thành lập, nó mang danh sư đoàn 10 và đi đến chỗ màng biệt hiệu 
“năm-bơ ten” (number ten), một tiếng Anh mà người Việt Nam nói bóng để chỉ “đồ 
tồi tệ nhất”. Do sự nhục mạ của dân chúng ngày càng nhiều đối với sư đoàn 
“năm-bơ ten”, nó được đổi thành sư đoàn 18. Giữa thập kỷ 60, nó là sư đoàn quá 
tệ, tới mức không gây đe dọa gì cho đám tướng lĩnh vốn sợ đảo chính nên nó được 
đóng tròng vùng Sài Gòn. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Hai nghìn quả đạn pháo mở đầu cho trận đánh Xuân Lộc. Trận đánh kéo dài một ngày 
rưỡi. Xuân Lộc chưa chịu gục, nhưng các tư lệnh Bắc Việt Nam còn những lá bài 
khác trong tay. Hoa Kỳ đang viện trợ khẩn cấp cho Nam Việt Nam. Viện trợ ấy được 
trả bằng tiền trong các khoản lưu trữ từ 2 năm trước chưa dùng đến. Quốc hội Mỹ 
chưa chịu chi thêm viện trợ nhưng tiền trong két sắt lúc ấy vẫn còn quá đủ để 
giữ cho việc tuồn trang bị và đạn dược đến tay quân đội Sài Gòn trong nhiều 
tháng liên tục. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Khi trận Xuân Lộc bùng nổ, một chiếc C5A hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất lúc sương mù 
vừa tan, mang đến 27 tấn mũ sắt và áo giáp chống đạn. Máy bay đỗ, đài Sài Gòn 
báo cho công chúng Việt Nam biết là ở phía bên kia địa cầu, Tổng thống Ford kêu 
gọi trong đêm rằng, quốc hội Mỹ nên cho Sài Gòn 722 triệu đôla viện trợ quân sự 
và 250 triệu đôla viện trợ kinh tế. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Thật ra, quân đội Sài Gòn chẳng cần tiền mà cần thay lãnh đạo. Một quyết định 
ngờ nghệch do tay tổng thống đưa ra ngày 11-4 là tung một lữ đoàn dù nữa vào 
Xuân Lộc để mong giành lấy chiến thắng, dù tượng trưng, mà Sài Gòn đang hết sức 
cần thiết. Lữ đoàn được chở bằng xe đến Long Bình. Ở đấy, lính dù được chất lên 
các trực thăng khổng lồ loại Si-núc. Mục tiêu cuối cùng là Xuân Lộc, nhưng hoả 
lực mãnh liệt của Cộng Sản trong thành phố khiến không thể nào chở quân bằng máy 
bay vào tỉnh lỵ được. Vì thế phải chọn một bãi đáp trong đồn điền cao su do Pháp 
quản lý, cách Xuân Lộc 5 dặm về hướng Đông. Đại đội đi đầu được thả xuống. Binh 
lính dàn trận. Chẳng có lấy một phát súng nổ. Trực thăng bay đi bay lại giữa đồn 
điền và Long Bình mang thêm lính dù đến. Các sĩ quan ở Sài Gòn và ở chiến trường 
khen nhau rối rít về cuộc hành quân bất ngờ này. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trước lúc hoàng hôn, sư đoàn Bắc Việt Nam bao quanh đồn điền cao su bắt đầu mở 
trận tấn công. Đám lính dù quả thật chẳng hề có cơ hội chiến đấu nào nữa. Liều 
thuốc an thần cho Xuân Lộc thế là tan nát. Bị hoàn toàn bất ngờ, bị áp đảo ở tỷ 
lệ 3 đánh 1, đám lính dù đã bại trận ngay lúc đánh bắt đầu. Đó là trận đánh úp 
lớn nhất trong cuộc chiến được thực hiện hoàn hảo của một sư đoàn Bắc Việt Nam. 
Con số tử thương không lớn nhưng số lính dù tan tác tứ phương. Lữ đoàn bị xoá 
tên, không còn là lực lượng tác chiến nữa. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Điều quan trọng sau trận đánh úp là 1 sư đoàn Bắc Việt Nam nữa bước vào tham 
chiến ở Xuân Lộc. Hai nghìn quả đạn pháo nữa nã vào tỉnh lỵ. Như vậy không đáng 
sợ bằng đêm đó, Cộng Sản dùng đặc công chui vào phá một kho đạn nhằm trang bị 
lại cho 15 tiểu đoàn lính Sài Gòn. Đêm sau, một quả đạn pháo trúng số độc đắc 
lại rơi trúng trung tâm kho đạn khổng lồ ở Biên Hoà. Kho này cần cho trận đánh 
Xuân Lộc gồm bom, đạn pháo và đạn súng bộ binh. Thêm đòn nghiêm trọng đánh vào 
Sài Gòn. Chiếc hố tử thủ đã đào nhưng chẳng có gì để lấp ở đó. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Binh nhì Đức trở lại với cuộc chiến được 4 ngày sau trận đánh Phan Rang mở màn 
ngày 9-4. Anh ta chẳng thích thú gì, nhưng ở Ninh Chữ ngày 13-4, một lần nữa anh 
ta cảm thấy cuộc sống của mình có mục đích. Hoả lực của Bắc Việt Nam ở đây rất 
nặng. Đức có thể nghe được và thấy được rằng nó còn nặng hơn ở Phan Rang nhiều. 
Có thể nghe thấy giao tranh dữ dội nhất là ở căn cứ không quân, nơi Nghi đóng sở 
chỉ huy.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Những đợt tấn công bằng bộ binh vào Ninh Chữ chỉ là thăm dò. Chẳng có gì đáng 
để cố thủ ở trong làng, nhưng Đức và đồng ngũ cũng ở trong tình trạng báo động 
hoàn toàn suốt 6 đêm liền. Tiếng súng tuy nhiều nhưng thương vong ít. Trung tá 
Bảo, tay sĩ quan Sài Gòn khi mới đến có dáng dấp oai vệ giờ đây trông cũng như 
bọn họ, cũng mệt mỏi, dơ bẩn và nhàu nát. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cộng Sản càng ngày càng đổ thêm quân xuống quốc lộ 1. Ngồi trên xe tăng, xe nhà 
binh, xe đò và bất cứ xe gì mà họ gom được trên đường, đoàn quân áo xanh Bắc 
Việt Nam đổ về phía Nam, bỏ hầu hết những vùng mới chiếm được cho bộ đội địa 
phương. Họ tiến xuống phía Nam thật nhanh theo các con đường, quyết liệt cũng 
như đường mòn, đường biển. Chỉ trừ những cuộc hành quân trực thăng vận khi Mỹ có 
mặt, còn chẳng có quân đội nào trong lịch sử Việt Nam lại di chuyển nhanh chóng 
như lực lượng Bắc Việt Nam lúc bấy giờ. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Vĩnh Nghi ở lại sở chỉ huy Phan Rang cảm thấy tình hình tuyệt vọng. Thậm chí 
Nghi không biết đích xác mình có bao nhiêu quân, chỉ ước lượng có độ 1 sư đoàn, 
7 đến 8 nghìn lính. Đó là tài xế, thư ký, dân vệ mới xung vào quân đội để giữ 
mạng sống cho mình. Không có chuyện trốn thoát bằng đường bộ. Nhưng lực lượng 
của Nghi cứ teo dần đồng thời với dân chúng ở Phan Rang. Thông tin liên lạc giữa 
Nghi và các vị trí bao quanh có vẻ khó. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trong phiên trực gác, Đức đi cặp với một trong số ít dân vệ. Khi trò chuyện, 
người ấy đề cập cho Đức biết chuyện mồ mả gia đình Thiệu chỉ cách nơi họ núp 
trong hố đạn có khoảng 300 mét thôi. Đức nhận xét với vẻ châm biếm là giờ đây 
anh ta đã hiểu tại sao họ lại bảo vệ Ninh Chữ. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Vòng đai Xuân Lộc được nới rộng nhưng chỉ là lý thuyết sớm mai một. Bởi vì, tại 
Biên Hoà, cách Sài Gòn có 14 dặm, Cộng Sản đang tiến lên. Đêm 14-4, các pháo thủ 
đã nhằm trúng kho đạn. Khi phi công trình diện lãnh công vụ vào sáng ngày 15-4 
thì một trong hai đường lăn không còn sử dụng được vì đạn pháo đào những lỗ trên 
đường băng bê tông. Những cuộc yểm hộ cho Xuân Lộc và Phan Rang đều phải ngừng 
lại. Pháo 130 ly vẫn bắn. Việc phi cơ không cất cánh được thành vấn đề nghiêm 
trọng. Một nửa số máy bay của không quân Sài Gòn nằm ở tại căn cứ này. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tại Xuân Lộc, Lê Minh Đảo biết là 3 sư đoàn Bắc Việt Nam (thực tế là 4) đe dọa 
sư đoàn mình. Đảo ra lệnh cho trung đoàn thứ ba và cũng là trung đoàn sau cùng 
nhảy vào trận đánh. Bắc Việt Nam tìm cách đẩy lùi trung đoàn này và cố chặn cả 
lực lượng cứu viện từ Trảng Bom tới. Họ tiếp tục vây hãm Xuân Lộc. Các lực lượng 
khác được lệnh vòng qua tỉnh lỵ và cứ tiếp tục tiến về Sài Gòn. Lực lượng Cộng 
Sản tiếp tục thế cóc nhảy, cắt đứt quốc lộ 1 ở phía sau trung đoàn 3 của Đảo. Họ 
đã ở phía Tây Trảng Bom cách Sài Gòn 21 dặm. Lực lượng địa phương của Cộng Sản 
trong vùng Sài Gòn nhận lệnh cấp thời. Vấn đề chỉ còn là thủ đô Nam Việt Nam sụp 
đổ thế nào và vào lúc nào mà thôi. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ngày 15-4, Phan Rang thất thủ. Lực lượng Bắc Việt Nam bao trùm mọi phía của 
thành phố. Pháo binh phá nó tan hoang, bộ binh yên chí chờ đợi. Khi bộ binh và 
xe tăng tiến lên, sức chống cự họ chẳng còn mấy nữa. Thành phố thất thủ và cờ 
Việt Cộng được kéo lên. Tại sở chỉ huy của Vĩnh Nghi ngày 15-4, tình hình chưa 
quá tệ. Nghi nghe tin thị xã thất thủ với thái độ bình thản. Lúc ấy Nghi liên 
lạc với Toàn, tư lệnh quân khu 3. Qua điện đài, Toàn bảo Nghi rằng, Phan Rang 
phải chiến đấu càng lâu càng tốt để làm chậm bước tiến khổng lồ của Cộng Sản 
xuống quốc lộ 1. Tin Phan Rang thất thủ làm Toàn sững sờ. Nhưng báo cáo của Nghi 
về việc còn giữ được căn cứ không quân làm Toàn hứng khởi. Toàn nói với Tổng 
tham mưu trưởng Cao Văn Viên để phái thêm lính sang sắp xếp lại ở Hàm Tân, đặt 
lính Sài Gòn ngăn cách hai lực lượng Cộng Sản đang tiến công Phan Rang với lực 
lượng bị chặn lại ở Xuân Lộc. Đây là kế hoạch tuyệt vời nhưng thời điểm thực 
hiện đã tuyệt vọng rồi. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Chiều tối ngày 15-4, kế hoạch và sự lạc quan này bay ra cửa sổ cùng tiếng nổ 
giòn của đại bác 130 ly đang dội tập trung vào căn cứ không quân Phan Rang. Từng 
cứ điểm vành đai bị phá tan tành. Binh lính bị giết hoặc chạy hết. Trinh sát 
viên hướng dẫn pháo bắn ngày càng gần sở chỉ huy, nơi Nghi đang nằm im dưới đất.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Đến đêm, xe tăng và bộ binh Bắc Việt Nam bắt đầu tiến vào căn cứ. Trong bóng 
đêm, đốm sáng lập loè bay tứ phía. Làn đạn xanh từ súng Cộng Sản nhiều hơn làn 
đạn đỏ của vũ khí Sài Gòn do Mỹ chế tạo. Trận chiến dữ dội. Khoảng gần sáng, 
Vĩnh Nghi báo cho các vị trí nằm ngoài sở chỉ huy Biên Hoà biết sở chỉ huy của 
mình sẽ mất vào bất cứ lúc nào. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ở Ninh Chữ, binh nhì Đức xúc động về việc mất tỉnh lỵ hơn tướng Nghi, tuy anh ta 
và 400 binh sĩ khác chưa chịu đựng hoả lực bắn bao nhiêu. Ninh Chữ trở thành hòn 
đảo đơn độc. Bây giờ họ lại nghe qua điện đài lời báo của Nghi nói với đám binh 
sĩ ở Ninh Chữ và quanh Phan Rang hãy thoát đi bằng cách tốt nhất có thể được. Bộ 
đội Bắc Việt Nam bỏ qua làng ấy. Tàu thuyền sẵn và biển quá gần đến nỗi Đức có 
thể ngửi mùi nước mặn. Nhưng với Đức, ba lính thuỷ quân lục chiến và một lính 
biệt động thì lệnh rút lui ấy là một trong quá nhiều lệnh kiểu này. Đã rút hơn 
nửa chiều dài của Nam Việt Nam rồi! Không có chỗ để đứng lại hay sao? &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tại Ninh Chữ có một máy ủi đất và một trong ba lính thuỷ quân lục chiến biết 
cách bẻ khóa công tắc. Nó hụ lên thành một vật sống. Một người lính ngồi ghế 
lái, còn Đức và những người khác ngồi trên nóc, ở phía sau. Trung tá Bảo, viên 
sĩ quan Sài Gòn ra chịu trách nhiệm phòng thủ Ninh Chữ ra lệnh cho đám binh sĩ 
rời khỏi máy ủi. Đức và hai người lính bèn chĩa thẳng những khẩu M.16 vào viên 
sĩ quan để biểu lộ ra mặt sự chống lệnh. Bảo rút lui vào chỗ để máy truyền tin 
của ông ta. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Chiếc máy ủi chạy thẳng hướng đến khu mồ của gia đình Thiệu. Trong vòng 5 phút, 
các bia đá bị lưỡi gạt nghiến nát và mặt đất bị xới tung lên. Chẳng còn cách nào 
để nhận ra những ai đã được chôn ở đấy. Năm binh sĩ bước khỏi máy ủi đất với sự 
mệt mỏi chán chường và đi ra biển. Bảo cũng báo cáo hành động của họ cho Nghi 
biết và vặn tắt điện đài rồi cũng đi bộ ra biển. Ba ngày sau, họ đến được Vũng 
Tàu bằng chiếc thuyền đánh cá. Còn Vĩnh Nghi sa vào tay quân Bắc Việt Nam khi họ 
đánh căn cứ không quân.&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-6399193180999190338?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/6399193180999190338/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=6399193180999190338' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/6399193180999190338'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/6399193180999190338'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/05/55-ngy-ch-si-gn-sp-alan-dawson-chng-4-5.html' title='55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ Alan Dawson Chương 4 5 6 7 8'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-7040414206095629680</id><published>2008-05-09T23:20:00.000+07:00</published><updated>2008-05-09T23:30:01.356+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chiến tranh Việt Nam'/><title type='text'>55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ Alan Dawson</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;u&gt;Vài lời của tác giả&lt;/u&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;i&gt;Quyển sách này viết dựa trên sự việc thật. Cách giải thích sự kiện là của 
riêng tôi. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tôi đã tự tiện trong hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất là cách dùng tên. Nhiều 
người Nam Việt Nam trong phe chiến bại yêu cầu tôi đừng dùng tên thật của họ 
trong các bản tin sau “ngày giải phóng”. Điều ấy tôi không làm ở đây. Các viên 
chức và chiến sĩ cộng sản và viên chức cao cấp Sài Gòn đều được ghi bằng tên 
thật của họ. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trường hợp tự tiện thứ hai là trong mọt số hoàn cảnh cần phải cô lại các sự kiện 
đã diên ra ở một nơi nào đó và phải cho chúng diễn ra với một nhân vật. Binh nhì 
Đức của thuỷ quân lục chiến là trường hợp điển hình. Mọi sự kiện, thời gian đều 
đúng nhưng đôi khi không diễn ra với Đức. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Sẽ có những người trong chính quyền mới ở Nam Việt Nam tức giận về những từ ngữ 
dùng trong sách. Tôi đã sử dụng cách nói thông thường của báo chí. Tôi biết từ 
Việt Cộng, cộng sản… làm họ khó chịu. Nhưng đấy là cách mà thế giới hiểu về họ.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
…&lt;/i&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Alan Dawson &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
--------------------------- &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Hoả tốc… &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;b&gt;Chính phủ Sài Gòn đầu hàng&lt;/b&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trong nghề đưa tin, một bức điện hoả tốc là lời thỉnh cầu hành động. Nó cắt 
ngang bất kỳ một bản tin nào đang chyển trên máy têlêtip. Chuông của máy reo 
mười lần, một dấu hiệu làm thót bụng phòng nhận tin ở bất cứ nước nào trên thế 
giới. Điện hoả tốc không phải là một bản tin. Nó là một đầu đề, chỉ có vài chữ 
báo hiệu một sự kiện trọng đại. Cuộc ám sát một tổng thống Mỹ được xếp loại tin 
hoả tốc. Và lúc kết thúc chiến tranh Việt Nam cũng vậy. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Khi Dương Văn Minh đang nói, phóng viên UPI đánh máy ngay một điện hoả tốc và 
trao nó cho nhân viên điều khiển máy têlêtíp. 40 giây sau, chuông của 7.500 máy 
têlêtip vòng quanh thế giới reo lên 10 lần. Đám đông tụ tập lại trước mỗi máy và 
đây là cái họ đọc được: &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
“ZCZC VHAO 25 NXI &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Hoả tốc… &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Sài Gòn-Chính phủ Sài Gòn đầu hàng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
NTL 1021 Sáng”. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Một điện hoả tốc luôn luôn được lặp lại để tránh trường hợp bị nhẫm lẫn hoặc giả 
mạo. Sau đó 60 giây là một bản tin, như sau: &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
“ZCZ NNN &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Bản tin… &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Hoà bình-30/4 &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
của Alan Dawson &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Sài Gòn-30 tháng 4 (UPI) Tổng thống Dương Văn Minh hôm nay ra thông báo Nam Việt 
Nam đầu hàng và ra lệnh binh sĩ thuộc chính quyền ngừng chiến đấu. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
NTL 1022 Sáng”. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Nỗi kinh hoàng bị kiềm chế trong bản tin giật gân nhất của thập kỷ... Lẽ tất 
nhiên hầu hết phản ứng ở Sài Gòn khác nhau khi dân chúng chuẩn bị sẵn sàng để 
đón sự kết thúc. Trong vòng 30 phút tiếng súng lẻ tẻ trên đường phố biến mất. 
Phần lớn tiếng súng ở khu phố trung tâm là bắn chỉ thiên của kẻ cướp uy hiếp nạn 
nhân hoặc của những người đuổi theo bọn cướp giật. Bản thân bọn cướp cũng phải 
vét mẻ cuối cùng và đi thẳng về nhà. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Các cửa thường và cửa sắt đều được khóa lại. Ngay cả những chủ tiệm và chủ nhà 
hàng người Pháp ở Sài Gòn cũng đem bàn ghế vào nhà. Im lặng bao trùm thành phố.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tại Cần Thơ, tướng ba sao Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh quân đoàn 4 và đồng bằng sông 
Cửu Long cuối cùng phải nhận và mất hết cả rồi khi ông ta nghe bản tin phát 
thanh của Minh. Chiến trường vùng châu thổ ít sôi động trong suốt cuộc tiến 
công. Bắc Việt Nam chọn lối đánh chớp nhoáng từ Tây sang Đông và tiến từ Bắc 
xuống Nam, tới tận Sài Gòn. Trong vòng 30 phút sau bài diễn văn của Minh và lệnh 
đầu hàng, Nam đã đưa khẩu súng ngắn “côn 45” vào miệng rồi bóp cò và chết ngay 
tức khắc. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Những người lính dù, biệt động quân chiến bại, cay đắng từ phía Bắc và phía Tây 
vào thành phố. Họ nổi giận, dù không tỏ vẻ kinh hoàng, sẵn sàng cướp giật và 
trong nhiều trường hợp, sẵn sàng giết người nước ngoài. Thái độ họ bắt đầu thay 
đổi, phần lớn muốn vứt bỏ tất cả dấu vết có dính líu đến quân đội. Trên một phố 
chính của Sài Gòn, đường Tự Do nơi mà trong nhiều năm qua lính Mỹ đã chật ních 
trong các quán rượu và tiệm ăn, binh sĩ cởi quân phục và lập tức trở thành 
thường dân. Nửa tá lính nhảy dù cởi bộ đồ trận rằn ri của họ, ném súng và đạn 
xuống đất rồi chạy trốn đến nơi nào chẳng ai biết được. Quần áo dân sự bấy nay 
cất kín trong ba lô, lúc này là thời điểm dùng đến. Cho nên, khi đến nơi, quân 
đội Bắc Việt Nam đã nhận thấy ít binh sĩ mặc quân phục ra đầu hàng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Như thường lệ, cảnh sát vẫn đi trước binh sĩ trong việc bỏ nhiệm sở. Tại một số 
bót cảnh sát đã có cờ trắng. Sĩ quan cảnh sát hút xăng ra khỏi các xe Jeeps đổ 
vào xe gắn máy của họ, rồi về nhà. Cảnh sát luôn luôn có áo quần dân sự để thay 
đổi. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trong im lặng, Sài Gòn chờ đợi những người cầm quyền mới, trừ một bộ phận dân 
chúng và Việt Cộng nằm vùng đang sung sướng tưởng có thể phát điên. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tại “Dinh Độc Lập”, trong lúc chờ đợi đầu hàng, Minh lớn có vẻ ủ rũ, trầm ngâm 
và hai má hóp lại. Những người thân tín của Minh cũng thế. Những chiếc xe tăng 
Bắc Việt Nam xuất hiện và phá toang cổng dinh. Mấy người lính cộng sản tìm thấy 
cầu thang lên bao lơn sân thượng,lột bỏ lá cờ vàng sọc đỏ của “Việt Nam Cộng 
hoà” và kéo lên thay bằng lá cờ xanh đỏ sao vàng của Cộng hoà miền Nam Việt Nam. 
Họ kéo vào văn phòng mà ngày trước Thiệu sử dụng. Họ ngồi xuống ghế. Một người 
trong số đó đặt hai chân lên bàn làm việc của người tổng thống cũ-dấu hiệu tột 
cùng của sự khinh bỉ-và để một nhà nhiếp ảnh chụp hình. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tướng Hạnh cũng bàn giao Bộ tổng tham mưu và dẫn lấy người đại uý Việt Cộng đến 
“giải phóng” toà nhà. Khoảng ba tá lính bảo vệ còn lại ở dinh được lệnh sắp hàng 
bên trong đội hình của xe tăng Bắc Việt Nam. Họ được chỉ dẫn đưa vũ khí lên 
không trung, kéo khoá an toàn và bóp cò. Một cách tượng trung, đó là những phát 
súng cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam.&lt;/p&gt;

&lt;p&gt;&amp;nbsp;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Chương 1 : Mở màn&lt;/b&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trụ sở cơ quan tình báo trung ương Nam Việt Nam được đặt tại bờ sông Sài Gòn, 
cùng một phía với Bộ tư lệnh hải quân. Từ các cửa sở của nó, người ta có thể 
nhìn thấy một quảng trường lớn, với một pho tượng đồ sộ, tượng Trần Hưng Đạo, 
“Thành tổ” của hải quân Nam Việt Nam. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trong 5 năm, trung sĩ lục quân Lê Tăng đã làm việc tại một số phòng thuộc loại 
bí mật nhất của phủ đặc uỷ trung ương tình báo. Những phòng này được canh giữ 
nghiêm mật bởi những lính quân cảnh hoàn toàn tin cậy. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Một trong những công việc của trung sĩ Tăng là chọn lọc báo cáo của các nhân 
viên tình báo chiến trường và các đội quân dã chiến. Anh ta cùng với một số ít 
chuyên viên tình báo khác chọn lọc báo cáo, cố gắng phân biệt tin thật với tin 
giả, nhận ra những cuộc chuyển quân của VC và Bắc Việt Nam qua lại trong 44 tỉnh 
của Nam Việt Nam. Có giá trị hơn hết bất cứ loại tin tình báo nào khác mà các 
viên chức Sài Gòn nắm trong tay, những tin tức chuyển quân chính là dấu hiệu để 
đoán xem CS sẽ tấn công ở nơi nào và đôi khi đoán được cả vào lúc nào. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Phạm vi chuyên môn của trung sĩ Tăng là vùng Sài Gòn, nhưng đến cuối tháng 
1-1975, anh ta nắm luôn công việc đánh dấu trên sơ đồ sự chuyển quân của Bắc 
Việt Nam ở vùng Tây Nguyên, cách Sài Gòn hơn 200 dặm. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tăng và các nhà phân tích báo cáo từ nhiều nguồn tin khác nhau trên nguyên 
tắc-và ngay cả cấp trên họ-không được biết xuất xứ. Giống như tình báo CIA Mỹ, 
tình báo Nam Việt Nam cũng chỉ phân phối tin tức một cách rất hạn chế. Tăng có 
được báo cáo và không cần biết nguồn tin. Nhưng trải qua nhiều năm, anh ta đã 
đoán được xuất xứ của báo cáo, bằng cách học được lối nhận ra một số mật danh, 
mật hiệu và cách hành văn, đoán xem báo cáo là của nhân viên tình báo hay của 
những người chỉ huy các toán quân. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Một việc không bình thường đã xảy ra trong bộ phận của Tăng vào đầu tháng 2-1975 
là trên bàn làm việc của anh ta bắt đầu xuất hiện những báo cáo tình báo không 
đi qua hệ thống chuyển tin thường lệ. Lần lượt, nội dung những báo cáo này đã 
được dùng để thiết lập bản đồ tác chiến trong phủ tình báo rồi sau đó ở Bộ tổng 
tham mưu, dinh tổng thống, các cơ sở chỉ huy quân đoàn, đại sứ quán Mỹ và sở chỉ 
huy quân đội Hoa Kỳ. Người ta còn nói rằng cả ở Lầu Năm Góc và Nhà Trắng nữa.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Những bản đồ ấy mà chúng ta có thể gọi là bản đồ của Tăng, bởi vì chúng hoàn 
toàn là sản phẩm của Tăng, cho thấy CS tập trung số quân khổng lồ xung quanh 
Pleiku và Kontum, hai thành phố cách nhau 20 dặm và cách Sài Gòn 250 dặm về phía 
Bắc trên vùng Tây Nguyên. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Không ai đặt vấn đề với những bản đồ của Tăng. Anh ta là một chuyên viên và là 
nhà phân tích có uy tín cao. Xét cho cùng, Tăng chỉ lập bản đồ theo các tài liệu 
trên bàn làm việc của mình và theo những hồ sơ mật vốn xuất xứ từ báo cáo ở 
chiến trường. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trong cách cư xử, trung sĩ Tăng chẳng qua chỉ là một binh sĩ Sài Gòn như mọi 
người khác, chống + một cách ôn hoà, một người không đặc biệt nổi bật trừ công 
việc anh ta làm và năng lực trí tuệ trên mức trung bình. Do sự thông minh ấy, 
Tăng được trọng dụng. Không có hoạt động quân sự nào lớn xung quanh Kontum và 
Pleiku vào đầu năm 1975. Nó tập trung xa hẳn về phía Nam, xung quanh thị xã Buôn 
Ma Thuột. Những báo cáo của trung sĩ Tăng và các bản đồ từ đó mà vẽ ra đều là 
tài liệu giả. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ngày 28-4, trung sĩ Tăng không đến làm việc tại phủ đặc uỷ. Cấp trên của anh ta 
cũng đang lo sợ trong giờ phút Sài Gòn hấp hối, không chú ý đến sự vắng mặt này. 
Thực tế phần lớn trong bọn họ cũng không ngồi tại bàn làm việc hôm ấy, mà đã ở 
Guam hoặc Philippin. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tăng xuất hiện trở lại táig trong buổi sáng 30-4-“ngày giải phóng”. Suốt 72 giờ 
sau đó, anh ta đã hướng dẫn các đơn vị quân đội Bắc Việt Nam, chỉ cho họ thấy 
các cơ sở chủ chốt, các khu cư xá cần được lục soát hoặc cần được canh giữ. Ngày 
3-5, đại uý Lê Tăng của lực lượng vũ trang giải phóng nhân dân thuộc Cộng hoà 
miền Nam Việt Nam lên nắm quyền chỉ huy tiểu đoàn tình báo quân cảnh mà anh đã 
bí mật làm việc với họ trong hơn 3 năm qua. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trong khi đó, quân đội Sài Gòn tan rã từng mảng. Có nhiều người nói rằng nó chưa 
bao giờ được kết lại thành một khối vững chắc cả. Người Mỹ cũng tranh cãi với 
nhau xem ai là kẻ chịu trách nhiệm về sự tồi tệ của quân đội ấy? Cốt lõi của 
quân đội Sài Gòn vào năm 1954 là lực lượng Việt Nam thân Pháp được gom lại ở Nam 
Việt Nam khi lực lượng của ông Hồ Chí Minh tiếp quản Hà Nội. Lúc ấy có những 
người Mỹ-nổi bật là đại tá E.Lansdale-một bóng ma trọn vẹn-vẫn nghĩ rằng quân 
đội Sài Gòn phân nhỏ và cơ động. Họ lập luận rằng, quân đội này nên được huấn 
luyện kỹ về chiến thuật chống du kích, chống nổi dậy, bởi vì đối thủ của họ-ít 
ra cho đến thập kỷ 60-vẫn gồm phần lớn là du kích Việt Minh và cán bộ chính trị 
nằm lại ở Nam Việt Nam. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Nhưng vì những lý do sai lầm, quân đội Sài Gòn buộc phải trở thành một đội quân 
lớn, thiếu cơ động và huấn luyện tồi. Nó được trang bị loại vũ khí đúng là tốt 
nhất ở Đông Nam Á, đặc biệt từ ngày Mỹ bắt đầu rút quân-ngày 10-7-1969, nhưng 
các sĩ quan của nó thường không thể sử dụng những vũ khí này, còn các binh sĩ 
thì không đủ sức bảo quản chúng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Khi mỹ nắm lấy các nỗ lực chiến tranh tại Việt Nam và bắt đầu “cố vấn” trực tiếp 
quân đội Sài Gòn thì những người chủ trương một quân đội nhỏ, được huấn luyện 
cao về kỹ thuật chống du kích đã đi vào lãng &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
quên và phần lớn không được đả động đến. Với họ, cái cần thiết là một đội quân 
lớn được trang bị đầy đủ đối phó với sự xâm lược ào ạt qua khu phi quân sự như 
từng diễn ra ở Triều Tiên năm 1950. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Thế là quân đội Sài Gòn ngày càng trở nên to lớn hơn. Đến năm 1975, trên giấy 
tờ, đội quân đã tới hơn 1 triệu người. Nó tỏ ra hoàn toàn không có khả năng đối 
phó với quân du kích của thời kỳ 12 và 15 năm trước. Không ai chịu nhìn nhận một 
sự thật nữa là nó còn bất lực trong việc đối phó với những cuộc tấn công bằng 
quân chủ lực. Chính những sĩ quan Mỹ cho rằng chỉ có không lực Hoa Kỳ mới cứu 
nổi Nam Việt Nam khỏi thất bại năm 1972 lại thường nói rằng quân đội Sài Gòn đã 
chuyển mình một cách mầu nhiệm và bí hiểm thành một lực lượng chiến đấu có hiệu 
quả. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Điều rõ ràng là quân đội Sài Gòn trở thành bộ phận chính trong hệ thống cấp bậc 
của chính quyền Nam Việt Nam. Trừ Diệm không phải là tướng, khi Thiệu lên nắm 
chính quyền thì đã là tướng ba sao. Bề ngoài Thiệu bỏ cấp bậc của mình nhưng cơ 
cấu quyền lực và hậu thuẫn cho Thiệu đều bắt nguồn trực tiếp từ quân đội. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Điều mà ít người Mỹ và Nam Việt Nam phát hiện được vào tháng 3-1975 là tinh thần 
quân đội Sài Gòn đang tan rã. Đội quân này chiến sĩ có vũ khí tốt hơn bất kỳ 
nước châu Á nào khác, có nhiều máy bay chiến đấu hơn bất kỳ chính quyền chư hầu 
nào khác trên thế giới, có nhiều đạn dược, xăng dầu, quân cụ, xe cộ và lương 
thực hơn hầu hết các quân đội trên thế giới. Nó chỉ thiếu mỗi một điều thôi. Một 
người Mỹ nói với một binh sĩ Sài Gòn rằng: “Chúng tôi đã cho anh mọi thứ anh 
cần, trừ sự dũng cảm. Chỉ tại anh không có thứ ấy”. Không có thứ ấy vì binh lính 
thiếu ý muốn chiến đấu. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Việc người lính biết họ chiến đấu chống lại cái gì là rất quan trọng. Người lính 
Nam Việt Nam đều nói là họ “chống cộng” nhưng điều ấy lại không phải là niềm 
tin. Từ trong tiềm thức, họ đã tự hỏi mình chiến đấu cho cái gì đây? Câu trả lời 
là cho sự tiếp tục tồn tại của chế độ hiện tại-một chế độ ngày càng tham nhũng, 
ngày càng có sự cách biệt giữa kẻ giàu và người nghèo và nạn lạm phát. Một số ít 
muốn chiến đấu để sống khá hơn. Những kẻ sống khá giả thì lại hướng về cuộc sống 
không chiến đấu. Con trai, con gái và con rể của Thiệu đều ra nước ngoài du học. 
Nếu có viên tướng Nam Việt Nam nào lại có con trong quân đội thì điều đó không 
được biết công khai. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ngược lại, người lính cộng sản biết họ đang chiến đấu cho cái gì: để “giải 
phóng” đồng bào bị áp bức ở miền Nam và để xây dựng sự nghiệp cách mạng. Hỏi một 
chiến sĩ Bắc Việt Nam sau khi chuộc chiến tranh chấm dứt: &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
-“Anh có mừng khi chiến tranh chấm dứt để giờ đây anh có thể trở về nhà được 
không?’ &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
-“Tôi rất mừng khi chiến tranh chấm dứt!-Anh ta trả lời-Nhưng đây mới chỉ là một 
giai đoạn cách mạng. Chúng tôi còn nhiều công việc trước mắt khi có thể trở về 
nhà!”. Người Bắc Việt Nam được uốn nắn bằng những mục tiêu quyện vào nhau chặt 
chẽ: “Giải phóng miền Nam, đuổi Mỹ khỏi đất nước, xây dựng Việt Nam thành một 
nước cộng sản thống nhất”.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tháng 1-1975, một bước phát triển không được làm rùm beng ở nước ngoài, nhưng 
lại được truyền miệng trong khắp hàng ngũ cấp dưới của quân đội Sài Gòn lúc bấy 
giờ. Nó chính là một trong những cái đinh cuối cùng đóng lên chiếc quan tài của 
quân đội Sài Gòn. Việc đó xảy ra ở thị trấn Phước Bình, thành phố chính của tỉnh 
Phước Long, nơi được CS chọn làm chỗ thử cho cuộc tiến công năm 1975 của họ. 
Phước Bình rơi vào tay CS thành cái chìa khóa mở ra sự sụp đổ cuối cùng của Nam 
Việt Nam không đầy 4 tháng sau đó. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Phước Bình không có lính chính quy đóng giữ. Khi bị tấn công, các tướng của quân 
đội Sài Gòn chờ đợi cùng với Thiệu, con người luôn đòi cho được tiếng nói sau 
cùng trong bất kỳ cuộc giao tranh quân sự quan trọng nào. Người ta chẳng làm vì 
cả. Đấy là một sự thật khó tin, nhưng đã làm suy sụp toàn bộ tinh thần quân đội 
Sài Gòn. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Phản ứng của Mỹ là đáng kinh ngạc. Trên thực tế người Mỹ chẳng làm gì khi mất 
Phước Bình. Chính quyền Mỹ bị buộc phải nói công khai rằng người Mỹ sẽ không bao 
giờ trở lại cuộc chiến ở Nam Việt Nam dù trên đất liền, trên biển, trên không, 
trong bất cứ tình huống nào. Khi Hoa Kỳ chỉ chấp nhận chiến đấu ở Việt Nam năm 
1975 bằng lời nói chứ không phải bằng súng đạn thì niềm vui tràn ngập ở Hà Nội.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Nguyễn Văn Thiệu theo dõi diễn biến trận đánh Buôn Ma Thuột từ văn phòng mình 
trong dinh Độc Lập, một toà nhà hình hộp nằm trên một nền đất rộng lớn, cách toà 
đại sứ Mỹ ở Sài Gòn hai khu phố. Dinh do Ngô Đình Diệm xây vào những năm 60 bằng 
tiền của Mỹ, nhưng Diệm không sống nổi đến lúc dinh được hoàn thành. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Nằm gần trên cùng trong đống hồ sơ “lưu” của Thiệu là một kế hoạch được các nhà 
vạch kế hoạch trong Bộ tổng tham mưu trình lên vào tháng giêng để đối phó với 
những bất ngờ. Về thực chất, nó kêu gọi rút quân trên phần lớn đất nước để đội 
quân trên 1 triệu người của Sài Gòn có thể bảo vệ những khu vực đông dân. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Thiệu có thể quan sát biến cố Buôn Ma Thuột. Kế hoạch kêu gọi một cuộc rút lui 
toàn bộ ra khỏi hầu hết Tây Nguyên, một khu vực từ Bắc Buôn Ma Thuột trùm lên 
phía Tây của Nam Việt Nam. Các đại tá vạch kế hoạch và các tướng lĩnh phê chuẩn 
nó nói rằng trong địa thế hiểm trở, không thể nào phòng thủ được trước bất kỳ 
cuộc tập trung quy mô lớn nào của quân CS. Cuộc tập trung ấy rõ ràng đang được 
tiến hành vào đầu năm 1975. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Theo các nhà vạch kế hoạch, phải rút khỏi những vùng thưa dân. Nếu cuộc rút lui 
được tổ chức tốt, được giữ bí mật để trong vài ngày có thể di chuyển cả quân đội 
lẫn dân chúng cư ngụ trong thành phố thì có thể chyển sang ngăn chặn bước tiến 
của CS vào các vùng đồng bằng duyên hải quan trọng hơn. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Khi kế hoạch trình lên hồi tháng giêng. Thiệu đã xem xét một cách nghiêm chỉnh, 
xếp nó vào hồ sơ vì lập trường không lay chuyển của Thiệu là không bỏ một tấc 
đất đã chiếm giữ. Nhưng kế hoạch lại có lý đến nỗi Thiệu không thể bác bỏ thẳng 
thừng được, nên đã giữ nó trong tay theo đúng tính chất của nó-một kế hoạch để 
đối phó với những sự bất ngờ. Vấn đề là khi sự bất ngờ đã xảy ra thì Thiệu chẳng 
còn đủ sức thực hiện kế hoạch như đã vạch ra nữa. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Nhờ vào hệ thống thông tin liên lạc tương đối tinh vi được lắp đặt trong dinh 
Độc Lập. Đại tá E.Lansdale, con người của Bộ quốc phòng-CIA-Bộ ngoại giao Mỹ đã 
cho lắp đặt hệ thống này từ năm 1955. Nó đi song song nhưng không lệ thuộc vào 
hệ thống truyền tin quân sự Nam Việt Nam. Trải qua nhiều năm, hệ thống thông tin 
liên lạc được hoàn chỉnh, cải tiến càng hiện đại. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cho đến khi mất Buôn Ma Thuột, Thiệu vẫn có thể nói chuyện thẳng với các sĩ quan 
chiến trường. Trong khi các quân sư của tổng thống tung tin rằng CS đang bị đẩy 
lùi bởi những cuộc phản công thì Thiệu lại biết những điều khác hẳn. Trong hoàn 
cảnh khó khăn, Thiệu quan sát bản đồ tình huống trong văn phòng của mình và 
không thích gì những điều đang diễn ra trước mặt. Thậm chí Thiệu cũng chẳng biết 
rằng, các bản đồ đang lừa dối mình, vì lực lượng tình báo Sài Gòn đã không biết 
và hiểu biết sai lạc do trung sĩ Tăng và những VC xâm nhập khác đánh lừa. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cái mà Thiệu không biết và do đó nước cờ sắp tới của tổng thống trở thành quyết 
định trọng yếu và độc nhất dẫn tới việc mất toàn bộ Nam Việt Nam là: bộ đội CS 
không thực sự ở tại nơi mà bản đồ chỉ ra nó. Những người lính Bắc Việt Nam mà 
người ta tưởng rằng đang ở xung quanh Pleiku, trên thực tế lại đang chiến đấu 
hay chờ lệnh tấn công ở nam Buôn Ma Thuột. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Một lý do chính về sự đổ vỡ trong hệ thống tình báo là quân đội Sài Gòn chẳng 
còn chú ý gì đến công tác thu lượm tin tức tình báo. Dù thế nào thì họ vẫn chưa 
bao giờ làm đủ các cuộc do thám tầm xa. Khi các toán trinh sát của Mỹ ra đi 
trong những năm 1969-1970, quân đội Sài Gòn không đủ sức lấp lỗ trông sinh tử 
này. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Vào khoảng thời gian mà những lá cờ xanh đỏ sao vàng được kéo lên trong các vùng 
VC vừa chiếm được ở Buôn Ma Thuột ngày 12-3, thì Thiệu đang quyết định nước cờ 
định mệnh. Theo như người ta được biết, Thiệu không thảo luận với ai cả và cũng 
đã không trao đổi ý kiến cả với người Mỹ. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Đại sứ Hoa Kỳ G.Martin lúc ấy lại không ở tại Sài Gòn. Ông ta đang kéo dài kỳ 
nghỉ vốn đã quá dài nằm tại nhà ở bang Bắc Carolina trong lúc Thiệu muốn nói 
chuyện với ông ta. Vì Thiệu không tin người Mỹ nào khác ngoài Martin lúc 
đó,thành ra khi Thiệu cần một cái vai Mỹ để dựa thì đạidiện của Washington lại 
không ở cạnh đó. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
W.Lehmann ngồi làm việc khuya tại văn phòng của mình ở Sài Gòn, tạm thay thế cho 
đại sứ Martin đang vắng mặt quá lâu trong kỳ nghỉ phép, đang gặp rắc rối về vụ 
một viên chức Mỹ là Struharick đang bị mắc kẹt ở Buôn Ma Thuột. Một viên chức Mỹ 
bị bắt sẽ gây rắc rối thế nào cho Hoa Kỳ ? Đáng lẽ Mỹ đã phải nằm ngoài cuộc 
chiến tranh Việt Nam. Các bức điện ngắn đầy hốt hoảng từ Bộ ngoại giao và Nhà 
Trắng thông báo cho Lehmann rằng không được từ một nỗ lực nào trong việc giải 
cứu Struharick ra khỏi Buôn Ma Thuột là một vấn đề khó xử mà Lehmann vẫn phải 
vật lộn với nó. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Lehmann ước ao Martin có mặt ở Sài Gòn để chính ông ta tự quyết định lấy. 
Lehmann biết, nếu Struharick bị bỏ lại, rõ ràng Martin sẽ nối cáu với ông ta. 
Lehmann không biết khi nào Martin mới có thể trở lại Sài Gòn, vì Martin đã cắt 
liên lạc với sứ quán như ông ta vẫn làm trong mùa hè vừa qua, khi vắng mặt lâu 
dài khỏi nhiệm sở ở Sài Gòn. Thậm chí không ai biết Martin đã đi đâu trong thời 
gian tạm rời khỏi Sài Gòn, trừ việc ông ta viếng thăm nông trại của mình ở 
Italia và về thăm nhà ở Bắc Carolina. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Lehmann không hy vọng cứu Struharick ra khỏi Buôn Ma Thuột bằng phương viện phụ 
thuộc vào người Nam Việt Nam. Không hy vọng Sài Gòn sẽ biệt phái-dù chỉ một 
người lính rời trận đánh để giúp việc đưa một người Mỹ ra khỏi thị xã. Hy vọng 
giải pháp duy nhất do các nhân viên sứ quán đề nghị là cho một trực thăng của 
Air America, hàng không của CIA do sứ quán Mỹ “thuê” đến hạ cánh ở Buôn Ma Thuột 
để chộp lấy Struharick. Một chiếc trực thăng đã thử làm đúng như thế vào buổi 
chiều hôm ấy, nhưng hoả lực tên lửa đất đối không tì vào vai để bắn { A -72 } đã 
có mặt ở đây khiến cho chiếc trực thăng UH-1 phải quay về sở chỉ huy Nha Trang. 
Thế là Lehmann bị bó tay. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Vì mục đích tuyên truyền, người phát ngôn của Bộ tư lệnh ở Sài Gòn, trung tá Lê 
Trung Hiền đã nói với các nhà báo vào ngày 11-3, cuộc tấn công Buôn Ma Thuột là 
một phần của cuộc tấn công trên toàn quốc. Nhưng hành động và phản ứng của Sài 
Gòn cho thấy Hiền chỉ hô khẩu hiệu mà thôi. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Thật ra, có một số rất ít người thực sự nghĩ rằng CS có cơ hội chiến thắng bằng 
quân sự trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng cái thiểu số đó bị cười nhạo báng 
nhiều đến nỗi họ rất ít khi dám nói dài dòng để bảo vệ lập luận của mình. Trong 
khi đóng tại Sài Gòn, trung sĩ Tăng và những người của ông ta làm việc của họ 
với những bản đồ giả, tin tức tình báo giả và dữ kiện sai lạc. Việc đánh lừa 
thành công. Trong khi lực lượng chiến đấu của Bắc Việt Nam di chuyển đến Buôn Ma 
Thuột một cách bí mật thì bộ chỉ huy Sài Gòn lại điều lực lượng của họ khỏi Buôn 
Ma Thuột để chống lại sự uy hiếp tưởng tượng ở Pleiku. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Một câu hỏi xác đáng là tại sao người Mỹ lại không di tản trước ra khỏi Buôn Ma 
Thuột? Hình như có một niềm tin quá đáng của người Mỹ với quân đội Sài Gòn, cho 
rằng quân đội này hoàn toàn đủ sức bảo vệ bất kỳ thị xã nào như Buôn Ma Thuột.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Nguyễn Văn Mười khôg phải là một người lính may mắn. Anh ta bị bắt lính vào quân 
đội Sài Gòn lúc đang ở nhà tại vùng đồng bằng sông Cửu Long vào năm 19 tuổi, 
cách đó hơn 4 năm về trước. Tên của Mười là con số “10” trong tiếng Việt, và 
ngoài việc không thích quân đội, Mười còn ghét cách chơi chữ thường xuyên của 
bạn đồng ngũ đối với tên anh ta. Tục danh của anh ta là “năm-bơ ten” (number 
ten), tiếng lóng của lính Mỹ để chỉ cái gì “tồi tệ nhất”. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Mười không thích thú gì với cách khôi hài dai dẳng ấy, chẳng khác nào một người 
điều khiển thang máy chán ngấy cái cảnh phải nghe người ta than phiền về những 
lúc lên lúc xuống trong cuộc sống. Mười đã đảo ngũ một lần, bị quân cảnh bắt lại 
và bị đổi đến sư đoàn 23 ở Buôn Ma Thuột như là một hình phạt. Sư đoàn 23 là nơi 
an trí cho nhiều lính quân dịch Nam Việt Nam bất mãn và vì thế, nó là một trong 
những đơn vị yếu nhất trong số 13 sư đoàn chiến đấu của Sài Gòn. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Sáng ngày hôm ấy, Mười nhận ra mình đang nằm trong hố cá nhân ở tường ngoài của 
văn phòng ngôi nhà tỉnh trưởng, con người thế lực nhất tại Buôn Ma Thuột. Anh ta 
nghe thấy cuộc giao tranh tiến gần trong 31 giờ qua khi anh ta quan sát từ hố cá 
nhân của mình. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cũng như khoảng một tá lính khác ở trong và chung quanh ngôi nhà tỉnh trưởng, 
Mười không biết rằng viên tỉnh trưởng đã trốn chạy mất rồi. Ông ta đã tìm nơi 
trú chân tại sở chỉ huy sư đoàn 23. Thực ra cũng chẳng sao, chỉ có điều là Mười 
không biết rằng mình đang bảo vệ một ngôi nhà trống. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Một chiếc xe tăng Bắc Việt Nam do Liên Xô chế tạo nghiến xích trên đường phố 
tiến đến ngôi nhà viên tỉnh trưởng, tháp pháo đậy lại và trông có vẻ dữ tợn. 
Mười lặng người đi. Chiếc tăng bắt đầu tiến vào nhà tỉnh trưởng. Khẩu đại bác 
100 ly ở mặt trước của nó từ vị trí bắn bắt đầu hạ xuống. Mười thình lình nhận 
ra rằng nó sắp sửa phá vỡ văn phòng tỉnh trưởng bằng lối bắn thẳng. Trong tay 
Mười chỉ có súng M.16. Anh ta nằm úp sấp và nhắm mắt lại… lắng nghe tiếng xe 
trườn trên lưng anh ta để xông vào nhà viên tỉnh trưởng. Hình như chiếc xe tăng 
không định nghiến nát Mười dưới hàng xích của nó. Đến khi Mười mở mắt thì đã 
thấy lá cờ xanh đỏ sao vàng của VC bay trên sở chỉ huy tiểu khu. CS đã có thể 
tuyên bố chiến thắng ở Buôn Ma Thuột. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Phước Long là một đòn thử. Buôn Ma Thuột là kế hoạch. Kế hoạch đã xong được bước 
đầu. Không có gì ngăn cản cộng sản đi các bước tiếp.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;
&amp;nbsp;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Chương 2 : Lỗi lầm chí tử&lt;/b&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Không có dấu hiệu nào cho thấy Martin lại muốn hoặc có thể khuyên giải Thiệu 
đừng đi nước cờ tai hoạ ngày 12-3. Ngày Thiệu đi nước cờ ấy, người Mỹ đã khen 
ngợi “đấy là giải pháp duy nhất có thể được”. Nó chứng tỏ người Mỹ quá thiếu 
hiểu biết đối với người lính Sài Gòn mà họ đang làm cố vấn. Một lý do khác biện 
hộ cho quyết định của Thiệu được đưa ra bởi tay phụ tá quân sự cao cấp là Đặng 
Văn Quang. Theo lời tố cáo của phóng viên hãng truyền hình NBC (1971) thì Quang 
là tay buôn lậu thuốc phiện lớn nhất nước và là kẻ chèo lái cho Thiệu trong các 
vụ tham nhũng khác. Quang tuyên bố VC đã bắn tin đến dinh Độc Lập là hoặc phải 
rút sạch khỏi Tây Nguyên hoặc là các thành phố này bị san thành bình địa. Câu 
chuyện hoàn toàn mang tính chất tự bào chữa. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Đến ngày 15-3, quyết định của Thiệu rút bỏ Tây Nguyên đã thành hình. Buổi sáng 
thứ bảy hôm ấy, Thiệu lên chiếc máy bay DC6 riêng của tổng thống và bảo phi công 
đi thẳng đến vịnh Cam Ranh. Thiệu chọn Cam Ranh cho cuộc so găng với các tư lệnh 
quân đội bởi vì các tướng lĩnh sẽ không thể về hùa với nhau để áp đảo Thiệu ở đó 
được. Căn cứ vốn ít được sử dụng đến và không phải là sân nhà của bất cứ viên tư 
lệnh quân đội Sài Gòn nào. Sẽ không có “lợi thế sân nhà” cho các tướng lĩnh 
trong phiên họp cãi vã mà Thiệu đoán chắc thế nào cũng xả ra. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Thiệu nghĩ không sai. Các tướng lĩnh Sài Gòn đã đón Thiệu gần cái đường bay dài 
gần 2 dặm trên bãi cát Cam Ranh. Mấy phút sau khi đến nơi, Thiệu đã ra lệnh di 
tản Pleiku và Kontum. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Phạm Văn Phú choáng người. Viên tư lệnh quân đoàn 2 không thể nào chấp nhận một 
cuộc rút lui trước khi nhập trận. Phú không đến nỗi bất ngờ trước quyết định đó 
của Thiệu vì đã nghe tin đồn đó từ trước khi Thiệu triệu tập họp, nhưng Phú cứ 
làm ra vẻ kinh ngạc. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Phú đã hỏi Thiệu có nói đùa không? Làm sao có thể rút lui trước khi xảy ra cuộc 
tấn công? Phú nói thậm chí không chắc có quân cs ở xung quanh Buôn Ma Thuột. 
Tiếp đó Phú trở nên giận dữ khi Thiệu một mực nhắc lại những điều về vấn đề rút 
lui. Phú cãi lại rằng tất cả sẽ đổ sụp nếu rút lui. Nhưng Thiệu khăng khăng một 
mực giữ vững lập luận cho rằng bám trụ Tây Nguyên chỉ làm phí sinh mạng. Những 
người ấy có thể được sử dụng tốt hơn trong việc phòng ngự dải đất duyên hải vốn 
có giá trị chiến lược và đông dân hơn. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Sau 90 phút, Thiệu nhắc lại lệnh rút bỏ cao nguyên. Thiệu giáp mặt Phú và bảo 
viên tướng mắc bệnh lao phổi này rằng, chỉ có hai cách lựa chọn: hoặc là thi 
hành lệnh, hoặc bị thay thế và ngồi tù để người khác thi hành lệnh. Thiệu quay 
gót, lên chiếc DC6 và bay về Sài Gòn. Còn Phú lấy trực thăng lên sở chỉ huy ở 
Nha Trang. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Thế rồi cái gì đã xảy ra trong cơn sốt lúc bấy giờ được che phủ trong màn bí mật 
và những lời tự bào chữa. Cuộc hành trình đầy nước mắt đã bắt đầu trong đêm chủ 
nhật 16-3 ấy. Các sĩ quan Sài Gòn ra lệnh cho binh lính ủi sập thành phố và đốt 
cháy càng nhiều càng tốt. Trong khi đó, các căn cứ quân sự lại gần như nguyên 
vẹn. Tại Pleiku và Kontum, 62 máy bay có khả năng cất cánh bị bỏ lại. Một đài 
rada hàng triệu đôla với khả năng theo dõi sự di chuyển trên mặt đất và trên 
không cũng như đường bay của tên lửa cũng bị bỏ lại nguyên vẹn. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Các phi công trực thăng thấy cơ hội làm ăn đã đến. Đám phi công do Mỹ huấn luyện 
ấy đã kiếm được một số tiền đáng kể trên nỗi lo sợ của đồng bào họ. Giá một vé 
đi từ Pleiku ra bờ biển là 100 đôla đã nhanh chóng tăng lên đến một lạng vàng. 
Trong cuộc di tản, thậm chí nó còn lên cao hơn nữa. Nhiều phi công đã kiếm đủ 
tiền tiêu xài suốt đời khi họ đến Hoa Kỳ bằng máy bay chú Sam sau đó một tháng.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Các quân nhân Sài Gòn sớm nhận biết đây không phải là rút lui mà là cuộc rút 
chạy. Cuộc rút chạy khỏi Tây Nguyên là dòng binh lính trà trộn vào dân, hoặc là 
binh lính kinh hoàng thấy dân trà trộn với mình. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Đến thứ hai, các hãng tin phương Tây đánh đi những bản tin nói về sự bỏ rơi Tây 
Nguyên và mặc dù chưa ai đoán chắc lệnh này xuất phát từ đâu nhưng có bằng chứng 
rõ ràng là cuộc ra đi của binh lính và dân chúng đang tiến triển. Đến lúc này 
chính quyền Sài Gòn bị buộc phải nói láo. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Như thường lệ. Lê Trung Hiền, nhận lấy công việc nói láo cho chính quyền. Trưa 
ngày chủ nhật, 16-3, Hiền họp báo trong cái phòng ngạt thở ở tầng trên một ngôi 
nhà ở đường Tự Do và nói với các nhà báo đang hoang mang trước tin đồn bỏ rơi 
Pleiku rằng: “Sở chỉ huy quân đoàn 2 vẫn đóng ở Pleiku. Chỉ có bộ phận chỉ huy 
chiến thuật là đang dời về Nha Trang. Không có lệnh nào di tản khỏi Pleiku cả…”.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trưa thứ hai, Hiền lại tiếp tục câu chuyện giả dối này. Tại sao Hiền làm như 
thế-nói đúng hơn là tại sao cấp trên lại ra lệnh cho Hiền tiếp tục làm như vậy? 
Thật khó mà biết được! Chỉ biết khi bỏ rơi xong xuôi hai thành phố này, Hiền trơ 
mặt ra, uốn lưỡi nói với các nhà báo: “không có quyết định bỏ rơi hai thành phố 
này. Một số đơn vị chúng tôi được chuyển khỏi vùng này, chỉ vì lý do chiến 
thuật”. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
“Phóng sự của các ông hoặc viết ra theo trí tưởng tượng, hoặc thiếu cơ sở sẽ gây 
bối rối và kinh hoàng cho dân chúng Tây Nguyên”. Hiền nói với các nhà báo như 
vậy. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Khi hàng trăm nghìn người di tản đã chết thì Hiền lại họp báo, trưa thứ ba, có 
bớt gay gắt một chút. Trưa thứ tư, 19-3, Hiền lại bọp báo, trình bày cuộc di tản 
như là “lớn nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam” nhưng vẫn khăng khăng nói rằng 
quân đội Sài Gòn còn ở lại phía sau để phòng thủ thành phố. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Đây là cách nói, cách nhìn của Sài Gòn. May mắn thay, thế giới không nhìn theo 
cách nhìn ấy. Trong khi cuộc hành trình đó rời khỏi Pleiku, các đơn vị VC ở ngay 
sau lưng nó. Trong các đơn vị ấy, cấp chỉ huy và binh lính đều do Bắc Việt Nam 
huấn luyện. Khi họ đi vào, thành phố đang cháy âm ỉ. Bộ đội chiến đấu của họ 
tiến vào căn cứ không quân với súng ở tư thế sẵn sàng. Họ chiếm giữ vành đai 
rộng lớn quanh căn cứ. Không ai đụng chạm đến cái rada trị giá 1 triệu đôla hoặc 
bất kỳ thứ trang bị nào khác. Các chuyên viên sẽ đến xem xét các thiết bị do Mỹ 
chế tạo mà lính Sài Gòn đã bỏ lại. Trong lúc này, VC chỉ có việc canh giữ chúng 
thôi. Trên thực tế,ở Pleiku cũng như nơi khác, bộ đội VC đầu tiên vào thành phố 
đều không đụng chạm đến thứ gì cả. Họ dập tắt sự chống cự nếu có, đi khắp nơi 
với vũ khí ở tư thế sẵn sàng. Chẳng hề có trộm cắp, thậm chí những cảnh hư đốn 
của chiến tranh, thí dụ như đồng hồ trên tay người lính chết, đều còn nguyên 
vẹn… &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Mấy nghìn linh hồn quyết định ở lại Pleiku không trốn chạy đã dè dặt bước ra 
khỏi nhà và cửa hàng, những gì mà thành phố còn để lại cho họ. Binh lính và 
thường dân nhìn nhau một cách thận trọng để tìm xem là thù địch hay thận trọng. 
Trong hầu hết các trường hợp, chỉ có sự tôn trọng dân chúng của cac binh sĩ VC, 
những người ít được dịp nhìn thấy cuộc sống thành phố của những người Nam Việt 
Nam. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Những lá cờ ở Pleiku và các nơi khác đã là vật phá vỡ sự dè dặt giữa người lính 
chiến thắng và thường dân. Cờ VC xuất hiện khắp nơi, trước cửa nhà, cửa hàng, 
cột cờ và thậm chí trên cây. Việc treo cờ đã làm cho cả người mới đến lẫn người 
ở đây cảm thấy có cái gì chung và cả hai đều thở phào khi họ có cơ hội cùng nhau 
treo cờ để phá tan sự ngại ngùng ban đầu. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cán bộ tuyên truyền đi theo sau bộ đội, đôi khi chỉ sau vài phút. Họ phân tán và 
giữ an ninh cho Pleiku. Ở nơi nào họ đến, cs đều thông báo: &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
“Đồng bào đừng sợ hãi! Bộ đội giải phóng không làm hại ai cả. Chính phủ Cách 
mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam sẽ bảo vệ đồng bào. Không còn phải lo 
sợ sự tàn bạo và đàn áp của chính quyền Sài Gòn… Pleiku đã ở trong tay nhân 
dân”. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Đây là một thông cáo được loan truyền ở bất cứ nơi nào mà quân Bắc Việt Nam đến 
trong suốt tháng ba và tháng tư. Họ đã không hề lùi bước trong suốt 55 ngày cuối 
cùng của cuộc chiến. Lẽ tất nhiên, bộ đội tuân theo chỉ thị đến từng chữ một. Họ 
là chiến sĩ giỏi, tuân lệnh hoàn toàn, không bao giờ chất vấn tại sao cấp trên 
lại muốn thế này hoặc thế kia? Một trong những lý do là mọi mệnh lệnh đều được 
giải thích trước khi ban hành. Trong khi người lính đối thủ của họ trong quân 
đội Sài Gòn hay quân đội Mỹ bỏ đi nhậu nhẹt, xem phim hay hộp đêm thì binh sĩ 
của lực lượng vũ trang giải phóng ngồi học tập chính trị dưới hình thức một bài 
diễn thuyết, một cuộc hội thảo vấn đáp, v.v… Các buổi học tập chính trị tạo ra ý 
thức hệ cho những người chưa biết, tạo ra động cơ hành động. Mục đích nằm sau 
những buổi học tập này là làm cho chiến sĩ hiểu không những họ đang làm gì mà 
tại sao lại phải làm như thế? Nếu có cái gì đó làm cho các tướng lĩnh Mỹ phải 
thán phục “Sác-li” (tiếng lóng để gọi lính cs) thì đấy chính là động cơ làm cho 
các chiến sĩ chiến đấu. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Như thế là bộ đội vào chiếm Pleiku cũng như các thành phố khác ở Nam Việt Nam 
không những họ biết rằng họ không được lấy chiến lợi phẩm mà còn hiểu vì sao 
phải làm như thế. Cái gì thuộc về nhân dân là của nhân dân. Bởi vì nhà nước là 
nhân dân. Nó nghe có vẻ kỳ quặc đối với những người lớn lên trong xã hội tư bản 
phương Tây. Nhưng với tính cách là khuôn mẫu và nền móng của chủ nghĩa 
Mác-Lênin, nó được chiến sĩ VC và Bắc Việt Nam hiểu, tin và thi hành từ vùng 
châu thổ đến khu phi quân sự trong suốt năm 1975. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ở mỗi địa phương sau khi giải phóng, ít có những lời khiếu nại về việc lấy chiến 
lợi phẩm hoặc trộm cắp. Rõ ràng đấy là một trong những lý do tại sao không có 
đơn vị quân cảnh mặc sắc phục nào được gửi vào vùng Sài Gòn. Chỉ có một hoặc hai 
đại đội gồm nhân viên tình báo chìm làm việc dưới sắc phục quân cảnh mà thôi. Bộ 
đội tự họ giữ kỷ luật tốt đến mức nhìn chung quân cảnh được sử dụng tốt hơn trên 
chiến trường với vai trò chiến đấu hoặc yểm trợ chiến đấu. Kỷ luật của người 
lính, những người noi theo gương ông Hồ Chí Minh đã gây ảnh hưởng lớn trong các 
thành phố-nói nôm na là trong các vùng vốn theo lối sống phức tạp của phương 
Tây. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Nói tóm lại, tại Pleiku, tác phong của bộ đội cs được biết là điển hình. Ở những 
nơi khác cũng đều tốt như vậy cả. Cá nhân người chiến sĩ có thể nghĩ rằng, người 
Mỹ là loài thú dữ đáng bị bắn khi bắt gặp để trả thù những gì mà họ gây ra cho 
gia đình, bè bạn và đất nước mình. Nhưng lúc bấy giờ mệnh lệnh là đối xử đàng 
hoàng với người Mỹ và người chiến sĩ đã làm đúng như thế. Không có vấn đề ngược 
đãi người Mỹ nào hoặc ngược đãi hạng người nào trong “nhân dân”. Thậm chí một 
vật tầm thường nhất cũng không bị lấy đi, trừ phi có lệnh chiếm lấy những thứ 
“vì lợi ích cách mạng”. Trường hợp như vậy, việc trưng dụng món đồ sẽ được giải 
thích mặc dù không nhất thiết làm cho người chủ hài lòng. Điều này ít ra cũng là 
những gì mà người dân đô thị sau này kể lại về những ngày đầu tiên sau chiến 
thắng.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;
&amp;nbsp;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Chương 3 : Cuộc rút chạy bắt đầu&lt;/b&gt; &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cuộc tấn công bắt đầu lúc 11 giờ đêm ngày 19-3. Cuộc tấn công của Bắc Việt Nam 
vừa được chín ngày và bốn tỉnh đã nằm trong tay cs. Binh nhì Đức của thuỷ quân 
lục chiến Sài Gòn chưa bao giờ thấy nhiều xe tăng đến thế trong đời mình và anh 
ta hoảng sợ. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Xung quanh Đức, binh sĩ đang sử dụng hoả lực hoặc nhìn trân trân như bị thôi 
miên trước những chiếc xe tăng. Hàng hàng lớp lớp chúng đang nghiến xích sắt 
băng qua cánh đồng. Lúc bấy giờ là 1 giờ sáng và quân phòng thủ trong làng gần 
nhất bị san bằng đã rút ra sau khoảng 10 phút giao tranh với những chiếc xe tăng 
đến từ ba hướng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Sư đoàn thuỷ quân lục chiến Sài Gòn có lẽ là sư đoàn duy nhất thuộc loại tinh 
nhuệ của Nam Việt Nam. Quân của nó được giữ gần sát với con số 10 nghìn người 
theo bảng cấp số và được huấn luyện kỹ. Chỉ có mỗi một vấn đề: đã quá lâu, thuỷ 
quân lục chiến không ra trận nên thực sự là họ quên mất cách tác chiến như thế 
nào. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Năm 1972, họ đã từng mục kích xe tăng Bắc Việt Nam ở tỉnh Quảng Trị, nhưng chưa 
bao giờ họ nhìn thấy hàng hàng lớp lớp như thế này. Thậm chí ở Sài Gòn, nơi ngày 
xưa xe tăng Mỹ xuất hiện gần như ở khắp mọi ngõ ngách đường phố cũng không nhiều 
đến thế. Cuộc xung phong vào thuỷ quân lục chiến thật là ồ ạt. Sau này tính ra 
ít nhất cũng có 3 sư đoàn bộ binh và tối thiểu là một trung đoàn xe tăng tham 
gia tiến công. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Đức lại ló đầu lên, nhìn qua bờ hào giao thông ở chỗ mình. Giống như hầu hết đám 
thuỷ quân lục chiến trong vùng, anh ta tự làm lấy một mái che bằng cành dừa, lá 
dừa, thùng các-tông và bất cứ thứ gì có thể tìm được. Nó che nắng và mưa nhỏ, 
nhưng không che được đạn pháo, đạn cối hoặc hoả lực xe tăng. Chính đây là mối lo 
cấp thời. Cuộc pháo kích đã bắt đâu ồ ạt. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Hai phút sau khi Đức nhìn thấy xe tăng Bắc Việt Nam thì đại đội thuỷ quân lục 
chiến ở trước mặt Đức đứng lên khỏi hào giao thông. Anh ta tưởng là họ sẽ xung 
phong. Nhưng họ đã quay lại, chạy về phía trung đội của Đức nhưng lệch sang phải 
một chút. Họ khom người để chạy trốn cuộc giao tranh. Đức có thể nhìn thấy hàng 
trăm bóng người chạy lom khom in rõ hình trên bầu trời được chiếu sáng bằng hoả 
pháo. Họ xách súng M.16 chạy trốn những chiếc xe tăng. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Chiến sĩ cs đang ngồi trên xe tăng, đi sau xe tăng và một số gan dạ thì tiến 
trước. Thỉnh thoảng họ mới bắn. Đám thuỷ quân lục chiến đang chạy trốn khỏi mối 
đe dọa chứ không phải trốn chạy hoả lực. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Từ trước đến nay, binh nhì Đức chưa bao giờ tham dự trận đánh nào cả. Bỏ học từ 
14 tuổi để kiếm việc làm giúp đỡ cái gia đình 9 người của mình. Anh chàng là con 
thứ 5 trong gia đình. Khi đến tuổi 17, anh ta có thể tìm cách trốn quân dịch, 
sống trong hang cùng ngõ hẻm. Cách này có nghĩa là phải hối lộ những món tiền 
lớn cho nhân viên sảnh sát, hoặc có thể trở thành nhà sư. Khoảng năm 1973 thì 
hàng loạt nhà sư lại bị bắt quân dịch như thường. Thế là Đức gia nhập cái mà bạn 
bè cho biết là đơn vị chiến đấu giỏi hết chỗ nói. Trên lý thuyết, người nào 
chiến đấu giỏi thì có cơ hội sống sót nhiều nhất. Đức bèn vào lính thuỷ quân lục 
chiến. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Giờ đây các xe tăng đối phương đến cách trung đội của Đức trong vòng 400 mét. 
Thế là, chẳng có dấu hiệu hay lời nói nào, nhưng mọi người trong trung đội đều 
đứng cả dậy, luýnh quýnh leo lên bờ hào. Họ tự động khom người xuống để hạ thấp 
cái bóng của mình đề phòng có hoả lực. Chẳng ai bắn vào họ cả nhưng thỉnh thoảng 
lại có người vấp ngã. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Được khoảng nửa dặm. Đức dừng lại nghỉ và ngã vật ra đất. Đấy là đoạn đường dài 
nhất mà anh ta đã chạy sau thời gian huấn luyện cách đó 2 năm. Anh ta thấy chẳng 
có lợi ích gì để bám trụ và chiến đấu. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Chiến trường phía Nam tỉnh Quảng Trị này im lặng một cách lạ lùng. Âm thanh lớn 
nhất là tiếng máy nổ của xe tăng, tiếng xích sắt nghiến ken két. Các xe tăng 
chạy nhanh hơn Đức, đã gần kịp anh ta, cách khoảng 200 mét. Anh ta rớt lại gần 
cuối đoàn quân mà Đức đoán khoảng 1 nghìn lính thuỷ quân lục chiến. Thực ra 
không phải “đoàn quân”. Nó chẳng có tổ chức gì cả. Đó là một đám tàn binh khác 
của quân lực Sài Gòn. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Họ đã đến quốc lộ 1, đi thẳng về hướng Huế. Ở gần quốc lộ lại có nhiều xe tăng 
hơn, đang có vẻ đuổi theo thôi, chẳng thèm bắn, cũng chẳng thèm tràn lên nghiến 
nát họ. Khi đám thuỷ quân lục chiến lên mặt đường thì đột nhiên các xe tăng bật 
đèn lên. Hình như chúng đang chỉ đường cho đám lính Sài Gòn chọn lấy con đường 
rút lui an toàn. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Đức không nán lại để xem sự nhân đạo này kéo dài bao lâu. Anh ta bắt đầu chạy 
đều bước, không nghỉ, cho đến rạng đông. Lúc đó, Đức mới loạng choạng chạy vào 
một đồn dân vệ đã bị rút bỏ cách Huế 12 dặm về phía Bắc để uống một hơi dài, 
thật dài… &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Chỉ mới 11 ngày, giữa bài diễn văn của Thiệu ngày 20-3 đến khi SG sụp đổ ngày 
31-3 Việt Nam Cộng hoà đã trao cho VC và Bắc Việt Nam một quân khu và không bao 
giờ lấy lại được. Từ cuối tháng 3, cuộc chiến đấu tiếp tục, giọng điệu tuyên 
truyền, sự đau xót của chính quyền Sài Gòn và lời kêu gọi Mỹ viện trợ vẫn nghe 
thấy, nhưng Nam Việt Nam đã mất rồi. Đó là 11 ngày định mệnh kết thúc bằng việc 
Thiệu lên đài phát thanh truyền bá gọng điệu hiếu chiến của mình. Từ tháp ngà 
dinh Độc Lập được canh giữ cẩn thận, qua bài diễn văn, Thiệu làm ngơ trước những 
tổn thất lớn kinh khủng của chế độ, giở giọng soi mói Hoa Kỳ giảm viện trợ. 
Thiệu trơ trẽn nói với dân chúng: “Trong 2 tuần qua, quân và dân ta dũng cảm 
tiêu diệt địch và thành công trong việc chặn đứng cs ở chiến trường đông dân”. 
Đấy là những lời nó cố tỏ ra can đảm, nhưng rủi thay nó chẳng lừa bịp được ai. 
Dân chúng đều biết rõ, hàng sư đoàn, nhiều tỉnh trọn vẹn đã bị mất gọn. Với 
Thiệu, tuyên bố rằng quân đội đủ sức giữ vững phòng tuyến là điều khó tin. Ở tư 
cách tổng thống mà lại dám nói vậy thì không một công dân hay kiều dân nào ở Nam 
Việt Nam tin nổi. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Người ta nghĩ ngay đến việc bơm hơi của Mỹ. Dù sao, việc bơm hơì cũng làm dịu 
mối lo về việc Nam Việt Nam đang đứng trên bờ vực thẳm. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Quả thế, binh nhì Đức và đám bạn bè được tổ chức lại sau khi bỏ chạy khỏi tỉnh 
Quảng Trị. Đức được gọi lại đội ngũ trên đường đi Huế, gom thành mấy nghìn lính 
thuỷ quân lục chiến ở Bắc Thừa Thiên, giáp Quảng Trị tại sông Mỹ Chánh. Quyết 
định phá đổ cầu Mỹ Chánh được truyền xuống cho đại đội của Đức, trong khi lính 
thuỷ quân lục chiến đang nghe diễn văn của Thiệu đêm 20-3 qua đài bán dẫn: &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
“… Từ Quảng Trị vào Huế, dọc theo bờ biển xuống quân khu 3 và 4, chúng ta nhất 
quyết bảo toàn lãnh thổ đến người cuối cùng. Tin đồn về việc bỏ rơi Huế là hoàn 
toàn vô căn cứ…” &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Vẫn còn khoảng 2 nghìn đến 2 nghìn rưởi lính thuỷ quân lục chiến đang được gom 
lại sau cuộc rút chạy khỏi Quảng Trị. Tư lệnh sư đoàn Bùi Thế Lân cùng sĩ quan 
đang đi vòng ở Huế để tìm kiếm binh sĩ. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Khi thuỷ quân lục chiến phá sập cầu Mỹ Chánh thì cs áp đảo họ và vượt qua sông 
bằng xe tăng lội nước và cầu ngầm, còn dân Huế đang chạy về Đà Nẵng. Ở phía Nam, 
trong khi Thiệu nói với dân chúng rằng cs đang bị đánh bại trên mọi mặt trận thì 
đã có ngay câu trả lời. Đức và đám bạn bè quay lại nhìn phía sau thấy bầu trời 
loé sáng mấy lần. Chẳng bao lâu họ phát hiện được ánh sáng loé lên ấy là Huế, 
đặc biệt là sân bay Phú Bài sát bên dưới tỉnh lỵ, đang bị cs pháo kích, khoảng 
50 quả đêm ấy. Sài Gòn sắp mất quyền kiểm soát cái kinh đô cũ này. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Nhưng cùng ngày hôm ấy, Ngô Quang Trưởng, một tướng thân Mỹ đã đến được Huế. 
Thân hình cao lớn, Trưởng được coi như một điển hình can đảm khi người Mỹ nói 
đến chuyện binh sĩ Việt Nam như thế nào. Thế nhưng giờ đây, Trưởng đã làm thất 
vọng những người vốn tin tưởng. Huênh hoang nói oang oang với các nhà báo, 
Trưởng khoe khoang rằng đã làm đủ thứ chuyện mà trong quá khứ chẳng hề làm. 
Trưởng đã tự biến mình thành một thằng hề bằng cách nói mình sẽ cố thủ. Cá nhân 
Trưởng sẽ chiến đấu trên đường phố để cứu Huế, nếu thành phố mất, Trưởng sẽ mất 
theo. Trưởng sẵn sàng chết để bảo vệ Huế. Bọn hèn nhát có thể bỏ chạy nhưng 
Trưởng này sẽ chiến đấu đến cùng. Rồi Trưởng leo lên chiếc trực thăng riêng do 
Mỹ cung cấp, bay một vòng. Đây là lần cuối, người ta thấy mặt Trưởng ở Huế.&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-7040414206095629680?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/7040414206095629680/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=7040414206095629680' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/7040414206095629680'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/7040414206095629680'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/05/55-ngy-ch-si-gn-sp-alan-dawson.html' title='55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ Alan Dawson'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-1000672777203022571</id><published>2008-05-09T22:34:00.001+07:00</published><updated>2008-05-09T23:18:00.157+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chiến tranh Việt Nam'/><title type='text'>Sài Gòn ngày 30/4/1975 trong mắt một phóng viên Anh</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table align="left" border="0" cellpadding="3" cellspacing="0" width="1"&gt;
 &lt;tr&gt;
  &lt;td&gt;
  &lt;img alt="Nhà báo John Pilger." src="http://www.vnexpress.net/Files/Subject/3B/9D/CB/BC/pilgert.jpg" border="1" height="150" width="120"&gt;&lt;/td&gt;
 &lt;/tr&gt;
 &lt;tr&gt;
  &lt;td class="Image"&gt;Nhà báo John Pilger.&lt;/td&gt;
 &lt;/tr&gt;
&lt;/table&gt;&lt;em&gt;John Pilger là phóng viên chiến tranh kỳ cựu, nhà làm phim và biên kịch 
 người Anh. Ông đã hai lần đoạt &amp;quot;Nhà báo của năm&amp;quot; - giải báo chí cao nhất 
 nước Anh - vì những hoạt động ở Việt Nam và Campuchia. Ngoài ra, Pilger còn 
 nhận giải &amp;quot;Phóng viên quốc tế của năm&amp;quot; và &amp;quot;Giải Liên minh báo chí Liên Hợp 
 Quốc&amp;quot;. Dưới đây, ông mô tả những gì được chứng kiến trong những ngày cuối 
 cùng của chính quyền Sài Gòn năm 1975.&lt;/em&gt;&amp;nbsp;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;font color="#5f5f5f"&gt;Sài Gòn, tháng 4/1975. &lt;/font&gt;
&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p &gt;Mỗi bình minh, tôi thức dậy trên tấm nệm trên sàn nhà lát gạch, 
nhìn chăm chú vào chiếc giường đặt cạnh cửa sổ. Nó ở đó để bảo vệ tôi khỏi bị 
kính va, nhưng nếu khách sạn bị tấn công bằng rocket, thì nó sẽ đè xuống người 
tôi. Chết do giường sập: cũng đáng chú ý đây! &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;
Bây giờ là 8 giờ; tôi đi dọc Công trường Lam Sơn để mua ít cà phê. Sài Gòn bị nã 
rocket đã hai đêm nay. Một quả rocket xén một vạt rộng ở khu nhà san sát của 
người Hoa ở Chợ Lớn. Người ta đứng đó bất động nhìn đống tôn múi là những gì còn 
sót lại từ ngôi nhà của mình. Hầu như không có phóng viên; những quả rocket hôm 
qua là tin sốt dẻo, đó là quả rocket đầu tiên rơi xuống Sài Gòn 10 năm nay; 
nhưng đợt tấn công rocket hôm nay thì không còn được quan tâm nhiều như thế nữa.
&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;
Chỉ có một phóng viên ảnh người Pháp mò mẫm trong đống sắt vẫn còn ngọn lửa cháy 
âm ỉ. Anh kéo tay tôi và đưa tôi đến một nơi trước kia là khu bếp. Ở đó một em 
gái nhỏ khoảng 5 tuổi, hai má bầu bĩnh. Em bị bỏng. Chúng tôi cố gắng cho em 
chút nước trong khi chờ băngca đến. &lt;/p&gt;
&lt;table align="right" border="0" cellpadding="3" cellspacing="0" width="1"&gt;
 &lt;tr&gt;
  &lt;td&gt;
  &lt;img alt="Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Cộng hoà Graham Martin." src="http://www.vnexpress.net/Files/Subject/3B/9D/CB/BC/martin.jpg" border="1" height="150" width="120"&gt;&lt;/td&gt;
 &lt;/tr&gt;
 &lt;tr&gt;
  &lt;td class="Image"&gt;Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Cộng hoà Graham Martin.&lt;/td&gt;
 &lt;/tr&gt;
&lt;/table&gt;
&lt;p&gt;
Đại sứ Mỹ Graham Martin xuất hiện trên truyền hình Sài Gòn, cam kết Washington 
sẽ không rời Việt Nam. &amp;quot;Tôi, Đại sứ Mỹ, sẽ không chạy trốn lúc nửa đêm. Bất kỳ 
ai cũng có thể tới nhà tôi và chứng kiến tôi chưa thu dọn hành lý&amp;quot;, Martin nói. 
Đại sứ Mỹ là một người kiên quyết và nóng nảy. Ông ta không khoẻ lắm, má hóp và 
nước da sạm vì bị viêm phổi nhiều tháng nay. Bài phát biểu đôi khi phải ngừng 
lại do ảnh hưởng của những viên thuốc mà nhà ngoại giao phải uống. Ông hút thuốc 
lá liên tục, và những cuộc nói chuyện của đại sứ thường bị gián đoạn bởi những 
tràng ho dài. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nhiều tuần nay, Martin khẳng định với Washington rằng Nam Việt 
Nam có thể tồn tại với &amp;quot;vành đai thép&amp;quot; bao quanh Sài Gòn và những máy bay B-52 
hiện đại. Tuy nhiên, đại sứ không thể hoàn hoàn phớt lờ những gì ông chứng 
kiến..&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong sứ quán Mỹ, một trong những cây me do người Pháp trồng 
từ cách đó một thế kỷ ngả bóng trên hành lang, trong khu vườn bên ngoài phòng 
họp chính. Khoảng không duy nhất còn lại đủ lớn cho một trực thăng hạ cánh là bể 
bơi ở giữa, và sân bay dành cho máy bay lên thẳng trên mái nhà đại sứ quán được 
thiết kế dành cho trực thăng nhỏ Huey mà thôi. Nếu &amp;quot;Option Four&amp;quot; (Di tản bằng 
trực thăng) được tiến hành, thì chỉ có trực thăng Chinook và Jolly Green Giant 
của lính thủy đánh bộ là có thể chuyển số lượng người lớn sang Hạm đội Bảy, ở 
ngoài khơi khoảng 50 km, trong một ngày. Cây me là thắc mắc cuối cùng của Graham 
Martin. Ông đã nói với nhân viên rằng khi cây này đổ, uy tín của Mỹ cũng đổ theo 
và ông không còn gì nữa.&lt;/p&gt;
&lt;table align="left" border="0" cellpadding="3" cellspacing="0" width="1"&gt;
 &lt;tr&gt;
  &lt;td&gt;
  &lt;a onclick="return openImage(this,269,394)" class href="http://www.vnexpress.net/vietnam/the-gioi/2005/04/3b9dcbbc/sg.jpg"&gt;
  &lt;img alt="Click vào ảnh" src="http://www.vnexpress.net/Files/Subject/3B/9D/CB/BC/saigonn.jpg" border="1" height="155" width="220"&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;
 &lt;/tr&gt;
 &lt;tr&gt;
  &lt;td class="Image"&gt;Quang cảnh hỗn loạn bên ngoài sứ quán Mỹ tại Sài Gòn 
  cuối tháng 4/1975.&lt;/td&gt;
 &lt;/tr&gt;
&lt;/table&gt;
&lt;p&gt;Ngày 28/4, Mặt trận Giải phóng miền Nam đã kéo cờ trên cây cầu 
cách trung tâm thành phố 5 km. Ảnh hưởng của đợt gió mùa sớm khiến Sài Gòn nằm 
dưới đám mây nặng như chì. Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Dương Văn Minh kêu gọi 
ngừng bắn và đàm phán. Khi ông ta kết thúc bài phát biểu, tiếng sấm vang lên. 
Chiến tranh sắp kết thúc.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi đi nhanh trên đường Tự Do (nay là đường Đồng Khởi) trong 
ánh chớp. Hơn chục cửa hiệu đã đóng cửa từ hôm trước, các chủ hiệu đã tới sân 
bay Tân Sơn Nhất, trả một khoản tiền hậu hĩ để được xếp hàng chờ di tản. Ông thợ 
may ở số 24 đường Tự Do, trong cửa hiệu &lt;em&gt;Austin&amp;#39;s Fine Clothes&lt;/em&gt;, đang đếm 
tiền và chửi đổng vì radio không bắt được BBC World Service. Tôi đã biết người 
thợ may này lâu nay và mối quan hệ cũng tốt đẹp. Ông có ít nhất 5.000 USD trong 
ngăn kéo và hộ chiếu Ấn Độ thò ra khỏi túi áo sơmi. &amp;quot;Cộng sản tôn trọng hộ 
chiếu&amp;quot;, người thợ may nói trong tiếng sấm, nhưng tiếng sấm lần này có vẻ khác.
&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong nửa giờ tiếp theo, tôi và người thợ may đứng yên tại 
chỗ, không dám ra ngoài. Đài VOA chơi bài hát &amp;quot;Cherry Pink and Apple Blossom 
White&amp;quot;. Tôi và thợ may cùng hát theo, và có lẽ tôi sẽ không bao giờ quên được 
lời bài hát. Khi những âm thanh rền vang chấm dứt, người thợ may thu hết tiền 
bạc trong ngăn kéo vào nói &amp;quot;OK, chạy được rồi đấy!&amp;quot;.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Có vẻ như cả Sài Gòn đang chạy trốn nỗi sợ hãi trong sự yên 
lặng. Viên quân cảnh đứng ở góc phố cố gắng ngăn cản mọi người. Một gái bar từ 
khách sạn Miramar vấp phải rãnh nước, rồi lại chạy tiếp. Đối diện khách sạn 
Caravelle, một viên cảnh sát bắn chỉ thiên bằng khẩu M-16. Bên cạnh anh ta là 
một người đàn ông nằm trên đường, xe đạp đổ trên người.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Sài Gòn đang sụp đổ trước mắt bạn: một Sài Gòn được người Mỹ 
hậu thuẫn, một thành phố tuyên bố là kinh đô của giới tiêu dùng thế giới mà 
chẳng cần sản xuất cái gì. Trong hàng ngũ của quân đội lớn thứ tư thế giới vào 
thời điểm đó (Quân đội Việt Nam Cộng hoà), binh lính đang đào ngũ với tốc độ 
1.000 người/ngày&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;1 giờ sáng, đại sứ Graham Martin tổ chức cuộc họp với các quan 
chức cao cấp trong sứ quán để thông báo ông đã nói chuyện với Henry Kissinger. 
Ngoại trưởng Mỹ cho biết đại sứ Liên Xô tại Washington Anatoly Dobrynin hứa sẽ 
chuyển thông điệp muốn đàm phán của chính phủ Dương Văn Minh tới Hà Nội.&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Kissinger hy vọng người Nga có thể sắp xếp chuyện này. Đại sứ 
nói Ngoại trưởng muốn việc di tản bằng máy bay phải được tiếp diễn càng lâu càng 
tốt, có lẽ là trong 24 giờ. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hơn 4 giờ sáng, nhiều quả rocket rơi xuống sân bay Tân Sơn 
Nhất, tiếp đó là một cuộc bắn yểm hộ của pháo hạng nặng. Thời gian chờ đợi đã 
kết thúc, cuộc chiến giành Sài Gòn bắt đầu. Bầu trời bình minh như tấm nền cho 
đạn lửa. Một máy bay trực thăng phát nổ và rơi xuống ở tầm thấp, lửa vẫn cháy. Ở 
phía đông, tại khu vực ngoại vi, tiếng súng cối vang lên. Điều đó có nghĩa quân 
đội của Mặt trận Giải phóng miền Nam đã có mặt tại Sài Gòn và đang hướng về phía 
sứ quán Mỹ.&lt;/p&gt;
&lt;table align="left" border="0" cellpadding="3" cellspacing="0" width="1"&gt;
 &lt;tr&gt;
  &lt;td&gt;
  &lt;img alt="Di tản treê nóc sứ quán Mỹ tại Sài Gòn ngày 29/4/1975." src="http://www.vnexpress.net/Files/Subject/3B/9D/CB/BD/saigon4.jpg" border="1" height="197" width="260"&gt;&lt;/td&gt;
 &lt;/tr&gt;
 &lt;tr&gt;
  &lt;td class="Image"&gt;Di tản trên nóc sứ quán Mỹ tại Sài Gòn ngày 29/4/1975.&lt;/td&gt;
 &lt;/tr&gt;
&lt;/table&gt;
&lt;p&gt;6 giờ sáng, cuộc họp giữa Martin với các quan chức đầy sự bất 
đồng. Tất cả mọi người, trừ đại sứ, nhất trí phải tiến hành di tản ngay lập tức. 
Martin thì không cho là như vậy, ông tuyên bố sẽ không &amp;quot;chạy trốn&amp;quot; và sẽ tự lái 
xe tới sân bay Tân Sơn Nhất để đánh giá tình hình. Không một ai trong sứ quán 
nghi ngờ chuyện mất Sài Gòn. Khi cuộc họp kết thúc, phụ trách CIA tại Nam Việt 
Nam Tom Polgar ra lệnh chặt cây me. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Các máy đốn cây được tập hợp lại. Một nhóm khá đông các sĩ 
quan CIA, cựu thành viên Đặc nhiệm (Mũ nồi Xanh) và cựu lính Mỹ đến từ 
California để bảo vệ sứ quán cũng có mặt. Họ mang theo súng máy, súng trường và 
dao. Họ còn có rìu và cưa điện. Các thư ký trong sứ quán mang bia và sandwich 
ra. Họ sắp đốn cây me của đại sứ mà không được đại sứ cho phép. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong lúc đó, một loạt ôtô và xe tải đi vào khu chợ bên ngoài 
Thảo cầm viên, nhanh chóng đưa hàng xuống: thịt bò đông lạnh, thịt lợn, nước 
cam, những bình hoa quả dầm và rượu anh đào lớn, bơ, bánh Sara Lee, bia 
Budweiser, 7-Up, kẹo cao su Wrigley, xì gà với đầu bịt bằng nhựa Have-A-Tampa... 
Số hàng này được đưa ra từ khu quân nhu Sài Gòn, địa điểm đã bị lính Việt Nam 
Cộng hoà bỏ lại. Một máy làm nước lạnh nhanh chóng được bán và chở đi trên xe 
xích lô. Một máy rửa bát mang nhãn hiệu Blue Swan, trên hộp vẫn còn khẩu hiệu 
của hãng &amp;quot;Chỉ có hàng hoá tốt nhất là dành cho khách hàng&amp;quot;. Chiếc máy được người 
ta lấy ra khỏi hộp và đặt trên đường. Hai giờ sau, nó vẫn ở đó, không ai mua và 
người ta chỉ lấy đi những bộ phận quan trọng. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Thiết quân luật 24/24 giờ được áp dụng ở Sài Gòn, nhưng vẫn có 
người trên phố. Một số trong đó là binh lính Sư đoàn số 18 Quân đội Việt Nam 
Cộng hoà. Tôi nghĩ họ sẽ tức giận khi thấy người Mỹ sắp ra đi. Sáng đó, khi họ 
xuất hiện ở trung tâm thành phố, họ chỉ nhìn những người nước ngoài hoặc đe doạ 
hoặc bắn chỉ thiên để giải toả nỗi tức giận. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi trở lại khách sạn Caravelle, nơi tôi sẽ gặp phóng viên 
Sandy Gall của ITN. Chúng tôi là &amp;quot;người có trách nhiệm di tản&amp;quot; thuộc diện TCN 
Press, tức là Công dân nước thứ ba (không phải người Mỹ hay người Việt Nam). Vài 
ngày nay, tôi và Sandy đã gánh trách nhiệm cố gắng tổ chức cho các đại diện của 
báo chí Anh, Canada, Italy, Đức, Tây Ban Nha, Argentina, Brazil, Hà Lan và Nhật 
Bản - những người muốn ra đi. Sứ quán Mỹ đã phát hành cuốn sách dày 15 trang có 
tên SAFE - viết tắt của &amp;quot;Chỉ dẫn và Tư vấn tiêu chuẩn cho thường dân trong 
trường hợp khẩn cấp&amp;quot;, trong đó có bản đồ Sài Gòn, đánh dấu những khu vực nơi 
trực thăng sẽ đưa người đi. Một trang đính kèm viết: Chú ý biển báo di tản. 
Không tiết lộ cho người khác. Khi được lệnh di tản, mã sẽ được đọc trên Đài phát 
thanh Quân đội Mỹ. Mã là: NHIỆT ĐỘ Ở SÀI GÒN LÀ 112 ĐỘ VÀ ĐANG TĂNG LÊN. TIẾP 
SAU ĐÂY LÀ GIAI ĐIỆU BÀI &amp;quot;I&amp;#39;M DREAMING OF A WHITE CHRISTMAS&amp;quot;. Các phóng viên 
Nhật lo ngại họ sẽ không nhận ra giai điệu đó và băn khoăn liệu ai có thể hát 
bài hát đó cho họ không.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tại Caravelle, tôi và Gall đề nghị một số người phụ trách công 
tác di tản ở tầng trệt. Họ đảm bảo rằng các phóng viên ốm yếu, nghễnh ngãng, 
buồn ngủ, bị kẹt trong nhà tắm... sẽ không bị bỏ lại. Có một chút ít tư lợi ở sự 
sắp xếp này. Tôi có cảm giác sẽ không bị bỏ lại&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Hai máy bay C-130 Hercules từ căn cứ không quân Clark tại 
Philippines đang bay phía trên sân bay Tân Sơn Nhất. Họ được lệnh không hạ cánh. 
Trinh thám báo tin về sân bay: 2 trung đội bộ binh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã 
được tăng viện cho công binh.&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Một phi công Việt Nam Cộng hoà đã hạ cánh máy bay chiến đấu 
F-5 trên đường băng và bỏ lại phương tiện trong khi máy vẫn chạy. Một chiếc xe 
jeep toàn lính Việt Nam Cộng hoà cố chạy tới một chiếc máy bay trước khi nó cất 
cánh. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&amp;quot;Có khoảng 3.000 thường dân rất lo lắng đang ở đường băng&amp;quot;, 
tướng Homar Smith báo cáo. &amp;quot;Tình hình có vẻ như đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát&amp;quot;.&lt;/p&gt;
&lt;table align="left" border="0" cellpadding="3" cellspacing="0" width="1"&gt;
 &lt;tr&gt;
  &lt;td&gt;
  &lt;a onclick="return openImage(this,221,342)" class href="http://www.vnexpress.net/GL/The-gioi/Tu-lieu/2005/04/3B9DCBBF/saigon5t.jpg"&gt;
  &lt;img alt="Click vào ảnh" src="http://www.vnexpress.net/Files/Subject/3B/9D/CB/BF/saigon5.jpg" border="1" height="142" width="220"&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;
 &lt;/tr&gt;
 &lt;tr&gt;
  &lt;td class="Image"&gt;Trực thăng đưa người khỏi Sài Gòn.&lt;/td&gt;
 &lt;/tr&gt;
&lt;/table&gt;
&lt;p&gt;Graham Martin ngồi một mình trong phòng làm việc, nhìn thấy 
cây đổ và nghe thấy tiếng trưởng văn phòng CIA thét ở ngoài sân. Khi Kissinger 
gọi điện thoại ngay sau đó để thông báo ý của Tổng thống Ford là đại sứ Mỹ sẽ ra 
quyết định cuối cùng về chuyện di tản, ông lắng nghe giọng mệt mỏi, kiệt sức và 
ốm yếu của Graham Martin một cách kiên nhẫn. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;10h43&amp;#39;: Lệnh tiến hành &amp;quot;Option Four&amp;quot; (di tản bằng đường biển 
và đường không) được đưa ra. Tuy nhiên, Martin vẫn tin chắc rằng vẫn &amp;quot;còn thời 
gian&amp;quot; để đàm phán và có một &amp;quot;giải pháp danh dự&amp;quot;.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Khách sạn Caravelle trống trải. Không ai nói gì với tôi hết. 
Bing Crosby không hát trên đài phát thanh. Những căn phòng lộn xộn những quần 
áo, giấy tờ, bàn chải đánh răng. Tôi chạy về phòng, thu thập máy đánh chữ, radio 
và những mẩu giấy ghi chú, tống tất cả vào một chiếc túi nhỏ. Số vật dụng khác 
thì tôi bỏ lại. Hai nhân viên phục vụ phòng tới và nhìn tôi vội vã thu dọn. Họ 
sửng sốt và hơi sợ một chút. Một người hỏi: &amp;quot;Ông sắp đi à?&amp;quot;. Tôi trả lời là đúng 
vậy. Anh ta cho biết: &amp;quot;Nhưng đồ giặt khô của ông sẽ không được trả trước tối 
nay&amp;quot;. Tôi cố gắng không nhìn anh ta. &amp;quot;Anh hãy giữ lại, bất kỳ thứ gì mà anh 
thấy&amp;quot;. Tôi cho họ vài đồng bạc, tôi hiểu rằng mình đang mua sự chiều khách trong 
lúc phải ra đi. Sau 9 năm, cách ra đi này mới khổ sở làm sao. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bên ngoài, Công trường Lam Sơn trống trải, chỉ có vài binh 
lính Việt Nam Cộng hoà đi lại chán nản. Một người trong số này đi nhanh lên đại 
lộ Tự Do, thét vào mặt tôi. Anh ta say xỉn. Anh ta lấy súng lục, ngắm bắn, chọn 
mục tiêu và bóp cò. Viên đạn sượt qua đầu tôi trong khi tôi chạy. &lt;/p&gt;
&lt;table align="right" border="0" cellpadding="3" cellspacing="0" width="1"&gt;
 &lt;tr&gt;
  &lt;td&gt;
  &lt;img alt="Chen lấn" src="http://www.vnexpress.net/Files/Subject/3B/9D/CB/BF/saigon2.jpg" border="1" height="278" width="230"&gt;&lt;/td&gt;
 &lt;/tr&gt;
 &lt;tr&gt;
  &lt;td class="Image"&gt;Người dân xô đẩy, cố gắng vượt qua bức tường để vào 
  trong sứ quán Mỹ.&lt;/td&gt;
 &lt;/tr&gt;
&lt;/table&gt;
&lt;p&gt;Một đám đông chen lấn ở trước cửa sứ quán Mỹ. Một số người có 
mặt ở đây chỉ vì tò mò; một số khác ôm chặt cánh cổng sắt, vừa nài xin viên lính 
thuỷ đánh bộ cho vào, vừa giơ ra những văn bản được niêm phong và những lá thư 
từ các quan chức Mỹ. Một ông già có lá thư của một trung uý mà cách đó một thời 
gian dài đã quản lý quán bar tại câu lạc bộ sĩ quan Không lực tại Pleiku. Người 
đàn ông đó rửa bát ở câu lạc bộ, và lá thư đề ngày 5/6/1967 ghi: &amp;quot;Ông Nhạ, người 
đem bức thư này, đã trung thành phục vụ sự nghiệp tự do của Việt Nam Cộng hoà&amp;quot;. 
Ông Nhạ cũng đưa ra một món đồ chơi là ngôi sao Texas Ranger mà một trong các 
phi công ở Texas đã tặng. Ông ta giơ lá thư và ngôi sao, nói với viên lính thủy 
đánh bộ đang thét lên với đám đông là &amp;quot;Đừng lo lắng!&amp;quot;. Những người làm việc cho 
Mỹ từng được khuyên là nên sợ Cộng sản, bây giờ thì lại được bảo là không nên 
lo. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Người đàn ông già tìm cách lách qua khe cửa nhưng bị viên lính 
đẩy ngã xuống đất. Ông ta đứng dậy, cố một lần nữa và bị viên lính thứ hai đẩy 
ra ngoài bằng súng trường, ném mạnh ngôi sao Texas Ranger vào đám đông. Tôi cảm 
thấy hổ thẹn khi cố gắng vượt qua đám đông, dùng sức đẩy những người khác ra.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Bên trong sứ quán, những viên lính thuỷ đánh bộ đứng quanh gốc 
cây me vừa bị đốn. &amp;quot;Chúng ta sẽ làm gì với cái đồ của nợ bất động to đùng này 
nhỉ?&amp;quot;, một sĩ quan nói vào bộ đàm. &amp;quot;Thoải mái đi, Jed&amp;quot;, giọng từ đầu bộ đàm bên 
kia trả lời. &amp;quot;Hãy cưa bớt đi ít nhất là 30 cm nữa, để có thêm chỗ cho cánh quạt. 
Và Jed, nhớ là dọn sạch chỗ vỏ bào vì nếu không thì động cơ sẽ hút vào và gặp 
trục trặc&amp;quot;. Các binh lính dùng cưa cưa bớt gốc cây me. Họ tức điên vì việc đốn 
cây trở thành trò cười với những người cả ở trong và ngoài sứ quán, với những 
binh lính gác cổng sứ quán Pháp ở bên cạnh. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tục ngữ Việt Nam có câu &amp;quot;Cháy nhà mới ra mặt chuột&amp;quot;. Phan 
Quang Đán, cựu phó thủ tướng kiêm bộ trưởng phụ trách an sinh xã hội và giải 
pháp tị nạn, đi cùng vợ vào sứ quán. Đi cùng họ là những người thân - số lượng 
tương đương một trung đội. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong số những người sắp di tản còn có các thanh niên ở độ 
tuổi đi quân dịch nhưng cha mẹ giàu có đã hối lộ những khoản tiền lớn để họ 
không vào quân đội. Dù vẫn có tên trong danh sách của một đơn vị nào đó, nhưng 
họ chưa bao giờ ra chiến trường. Họ có cuộc sống phong lưu ở Sài Gòn: đi uống cà 
phê, cưỡi xe Honda, đi bể bơi trong khi con trai nhà nghèo phải tham gia quân 
đội Việt Nam Cộng hoà, bỏ mạng ở Quảng Trị, An Lộc...&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&amp;quot;Nhìn này, tôi đây... Cho tôi vào đi, cảm ơn rất nhiều... xin 
chào, tôi đây&amp;quot;. Giọng nói chói tai vang lên từ cuối đám đông bên ngoài cánh cổng 
là của trung tướng Đặng Văn Quang. Viên lính thuỷ đánh bộ có danh sách những 
người được vào, và tướng Quang ở trong số đó. Hết sức cẩn thận, viên gác cổng 
giúp ông này (thuộc diện béo mập) vào. Viên tướng thở ra một hơi khi vào đến 
nơi. Cậu con trai 20 tuổi của ông ta đang vùng vẫy vô vọng trong đám đông. Hai 
túi đầy chặt đôla ở túi ngực áo của tướng Quang khiến chiếc áo chùng xuống&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Tâm trạng những người Mỹ trong sứ quán như trong ngày hội. Họ ngồi trên 
bãi cỏ quanh bể bơi với chai champagne đặt trong các bình đá được lấy từ khu nhà 
hàng của sứ quán. Họ vỗ tay hoan hô. Một người đội mũ kiểu cao bồi miền tây mở 
chai champagne cho bọt tràn vào người khác.&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Hai thợ cơ khí trên máy bay, Frank và Elmer, hát bài &amp;quot;The Camp 
Town Races&amp;quot;:&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;em&gt;We&amp;#39;re goin&amp;#39; home in freedom birds,&lt;br&gt;
Doo dah, doo dah;&lt;br&gt;
We ain&amp;#39;t goin&amp;#39; home in plastic bags,&lt;br&gt;
Oh doo dah day.&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&amp;quot;Đây là nơi tôi phải đến sau 10 năm&amp;quot;, Warren Parker nói gần 
như khóc. &amp;quot;Nhìn người đàn ông ở đằng kia kìa. Ông ta là một quan chức Cảnh sát 
Quốc gia... không hơn gì một người đi tra tấn&amp;quot;. Cho tới sáng hôm đó, Warren 
Parker là lãnh sự Mỹ tại Mỹ Tho. Nhà ngoại giao này ít nói, đã dành 10 năm qua ở 
Việt Nam để làm tâm lý chiến và suy nghĩ tại sao quá nhiều người không nghe tư 
vấn của ông. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tôi và ông tới chỗ nhà hàng bên cạnh bể bơi, đi qua một người 
đàn ông nói: &amp;quot;Không có người Việt Nam ở đây, không người Việt Nam&amp;quot;. Chúng tôi 
lấy một chai rượu vang Taylor New York đã được làm lạnh. Không còn ly, nên chúng 
tôi tu cả chai. &amp;quot;Tôi sẽ kể cho ông vài chuyện&amp;quot;, Parker nói với tôi bằng giọng 
bang Georgia. &amp;quot;Nếu có khoảnh khắc sự thật thì với tôi đó là hôm nay. Những năm 
qua tôi ở đây, làm việc cho đất nước tôi và đất nước này. Và hôm nay tất cả 
những gì tôi thấy là chúng ta đã chia rẽ người tốt khỏi người xấu... và chúng ta 
thu được người xấu&amp;quot;. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;font color="#5f5f5f"&gt;3h15&amp;#39; chiều 29/4&lt;/font&gt;&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;
&lt;table align="left" border="0" cellpadding="3" cellspacing="0" width="1"&gt;
 &lt;tr&gt;
  &lt;td&gt;
  &lt;a onclick="return openImage(this,300,374)" class href="http://www.vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/Tu-lieu/2005/04/3B9DCBC0/saigon1.jpg"&gt;
  &lt;img src="http://www.vnexpress.net/Files/Subject/3B/9D/CB/C0/saigon1n.jpg" border="1" height="176" width="220"&gt;&lt;/a&gt;&lt;/td&gt;
 &lt;/tr&gt;
 &lt;tr&gt;
  &lt;td class="Image"&gt;Chen lấn xô đẩy để lên máy bay.&lt;/td&gt;
 &lt;/tr&gt;
&lt;/table&gt;
&lt;p&gt;Graham Martin sải bước, qua phòng chờ tới khu nhà bên trong. 
Những chiếc trực thăng lớn sắp đến và gốc cây me không thể thấp hơn được nữa dù 
mấy người lính thuỷ đánh bộ đã tìm hết cách cưa, chặt. Chiếc Cadillac của đại sứ 
Mỹ tại Sài Gòn đang chờ ông và, trong khi các nhân viên sứ quán choáng váng, 
chiếc Cadillac đi về phía cánh cổng, nơi đang được bảo vệ nghiêm ngặt. Viên lính 
thuỷ đánh bộ đứng ở cổng không thể tin nổi vào mắt mình. Chiếc Cadillac dừng 
lại, đại sứ bước xuống, đi qua gốc cây và các binh sĩ. &amp;quot;Tôi sẽ đi bộ một lần nữa 
tới nhà mình&amp;quot;, Martin tuyên bố. &amp;quot;Tôi sẽ đi bộ thoải mái trong thành phố này. Tôi 
sẽ rời Việt Nam khi Tổng thống bảo tôi làm vậy&amp;quot;. Ông này rời sứ quán bằng cổng 
phụ, vượt qua đám đông và đi bộ một đoạn tới nhà. Một tiếng rưỡi sau, Martin 
quay lại cùng chú chó xù Nitnoy và một người giúp việc Việt Nam. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Khi chiếc trực thăng Chinook đầu tiên hạ cánh, các cánh quạt 
va phải một ngọn cây, và tiếng các cành cây khô rơi xuống giống như tiếng súng 
nhỏ. &amp;quot;Xuống ngay! Xuống ngay!&amp;quot;, một hạ sĩ thét lên, hướng về dòng người đang cố 
gắng trèo tường, chờ đến lượt được di tản, cho tới khi một sĩ quan bước tới và 
trấn an anh ta. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trực thăng có thể đưa 50 người, nhưng cuối cùng cất cánh với 
70 người. Phi công thể hiện khả năng tuyệt vời khi bay thẳng lên độ cao 61 mét, 
nhiều tài liệu của sứ quán được huỷ đi. Tuy nhiên, không phải toàn bộ văn bản bị 
huỷ, một số vẫn được để lại trong túi nilon. Tôi có một trong những tài liệu đó. 
Nó đề ngày 25/5/1969 và ghi: &amp;quot;Tuyệt mật... biên bản ghi nhớ từ John Paul Vann, 
chống nổi loạn... 900 ngôi nhà ở Châu Đốc bị không lực Mỹ phá huỷ mà không có 
dấu hiệu cho thấy một đối phương nào bị giết... vụ phá huỷ ngôi làng này của hoả 
lực Mỹ là sự kiện sẽ luôn được ghi nhớ và không bao giờ được những người sống 
sót tha thứ...&amp;quot;.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Tiền rơi như mưa từ trên nóc sứ quán: những đồng 20 USD, 50 
USD và 100 USD. Hầu hết bị cháy xém. Những người Việt chờ dưới mặt đất không thể 
tin nổi vào mắt mình; các cựu bộ trưởng, tướng lĩnh và những người tra tấn tranh 
cướp nhau để kiếm khoản tiền ở trên trời. Một quan chức sứ quán cho biết hơn 5 
triệu USD đang bị đốt. &amp;quot;Tất cả các két trong sứ quán đã trống rỗng nhưng được 
khoá cẩn thận&amp;quot;, ông này nói, &amp;quot;để đánh lừa những tên trộm&amp;quot;.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Vẫn còn ít nhất 1.000 người trong sứ quán, chờ được di tản, 
trong khi hầu hết các nhân vật nổi tiếng như tướng Quang đã có mặt trên những 
trực thăng đầu tiên. Số còn lại chờ đợi một cách bị động, trông họ như thể bị 
choáng. Bên trong sứ quán, champagne sủi bọt tràn trên bàn trong khi một số nhân 
viên cố gắng huỷ hoại chính văn phòng mình: đập máy làm lạnh nước, đổ rượu ra 
thảm, quẳng tranh từ trên tường xuống. Trong một văn phòng ở tầng 3, ảnh cố tổng 
thống Johnson được cho vào thùng giấy loại. Chỉ còn câu trích của Lawrence trên 
tường: &amp;quot;Thà để họ làm dở dang còn hơn là tự bạn làm một cách hoàn hảo, vì đây là 
đất nước của họ, cuộc chiến của họ, và thời gian của bạn thì ngắn ngủi&amp;quot;. 
(Lawrence tên đầy đủ là Thomas Edward Lawrence, 1988-1935, nổi tiếng từ sau Thế 
chiến I vì đóng vai trò nổi bật trong thời gian làm sĩ quan liên lạc của Anh 
trong cuộc nổi dậy người Ảrập năm 1916-1918).&amp;nbsp;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Đã gần nửa đêm. Sứ quán được thắp sáng bằng đèn pha ôtô, và 
mỗi trực thăng hiệu Jolly Green Giant giờ đưa đi 90 người. Phụ trách an ninh 
Martin Garrett tập trung tất cả những người Mỹ còn lại. Những người Việt Nam 
đang chờ ra đi cảm thấy điều gì đó sắp xảy ra. Một đại tá lính thủy đánh bộ xuất 
hiện, một lần nữa đảm bảo rằng đại sứ Martin đã khẳng định ông sẽ là người cuối 
cùng rời đi. Tất nhiên, đó là lời nói dối. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;strong&gt;&lt;font color="#5f5f5f"&gt;2h30&amp;#39; sáng 30/4&lt;/font&gt;&lt;/strong&gt;, 
Kissinger gọi điện cho Martin và yêu cầu ông kết thúc kế hoạch di tản lúc 3h45&amp;#39; 
sáng. Nửa tiếng sau, Martin xuất hiện cùng một cặp da, một túi xách và các tài 
liệu. Ông im lặng đi lên tầng 6, nơi một chiếc trực thăng đang đợi.&lt;/p&gt;
&lt;table align="right" border="0" cellpadding="3" cellspacing="0" width="1"&gt;
 &lt;tr&gt;
  &lt;td&gt;
  &lt;img alt="Trực thăng tại" src="http://www.vnexpress.net/Files/Subject/3B/9D/CB/C0/saigon3.jpg" border="1" height="227" width="240"&gt;&lt;/td&gt;
 &lt;/tr&gt;
 &lt;tr&gt;
  &lt;td class="Image"&gt;Trực thăng tại số nhà 22, đường Gia Long (nay là đường 
  Lý Tự Trọng). &lt;/td&gt;
 &lt;/tr&gt;
&lt;/table&gt;
&lt;p&gt;&amp;quot;Lady Ace 09 đang ở trong không trung cùng Code Two&amp;quot;. &amp;quot;Code 
Two&amp;quot; là mật mã ám chỉ đại sứ Mỹ. Tuyên bố này có nghĩa cuộc xâm lược Đông Dương 
của Mỹ đã kết thúc. Khi trực thăng ra đến ngoại vi thành phố, đại sứ nhìn thấy 
đèn pha xe tải của Quân đội Nhân dân Việt Nam. &lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Những viên lính thủy đánh bộ cuối cùng lên đến mái nhà và bắn 
hơi cay xuống thang bộ. Họ nghe thấy tiếng kính vỡ và tiếng cạy mở những két sắt 
trống rỗng của các cựu đồng minh. Những viên lính thủy đánh bộ đã kiệt sức và 
bắt đầu lo lắng; chiếc trực thăng cuối cùng chưa tới trong khi đã sắp bình minh.
&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Ba giờ sau, khi mặt trời ló rạng, những chiếc xe tăng cắm cờ 
Mặt trận Giải phóng miền Nam tiến vào trung tâm thành phố. Các binh sĩ trên xe 
tăng không bắn phát nào. Một người nhảy xuống, trải bản đồ trên xe tăng và hỏi 
những người đứng gần đó: &amp;quot;Hãy chỉ cho chúng tôi đường đến dinh tổng thống. Chúng 
tôi không biết Sài Gòn, chúng tôi không ở đây lâu rồi&amp;quot;. Các xe tăng qua Công 
trường Lam Sơn, dọc theo Đại lộ Tự Do, qua Nhà thờ Đức Bà và qua những cánh cổng 
đẹp đẽ của dinh tổng thống, nơi Minh &amp;quot;Lớn&amp;quot; (Dương Văn Minh) cùng nội các đang 
chờ để đầu hàng. Ngoài phố, binh lính Việt Nam Cộng hoà vứt bỏ quân phục. Họ đã 
hoà vào cùng đám đông. Không có &amp;quot;biển máu&amp;quot;. Kẻ xâm lược bị đẩy lùi, Việt Nam lại 
là một đất nước thống nhất. Cuộc chiến dài nhất thế kỷ 20 đã kết thúc&lt;/p&gt;
&lt;p align="center"&gt;&lt;b&gt;Hết&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-1000672777203022571?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/1000672777203022571/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=1000672777203022571' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/1000672777203022571'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/1000672777203022571'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/05/si-gn-ngy-3041975-trong-mt-mt-phng-vin.html' title='Sài Gòn ngày 30/4/1975 trong mắt một phóng viên Anh'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-8000852394453178999</id><published>2008-05-09T22:10:00.001+07:00</published><updated>2008-05-09T22:32:33.761+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chiến tranh Việt Nam'/><title type='text'>5 ngày cuối cùng của Mỹ nguỵ</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;b&gt;Những ngày giờ cuối cùng của người Mỹ, đại diện cho quốc gia giàu mạnh nhất 
thế giới và của quân đội Sài gòn, lực lượng vũ trang có số quân đông và vũ khí 
trang bị đứng hàng thứ tư toàn cầu đã diễn ra như thế này...&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p style="margin: 0in 0in 0pt;" align="justify"&gt;
&lt;span style="font-family: Arial;"&gt;&lt;font size="2"&gt;&lt;em&gt;Thế là cây me cổ thụ ở sân 
Sứ quán Mỹ mà Đại sứ Martin rất yêu thích, xem đó là biểu tượng của nước Mỹ tại 
Việt Nam (nguỵ) đã bị cưa đổ để không ảnh hưởng đến máy bay trực thăng lên 
xuống. Lò thiêu tài liệu mật đang tung bụi khói mù mịt và tàn tro lên trời.&lt;/em&gt;&lt;/font&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p style="margin: 0in 0in 0pt;" align="justify"&gt;
&lt;span style="font-family: Arial;"&gt;&lt;font size="2"&gt;&amp;nbsp;&lt;/font&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p style="margin: 0in 0in 0pt;" align="justify"&gt;
&lt;span style="font-family: Arial;"&gt;&lt;font size="2"&gt;Đó là quang cảnh vào ngày 
29/4/1975 tại Toà đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Nơi đây được mệnh danh là &lt;i style&gt;“nhà 
trắng phương Đông&lt;/i&gt;” vốn tôn nghiêm bề thế, ai đi qua cũng có phần nể trọng, 
đến lúc này thì ồn ào như chợ vỡ vì hàng ngàn “người Việt bạn của Mỹ “ tay xách 
nách mang đang chen lấn xô đẩy nhau, chửi thề, văng tục hoặc khúm núm cầu khẩn 
van xin để được đi di tản trước con mắt lạnh lùng có phần khinh miệt của bọn 
lính thuỷ đánh bộ Mỹ làm nhiệm vụ canh gác sứ quán.&lt;/font&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p style="margin: 0in 0in 0pt;" align="justify"&gt;
&lt;span style="font-family: Arial;"&gt;&lt;font size="2"&gt;&amp;nbsp;&lt;/font&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p style="margin: 0in 0in 0pt;" align="justify"&gt;
&lt;span style="font-family: Arial;"&gt;&lt;font size="2"&gt;Ngày 25/4/1975, người cầm đầu 
CIA ở Sài Gòn là Timed đến gặp Dương Văn Minh, biệt hiệu “Minh lớn” vì dáng to 
con, hỏi: “Nếu có cách gạt Hương (chỉ Trần Văn Hương) thì ngài có sẵn sàng 
thương lượng với Việt Cộng không?”. Minh lớn đồng ý và nói ông ta “&lt;i style&gt;đủ 
sức để xoa dịu phía bên kia&lt;/i&gt;”. 16h ngày 26/4/1975, Trần Văn Hương - vị Tổng 
thống 4 ngày rưỡi của chế độ Sài Gòn phải trao quyền lại cho Dương Văn Minh. 
Minh kêu gọi “&lt;i style&gt;ngừng bắn và tiến hành đàm phán trong khuôn khổ hiệp định &lt;st1:place w:st="on"&gt;&lt;st1:city w:st="on"&gt;
Paris&lt;/st1:city&gt;&lt;/st1:place&gt;&lt;/i&gt;”. &lt;/font&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p style="margin: 0in 0in 0pt;" align="justify"&gt;
&lt;span style="font-family: Arial;"&gt;&lt;font size="2"&gt;&amp;nbsp;&lt;/font&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p style="margin: 0in 0in 0pt;" align="justify"&gt;
&lt;span style="font-family: Arial;"&gt;&lt;font size="2"&gt;Đúng 10 phút sau lễ đăng quang 
của Dương Văn Minh, một biên độ máy bay cường kích A37 của cách mạng đã ném bom 
sân bay Tân Sơn Nhất, chấm dứt sự di tản người Mỹ bằng máy bay. Rạng sáng ngày 
29/4/1975, pháo hạng nặng 130 ly có tầm bắn xa hơn 27km của giải phóng nã đạn 
vào sân bay này. Tiếng đạn pháo làm rung chuyển cả đường phố Sài Gòn. Hai viên 
hạ sĩ lính thuỷ đánh bộ Mỹ là Mac Mahuru và Michel Juss bị trúng mảnh đạn, chết 
tại chỗ. Đây được xác định là 2 quân nhân Mỹ cuối cùng chết trận tại Việt &lt;st1:place w:st="on"&gt;&lt;st1:country-region w:st="on"&gt;
Nam&lt;/st1:country-region&gt;&lt;/st1:place&gt;. Đại xứ Martin giật mình choàng dậy báo cáo 
tình hình về Mỹ. Lúc đó Tổng thống Mỹ là Gerald Ford đang có cuộc họp ở nhà 
trắng, nhận được tin Sài Gòn bị tấn công bằng máy bay và trọng pháo, 2 lính Mỹ 
tử nạn, Ford lập tức họp Hội đồng an ninh Quốc gia, quyết định dùng 60 máy bay 
vận tải quân sự loại lớn C130 để di tản ngay khoảng một vạn người Mỹ và các quan 
chức chóp bu của nguỵ ra khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ qua cảng hàng không Tân 
Sơn Nhất.&lt;/font&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p style="margin: 0in 0in 0pt;" align="justify"&gt;
&lt;span style="font-family: Arial;"&gt;&lt;font size="2"&gt;&amp;nbsp;&lt;/font&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p style="margin: 0in 0in 0pt;" align="justify"&gt;
&lt;span style="font-family: Arial;"&gt;&lt;font size="2"&gt;Lệnh được truyền ngay sang Sài 
Gòn. Martin và tướng Mỹ Smith - người vừa suýt chết vì đạn pháo 130 ly - ra sân 
bay để kiểm tra tình hình. Quang cảnh ở đây lúc này đã cực kỳ hỗn loạn, bát 
nháo. Hai máy bay C130 bay tới cứ loanh quanh mãi không hạ cánh được vì vướng 
một chiếc tiêm kích F5E của nguỵ nằm chềnh ềnh giữa đường băng chính vì viên phi 
công đã vọt ra khỏi máy bay tháo chạy ngay khi vừa hạ cánh. Rải rác đây đó những 
hố đạn pháo 130 ly sâu hoắm. 5.000 người, chủ yếu là người Việt &lt;st1:country-region w:st="on"&gt;&lt;st1:place w:st="on"&gt;
Nam&lt;/st1:place&gt;&lt;/st1:country-region&gt;
(nguỵ) tràn ngập sân bay chờ di tản. Timed báo với Martin rằng “phía bên kia 
không chấp nhận Dương Văn Minh, đòi Mỹ phải rút hết, chính quyền Sài Gòn phải 
được xoá bỏ”. Đại xứ Mỹ cảm thấy như trời sập trên đầu. Smith đề nghị “&lt;i style&gt;phải 
thực hiện ngay phương án 4&lt;/i&gt;”, còn mang mật danh “&lt;i style&gt;kế hoạch gió cuốn&lt;/i&gt;”, 
tức tháo chạy bằng máy bay lên thẳng - một phương án được xem là mất thể diện 
Mỹ. Trong khi đó từ Washington, Bộ trưởng Quốc phòng Shelessinger và ngoại 
trưởng Kissiger cũng liên tục gửi điện sang Sứ quán Mỹ ở Việt Nam thúc giục di 
tản theo phương án 4. Lúc này ở Sài Gòn là 10 giờ 50 phút. Mật lệnh “&lt;i style&gt;tôi 
đang mơ một lễ giáng sinh tuyết trắng&lt;/i&gt;” được phát đi phát lại trên đài phát 
thanh Mỹ để ngầm báo cho mọi người Mỹ còn ở Việt Nam biết khẩn trương đến tập 
trung ngay tại 13 điểm ở Sài Gòn để chờ máy bay lên thẳng đến bốc đi. 81 trực 
thăng CH 53 của Hải quan, 30 trực thăng HU-1 của không quân và 20 chiếc nữa thuê 
của Công ty Hàng không Mỹ lên xuống liên tục để đảm bảo trong ngày 29/41975 sẽ 
đưa hết số người Mỹ và những “&lt;i style&gt;người Việt chí cốt&lt;/i&gt;” kịp di tản khỏi 
Sài Gòn trước nguy cơ bị đối phương tóm cổ. Số người cần di tản đông vô kể, mạnh 
ai nấy chen, dốc hết sức trèo lên máy bay. Loại trực thăng CH53 thường chỉ chở 
50 người, nay đã phải nhồi nhét 70, 80 người. Do quá tải trọng, một chiếc CH53 
và một chiếc UH1 đã rơi tòm xuống biển, cả tổ lái và số người di tản trên máy 
bay đều tử nạn.&lt;/font&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p style="margin: 0in 0in 0pt;" align="justify"&gt;
&lt;span style="font-family: Arial;"&gt;&lt;font size="2"&gt;&amp;nbsp;&lt;/font&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p style="margin: 0in 0in 0pt;" align="justify"&gt;
&lt;span style="font-family: Arial;"&gt;&lt;font size="2"&gt;3h20 ngày 30/4/1975, trước khi 
lên máy bay, trùm CIA Mỹ tại Sài Gòn Timed đã gửi bức điện cuối cùng về nhà 
trắng: “&lt;i style&gt;Thế là kết cục người Mỹ chúng ta đã thất bại. Mong rằng người 
Mỹ chúng ta sẽ rút ra được bài học này để không bao giờ có một Việt &lt;st1:country-region w:st="on"&gt;&lt;st1:place w:st="on"&gt;
Nam&lt;/st1:place&gt;&lt;/st1:country-region&gt; khác nữa&lt;/i&gt;”. Rạng sáng ngày 30/4/1975, 
Đại sứ Martin và bà vợ Dotty dùng dằng tiếc nuối chưa muốn rời khỏi căn phòng 
cực kỳ sang trọng dành cho họ từ lâu. Ngoại trưởng Kissinger gọi điện từ Mỹ sang 
giục Martin: “&lt;i style&gt;Tổng thống Gerald Ford nhắc ngài phải rời ngay khỏi Việt &lt;st1:country-region w:st="on"&gt;&lt;st1:place w:st="on"&gt;
Nam&lt;/st1:place&gt;&lt;/st1:country-region&gt; nếu không muốn bị bắt. Quân Việt cộng đã 
bắt đầu tràn vào Sài Gòn rồi&lt;/i&gt;…”. Martin lẳng lặng cuốn lá cờ Mỹ trên bàn làm 
việc vội nhét vào chiếc cặp da rồi dắt tay bà vợ béo ục ịch ra thang máy để lên 
sân thượng, miệng lẩm bẩm: “Nào, chúng ta chuồn thôi”. 4h45 ngày 30/4/1975, máy 
bay lên thẳng chở vợ chồng Đại sứ Mỹ cất cánh ra hướng biển với dòng điện ngắn 
ngủi báo về nhà trắng: “Lady 09 đã lên không trung cùng với Cottu (Lady 09 chỉ 
máy bay lên thẳng, còn Cottulaf là mật danh giao tiếp của Martin).&lt;/font&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p style="margin: 0in 0in 0pt;" align="justify"&gt;
&lt;span style="font-family: Arial;"&gt;&lt;font size="2"&gt;&amp;nbsp;&lt;/font&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p style="margin: 0in 0in 0pt;" align="justify"&gt;
&lt;span style="font-family: Arial;"&gt;&lt;font size="2"&gt;Những người Mỹ cuối cùng rút 
lên nóc Toà đại sứ Mỹ ở Sài Gòn để lên trực thăng chuồn ra biển là đại tá hải 
quân đánh bộ Summer và 11 hạ sĩ quan, binh lính dưới quyền. Rút lên tầng nào là 
họ khoá luôn cửa cầu thang tầng lầu đó để ngăn không cho hàng ngàn “&lt;i style&gt;chiến 
hữu người Việt&lt;/i&gt;”, đa số là công chức cao cấp, sĩ quan quân đội của chế độ Sài 
gòn đang chửi rủa gào thét giẫm đạp lên nhau để chạy theo họ. Trước khi lên máy 
bay, Summer còn ra lệnh cho đám lính ném nốt số lựu đạn hơi cay xuống để đẩy ra 
xa đám đông người bản xứ đang điên khùng hoảng loạn vì không được theo lính Mỹ…&lt;/font&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p style="margin: 0in 0in 0pt;" align="justify"&gt;
&lt;span style="font-family: Arial;"&gt;&lt;font size="2"&gt;&amp;nbsp;&lt;/font&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p style="margin: 0in 0in 0pt;" align="justify"&gt;
&lt;span style="font-family: Arial;"&gt;&lt;font size="2"&gt;Những ngày giờ cuối cùng của 
người Mỹ, đại diện cho quốc gia giàu mạnh nhất thế giới và của quân đội Sài gòn, 
lực lượng vũ trang có số quân đông và vũ khí trang bị đứng hàng thứ tư toàn cầu 
đã diễn ra như thế đấy&lt;/font&gt;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-8000852394453178999?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/8000852394453178999/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=8000852394453178999' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/8000852394453178999'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/8000852394453178999'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/05/5-ngy-cui-cng-ca-m-ngu.html' title='5 ngày cuối cùng của Mỹ nguỵ'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-9053277478914470668</id><published>2008-04-30T10:56:00.000+07:00</published><updated>2008-04-30T11:00:01.417+07:00</updated><title type='text'>Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam - Trung quốc trong Vịnh Bắc Bộ</title><content type='html'>&lt;p&gt;&lt;i&gt;Thứ trưởng Ngoại giao Lê Công Phụng - Tạp chí Cộng Sản số 2 (1-2001)&lt;/i&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Nhân chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Chủ tịch Trần Đức Lương, ngày 
25-12-2000, nước ta và Trung Quốc đã ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp 
định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ. Lễ ký kết được tổ chức với sự chứng kiến 
của Chủ tịch Trần Đức Lương và Chủ tịch Giang Trạch Dân. Sự kiện trọng đại mang 
tính lịch sử này diễn ra vào thời khắc rất đặc biệt, nhân loại đang hối hả thu 
xếp hành trang giã từ thế kỷ XX đi vào thế kỷ XXI và thiên niên kỷ mới. Sự kiện 
này cũng diễn ra vào điểm đỉnh tốt đẹp của quan hệ Việt - Trung kể từ khi bình 
thường hóa quan hệ năm 1991 đến nay. Nhân dân ta đón nhận việc ký kết hai hiệp 
định trên như một thành công lớn của hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta 
trong năm 2000, coi đó là nhân tố hết sức quan trọng trong việc tăng cường, thúc 
đẩy quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, cũng như trong việc duy trì, củng cố hòa 
bình, ổn định và hợp tác trong khu vực. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trong các vấn đề do lịch sử để lại trong quan hệ giữa ta và Trung Quốc có 3 vấn 
đề liên quan đến biên giới lãnh thổ là xác định đường biên giới trên đất liền ; 
phân định Vịnh Bắc Bộ và vấn đề trên Biển Đông (mà thực chất là vấn đề chủ quyền 
đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như đối với vùng đặc quyền kinh 
tế, thềm lục địa của ta), trong các vấn đề trên, vấn đề biên giới trên đất liền 
đã được giải quyết bằng việc ký kết Hiệp ước trên đất liền giữa Việt Nam và 
Trung Quốc ngày 30-12-1999. Vịnh Bắc Bộ được bao bọc bởi Việt Nam và Trung Quốc 
có diện tích 123.700 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 320 km (176 hải lý) 
và nơi hẹp nhất khoảng 220 km (119 hải lý). Chiều dài bờ biển phía Việt Nam 
khoảng 763 km, còn phía Trung Quốc khoảng 695 km. Phần Vịnh phía ta có khoảng 1 
300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền nước ta 
khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130 km. Vịnh có vị trí chiến 
lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc về an ninh và quốc phòng. Đặc thù 
của Vịnh là chiều ngang tương đối hẹp, từ trước tới nay hai nước chưa hề phân 
định Vịnh. Theo Công ước luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc, thì toàn bộ Vịnh 
Bắc Bộ là vùng chồng lấn và trong thực tế thời gian qua có tranh chấp, ảnh hưởng 
không tốt đến quan hệ giữa hai nước. Trước tình hình đó, hai nước đều có nhu cầu 
tiến hành đàm phán để phân định Vịnh Bắc Bộ nhằm đạt hai mục tiêu cơ bản và lâu 
dài : một là xác định đường phân giới rạch ròi, phân chia vùng biển, vùng đặc 
quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước láng giềng ; hai là giải quyết vấn 
đề tồn tại do lịch sử để lại, tạo cơ sở và động lực thúc đẩy quá trình xây dựng 
lòng tin, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai Đảng, hai nước theo 
phương châm 16 chữ mà hai đồng chí Tổng Bí thư đã thỏa thuận. Ngoài ý nghĩa về 
an ninh, quốc phòng, Vịnh Bắc Bộ còn có ý nghĩa lớn về kinh tế, có nguồn lợi hải 
sản phong phú. Hai nước đều có nhu cầu hợp tác đánh bắt, bảo vệ môi trường và 
bảo vệ và nuôi trồng nguồn hải sản trong Vịnh. Vào các năm 1957, 1961 và 1963 
hai nước có ký các thỏa thuận cho phép thuyền buồm của hai bên được đánh bắt 
trong Vịnh ngoài phạm vi tương ứng 3 hải lý, 6 hải lý và 12 hải lý tính từ bờ 
biển và hải đảo mỗi bên. Các thỏa thuận này đã hết hiệu lực vào những năm 70. 
Trong quá trình đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ, phía Trung Quốc kiên trì đề 
nghị lập vùng đánh cá chung đồng thời với việc phân định Vịnh Bắc Bộ và nhấn 
mạnh nếu không thỏa thuận được vấn đề này thì khó có thể giải quyết được vấn đề 
phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Ta không chủ trương gắn vấn đề nghề cá 
mang tính kinh tế, kỹ thuật với vấn đề phân định quốc giới mang tính chiến lược 
lâu dài. Nhưng ta cũng nhận thức rõ là việc không giải quyết được vấn đề nghề cá 
có thể dẫn đến hậu quả là khó giải quyết được vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong 
năm 2000. Lúc đó toàn bộ Vịnh sẽ tiếp tục bị coi là vùng chồng lấn giữa hai bên, 
và tình hình ở đó sẽ tiếp tục mất ổn định. Thực tiễn quốc tế cho thấy nhiều nước 
có vịnh hoặc vùng biển chung cũng đã thỏa thuận lập vùng đánh cá chung và về mặt 
pháp lý thì điều đó không trái với Công ước luật Biển năm 1982. Nhằm mục đích 
tạo thuận lợi tối đa cho việc giải quyết vấn đề phân định và trên cơ sở cân nhắc 
kỹ mọi khía cạnh trong quan hệ hai nước cũng như thực tiễn quốc tế, ta đã đồng ý 
lập vùng đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ. Cuộc đàm phán về biên giới lãnh thổ, 
trong đó có vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ giữa ta và Trung Quốc đã được tiến hành 
từ đầu những năm 70. Trong các năm 1974 và 1977 - 1978, hai nước đã tiến hành 2 
vòng đàm phán về phân định. Nhưng do điều kiện lúc đó nên đàm phán không có kết 
quả. Sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ, hai bên đã quyết định thương 
lượng để giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ, trong đó có vấn đề phân định 
Vịnh Bắc Bộ. Hai nước đã ký Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn 
đề biên giới - lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 19-10-1993, trong đó 
nêu rõ phương hướng phân định Vịnh Bắc Bộ là &amp;quot;Hai bên sẽ áp dụng luật quốc tế và 
tham khảo thực tiễn quốc tế, theo nguyên tắc công bằng và tính đến mọi hoàn cảnh 
liên quan trong Vịnh để đi đến một giải pháp công bằng&amp;quot;. Thực hiện thỏa thuận 
đó, từ 1993 đến năm 2000, hai bên đã triển khai 7 vòng đàm phán cấp chính phủ, 3 
cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp chính phủ và 18 vòng đàm phán cấp 
chuyên viên. Một thuận lợi hết sức lớn lao đối với quá trình đàm phán là quan hệ 
hợp tác, hữu nghị giữa hai nước không ngừng được tăng cường, ngày càng đi vào 
thực chất và toàn diện, lãnh đạo của hai bên luôn luôn quan tâm, chỉ đạo sát 
sao. Trong các chuyến thăm Trung Quốc vào năm 1997 của Đồng chí Tổng Bí thư Đỗ 
Mười và tháng 2-1999 của Đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, lãnh đạo cấp cao hai 
nước đạt được thỏa thuận là khẩn trương đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới 
trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để ký Hiệp định phân 
định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Với tinh thần đó, trong năm 1998 và 1999 hai 
bên chủ yếu dành ưu tiên cho việc giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền. Năm 
2000 cuộc đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ được đẩy mạnh và đi vào giải quyết 
thực chất (1 vòng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp liên tiếp giữa 2 trưởng 
đoàn cấp chính phủ và 8 vòng đàm phán cấp chuyên viên). &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trong quá trình đàm phán, hai bên đã vận dụng các nguyên tắc như sau để giải 
quyết : một là, căn cứ vào các quy định của Công ước luật Biển 1982 của Liên hợp 
quốc cũng như các nguyên tắc luật pháp quốc tế và tập quán được công nhận rộng 
rãi ; hai là, hai bên tính đến các đặc thù của Vịnh Bắc Bộ như sự hiện diện của 
các đảo, chiều dài bờ biển v.v... ; ba là, việc giải quyết vấn đề phân định phải 
xuất phát từ thực trạng cũng như nhu cầu phát triển quan hệ giữa hai nước ; bốn 
là, bảo đảm nguyên tắc công bằng và chiếu cố lợi ích của nhau. Về diện tích, 
phía Trung Quốc kiên trì chủ trương đại thể chia đôi, thừa nhận ta có thể nhỉnh 
hơn nhưng hơn không đáng kể. Ta chủ trương giải pháp công bằng phải phù hợp với 
các hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh như sự hiện diện của các đảo của ta, chiều dài 
bờ biển của ta lớn hơn v.v... Do đó, kết quả của giải pháp phân định phù hợp với 
yêu cầu ta đặt ra. Về diện tích tổng thể ta được 53,23% diện tích Vịnh, Trung 
Quốc đạt 46,77% (ta hơn Trung Quốc 6,46% tức là khoảng 8205 km2), đường phân 
định cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý, đảo Cồn Cỏ được hưởng 50% hiệu lực. Về 
khía cạnh tài nguyên, giải pháp phân định đạt được cũng bảo đảm việc phân chia 
lợi ích một cách công bằng. Hai bên đã phân chia rõ ràng phần thềm lục địa để 
mỗi bên đều có thể tiến hành thăm dò, khai thác tài nguyên trong phạm vi thềm 
lục địa của mình mà không bị bên kia can thiệp hoặc gây khó khăn. Trong trường 
hợp có cấu tạo mỏ vắt qua đường phân định thì hai bên sẽ thỏa thuận với nhau về 
việc khai thác và phân chia lợi ích của việc khai thác đó. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cuộc đàm phán về nghề cá được khởi động muộn hơn. Cho mãi đến tháng 4-2000 ta 
mới tán thành đàm phán nghề cá. Qua 6 vòng đàm phán cấp chuyên viên về nghề cá, 
hai bên nhất trí lập vùng đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ từ vĩ độ 20o xuống 
đường đóng cửa Vịnh. Vùng này có bề rộng là 30,5 hải lý kể từ đường phân định về 
mỗi phía và có tổng diện tích là 33.500 km2, tức là khoảng 27,9% diện tích Vịnh. 
Như vậy, đảm bảo cách bờ của mỗi nước là 30 hải lý : đại bộ phận cách bờ của ta 
35 - 59 hải lý và có 2 điểm cách bờ là 28 hải lý. Thời hạn của vùng đánh cá 
chung là 15 năm (12 năm chính thức và 3 năm gia hạn). Hai bên cũng đã thỏa thuận 
các điều khoản liên quan đến bảo vệ môi trường và bảo vệ và nuôi trồng nguồn hải 
sản trong Vịnh. Ba nguyên tắc lớn của vùng đánh cá chung là : vùng đặc quyền 
kinh tế của nước nào thì nước đó có quyền kiểm tra, kiểm soát các tàu cá được 
phép vào vùng đánh cá chung ; sản lượng và số tàu thuyền được phéãp vào vùng 
đánh cá chung là dựa trên nguyên tắc bình đẳng, căn cứ vào sản lượng được phép 
đánh bắt, xác định thông qua điều tra liên hợp định kỳ ; mỗi bên đều có quyền 
liên doanh hợp tác đánh cá với bên thứ 3 trong vùng đặc quyền kinh tế của mình. 
Hai bên thỏa thuận lập Uủy ban liên hợp nghề cá để xây dựng quy chế liên quan 
đến vùng đánh cá chung. Ngoài vùng đánh cá chung ra, hai bên thỏa thuận về dàn 
xếp quá độ với thời hạn 4 năm ở phía Bắc vĩ tuyến 20 cho tàu thuyền của hai bên 
tiếp tục được đánh bắt. Phạm vi cụ thể của vùng này hai bên sẽ tiếp tục thảo 
luận. Sau thời hạn quá độ, tàu thuyền của các bên về đánh cá ở vùng đặc quyền 
kinh tế của mình, trừ khi được bên kia cho phép. Đồng thời hai bên cũng thỏa 
thuận lập một vùng đệm nhỏ ở ngoài cửa sông Bắc Luân với mục đích là tạo thuận 
lợi cho việc ra vào của các tàu cá nhỏ (nếu phát hiện các tàu đó đánh cá thì 
cảnh cáo và buộc rời khỏi vùng nước của mình). Vùng này dài 10 hải lý và tính từ 
đường phân định rộng 3 hải lý về mỗi bên. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Về tổng thể, các giải pháp đạt được trong quá trình đàm phán và được thể hiện 
trong hai bản Hiệp định là thỏa đáng, đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của cả hai 
bên. Các Hiệp định đó là kết quả của quá trình đàm phán lâu dài, thể hiện nỗ 
lực, thiện chí và tính đến sự quan tâm, nhân nhượng từ cả hai phía. Đối với ta, 
việc ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ tiếp theo việc ký Hiệp ước về biên giới 
trên đất liền năm 1999, có ý nghĩa rất quan trọng vì qua đó ta đã đạt được mục 
tiêu là giải quyết được hai trong ba vấn đề biên giới - lãnh thổ tồn đọng lâu 
nay giữa hai nước. Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc năm 
1999 và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ tạo nên một cơ sở pháp lý vững chắc để 
quản lý biên giới, lãnh thổ, thực hiện mục tiêu là xây dựng biên giới Việt Nam - 
Trung Quốc thành biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu dài, và tạo động lực 
thúc đẩy, tăng cường quan hệ hai nước. Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ đã xác 
định trọn vẹn đường biên giới lãnh hải giữa ta và Trung Quốc ở khu vực ngoài cửa 
sông Bắc Luân, phân định rõ ràng phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và phạm vi thềm 
lục địa của hai nước ở Vịnh. Hiệp định đã ghi nhận cam kết của hai bên tôn trọng 
chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên trong phạm vi các vùng 
biển của mình. Hiệp định cũng đã đề ra cách giải quyết khi xảy ra trường hợp hai 
bên chung nhau các mỏ tài nguyên khoáng sản nằm trong Vịnh. Hiệp định phân định 
Vịnh Bắc Bộ vừa mới ký với Trung Quốc này là Hiệp định phân định biển thứ hai 
của nước ta (Hiệp định phân định biển đầu tiên là Hiệp định phân định các vùng 
biển giữa Việt Nam và Thái Lan ký năm 1997) và là Hiệp định phân định biển gần 
đây nhất ở trong khu vực). Do đó ý nghĩa của Hiệp định này không chỉ dừng lại 
trong khuôn khổ quan hệ Việt - Trung mà thực sự góp phần vào việc ổn định hòa 
bình trong khu vực. Hiệp định hợp tác nghề cá đã góp phần quan trọng đưa đến 
việc ký kết Hiệp định phân định ; thể hiện rõ sự nhân nhượng, thông cảm lợi ích 
của nhau, phù hợp với phương châm &amp;quot;Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn 
định lâu dài, hướng tới tương lai&amp;quot; trong quan hệ hai nước.&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&amp;nbsp;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-9053277478914470668?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/9053277478914470668/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=9053277478914470668' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/9053277478914470668'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/9053277478914470668'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/04/hip-nh-phn-nh-vnh-bc-b-v-hip-nh-hp-tc.html' title='Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam - Trung quốc trong Vịnh Bắc Bộ'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-3285644454980700189</id><published>2008-04-29T15:07:00.001+07:00</published><updated>2008-08-03T04:00:11.395+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Chiến tranh Việt Nam'/><title type='text'>Chuyện về người chỉ huy xe tăng tiêu diệt cả một lữ đoàn dù Ngụy</title><content type='html'>&lt;img src="http://www.cand.com.vn/Uploaded_CAND/hoabt/4_ong374.jpg"&gt;&lt;p&gt;&lt;b&gt;&amp;quot;Cuộc chiến đấu chỉ còn lại duy nhất một chiếc xe của chúng tôi. Thấy xe 
tăng của ta, bọn địch ở các hầm cơ động, thông hào bắn ra như mưa. Nhiều tên sợ 
quá, ném lựu đạn quên rút chốt&amp;quot;, ông Nguyễn Đình Thoảng kể về cuộc tấn công lữ 
đoàn dù ngụy trên cứ điểm 543.&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Trong một ngõ sâu ở phường Phúc Khánh, TP Thái Bình, có một người lính tham 
gia trận chiến đấu đầu tiên bằng xe tăng của quân đội ta trên chiến trường miền 
Nam giai đoạn còn bí mật. Ông là Nguyễn Đình Thoảng, 66 tuổi, quê ở Thái Bình, 
người tham gia trận đánh xe tăng công khai giữa ban ngày với xe tăng của địch; 
cũng là người chiến sỹ xe tăng đầu tiên của binh chủng được nhận Huy hiệu Bác Hồ 
với những trận đánh huyền thoại.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Theo ông kể, tháng 8/1967, tại thôn Giếng Xạ, Lương Sơn, Hòa Bình, Tiểu đoàn 3, 
Trung đoàn 203 xe tăng đã bí mật làm lễ xuất quân lên đường vào Nam chiến đấu. 
Để đảm bảo yếu tố bí mật, bất ngờ, xe tăng hành quân theo đường số 4, đường 
rừng, từ Lương Sơn lên Vụ Bản, vào Thanh Hóa, xuyên dãy Trường Sơn sang nước bạn 
Lào. Để đảm bảo bí mật, ban đêm hành quân, ban ngày nghỉ. Cuộc hành quân kéo dài 
ròng rã gần 3 tháng mới tới Xa-van-na - khẹt (Lào).&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Hành quân dài trên đường rừng núi nên xe hư hỏng nhiều nhất là bộ phận chuyển 
động. Để chiến đấu ngay được, một đại đội 11 xe dồn thành 6 chiếc, những chiếc 
còn lại sẽ bổ sung hoàn chỉnh sau. Giáp Tết Mậu Thân năm 1968, lần đầu tiên 
trong đêm xe tăng của ta bí mật vượt sông Sê-pôn phối hợp với bộ binh tấn công 
địch ở Hội Xan (Quảng Trị). Thấy xe tăng đối phương xuất trận, hàng loạt đồn bốt 
địch thần hồn nát thần tính, hốt hoảng bỏ chạy về Lao Bảo. Xe tăng ta lại bí mật 
vượt sông Sê-pôn tấn công xóa sổ đồn bốt địch ở Lao Bảo.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Sau những trận đánh mở đầu giành thắng lợi đó, ông Thoảng còn tham gia chiến đấu 
ở làng Vây trong chiến dịch Mậu Thân. Bị đòn bất ngờ, đầu năm 1971, Mỹ - ngụy 
tập trung hàng chục ngàn quân với hàng trăm máy bay, xe tăng, xe bọc thép mở 
cuộc hành quân lớn &amp;quot;Lam Sơn 719&amp;quot; đánh vào đường 9 Nam Lào định cắt đôi Đông 
Dương và hòng tiến ra Bắc. Phát huy thắng lợi trận đầu ra quân, 10h sáng 
25/2/1971, xe tăng ta lại được lệnh xuất kích tấn công một lữ đoàn dù ngụy cứ 
điểm 543 trên một quả đồi cao rộng.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
&amp;quot;Đội hình tiến công gồm 3 xe tăng chênh chếch theo hình chữ chi, xe của tôi mang 
số hiệu 550 đi đầu. Trong xe gồm Trưởng xe là đồng chí Duyên, lái xe là đồng chí 
Đoàn và tôi - pháo thủ cùng đồng chí Cối, CTV Trưởng tiểu đoàn. Trên đầu, các 
loại máy bay địch quần thảo nhiều như chuồn chuồn mùa hè, xả đạn làm cho chiếc 
xe tăng thứ hai của ta bị cháy, chiếc thứ 3 bị hỏng và bộ binh cũng không tiến 
kịp theo xe tăng.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Cuộc chiến đấu chỉ còn lại duy nhất một chiếc xe của chúng tôi. Thấy xe tăng của 
ta, bọn địch ở các hầm cơ động, thông hào bắn ra như mưa. Nhiều tên sợ quá, ném 
lựu đạn quên rút chốt. Xe tăng của tôi tiến lên được đỉnh đồi và cứ thế quần 
nhau với cả lữ đoàn dù địch. Bây giờ nhớ lại mới thấy đây là trận chiến đấu có 
một không hai trong lịch sử của bộ đội xe tăng.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Khi đồng chí Trưởng xe bị thương, đồng chí Cối giúp lái xe, còn tôi vào vị trí 
Trưởng xe kiêm pháo thủ. Tôi dùng pháo 76, đại liên, 12,7 bắn vào các ổ đề kháng 
của địch. Trong xe tầm bắn hạn chế, tôi bò ra lưng xe hạ nòng 12,7 bắn thẳng vào 
các cửa hầm của địch. Một mình tôi đã bắn như thế từ hơn 9h sáng cho đến 4h 
chiều, bắn hết 2 hòm đạn 12,7, bắn hết tất cả cơ số đạn trong xe tăng dành cho 3 
trận đánh công kiên. Trong xe chỉ còn lại 2 quả đạn vạch sáng cực nhanh - một 
loại đạn rất có giá trị khi bắn phải được lệnh. Bắn đến mức tai như ù, đầu muốn 
vỡ, mắt nổ đom đóm.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Đến khoảng 4h chiều, lữ đoàn dù địch phần thì bị tiêu diệt, phần thì bị thương, 
phần thì bỏ chạy tán loạn. Cả quả đồi rộng hàng mẫu, đất đá cày xới, xác giặc 
ngổn ngang như vười mía sau cơn bão lớn. Cuối trận đánh phát hiện còn một hầm cố 
thủ - &amp;quot;lô cốt cơ động&amp;quot; của địch, chúng tôi cho xe lên mặt hầm quần thảo, bắn đạn 
khói, ném lựu đạn cay buộc địch phải ra hàng. Từ trong xe thấy lúc nhúc địch, 
đồng chí Cối lệnh cho tôi ra khỏi xe bắt sống tù binh. Tôi cắp khẩu AK nhảy 
xuống đất. Nhìn trước mặt là mấy chục tên địch có tên còn cầm vũ khí. Đồng chí 
Cối đứng trên xe dùng AK khống chế địch và ném dây cho tôi.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Chúng tôi không ngờ đây chính là hầm chỉ huy. Tôi một tay để vào cò súng, dùng 
nòng súng khoành dây trói liên tiếp quanh người tổng số 47 tên. Tận bây giờ tôi 
không hiểu sao mình lại nghĩ ra được cách trói địch có một không hai như vậy! 
Một xâu tù binh dài tới hai ba chục mét. Vừa trói tôi vừa nhớ đến những dây cua 
đồng bán ở chợ quê tôi, người nông dân cũng trói cua tương tự thế này. 47 tù 
binh tôi bắt sống hôm đó gồm toàn bộ Bộ Tham mưu lữ đoàn dù, trong đó có tên Đại 
tá Thọ - Lữ đoàn trưởng.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Mấy mươi năm rồi, tôi không nhớ trận đó chiếc xe tăng của chúng tôi đã tiêu diệt 
bao nhiêu địch, chỉ biết toàn bộ lữ đoàn dù địch hơn một ngàn quân không còn một 
ổ chống cự nào trên toàn quả đồi. Nhiều lúc nhớ lại, tôi cũng không hiểu sao 
mình lại có sức khỏe để có thể bắn suốt trong nhiều tiếng đồng hồ liền như thế! 
Và một điều rất kỳ lạ, hơn 5 tiếng quần nhau với địch, lúc trong xe, lúc ra 
ngoài chìa lưng ra trời đất mà bắn địch, bốn xung quanh đạn như mưa rào mà tôi 
không hề bị thương dù là vào phần mềm. Trên lưng xe thì la liệt lựu đạn chưa nổ 
và đạn các loại.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Chiến tranh có những điều không thể lý giải được. Chỉ riêng điều này, có thể 
khẳng định, đây là trận đầu tiên xe tăng ta công khai tấn công địch và đã chiến 
thắng rất oanh liệt, một xe tăng tiêu diệt cả một lữ đoàn dù!&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Sau trận đánh đó, về đơn vị, tôi ngủ mê mệt cho đến trưa hôm sau mới tỉnh, người 
rã rời, khát, mệt. Nhưng chỉ được nghỉ một ngày, ngày 27/2, tôi lại cùng chiếc 
xe tăng của mình xuất trận. Trận này, địch cũng dùng xe tăng với số lượng lớn. 
Xe tăng của tôi sau khi bắn hạ 3 chiếc xe tăng của địch cũng đã bị trúng đạn bốc 
cháy. Tôi bị thương nặng vào chân, vào sườn, lạc vào rừng 10 ngày. Đơn vị cho là 
đã hy sinh nên tổ chức lễ truy điệu. Rất may, số tôi chưa tận, một đơn vị bộ đội 
của ta tìm thấy tôi đang sốt hầm hập, vết thương nhiễm trùng sưng húp.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Tôi ra Bắc điều trị vết thương và dự Hội nghị Chiến sỹ quyết thắng toàn quân 
chủng. Tại Hội nghị, tôi được Chủ tịch nước tặng Huân chương Chiến công hạng 
nhì, đặc biệt được nhận Huy hiệu Bác Hồ - đây là tấm huy hiệu đầu tiên của quân 
chủng xe tăng thiết giáp&amp;quot;&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-3285644454980700189?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/3285644454980700189/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=3285644454980700189' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/3285644454980700189'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/3285644454980700189'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/04/chuyn-v-ngi-ch-huy-xe-tng-tiu-dit-c-mt.html' title='Chuyện về người chỉ huy xe tăng tiêu diệt cả một lữ đoàn dù Ngụy'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-1721363171401474887</id><published>2008-04-29T00:51:00.000+07:00</published><updated>2008-04-29T00:55:09.561+07:00</updated><title type='text'>Tình người</title><content type='html'>Đầu năm 1972 , từ chiến trường miền Nam ra, tôi được về an dưỡng tại Đoàn 70-QK4 . Mặc dù được nghỉ ngơi và bồi dưỡng rất tốt trong thời gian ba tháng nhưng sức khỏe của tôi vẫn không đủ tiêu chuẩn để quay lại chiến trường tiếp tục chiến đấu . Đang buồn bã và chán nản vô cùng thì tôi được ban chỉ huy gọi lên giao nhiệm vụ mới . Tôi vừa mừng vừa lo không biết mình sẽ được điều đi đâu và làm gì . Sau một hồi xác định tư tưởng , đại đội trưởng Ngự yêu cầu tôi xuống gặp tài vụ thanh toán để ra Cục Chính trị Quân khu 4 nhận nhiệm vụ mới . Ông ấy không hề nói cho tôi biết nhiệm vụ sắp đến của tôi là làm gì . Nhưng với tôi , được tiếp tục nhận nhiệm vụ là hạnh phúc lắm rồi . Sáng hôm sau , chúng tôi lên đường . Đoàn chúng tôi gồm có năm anh em . Anh Hoa quê ở Quảng bình là người lớn tuổi nhất được phân công làm trưởng đoàn . Còn lại bốn anh em chúng tôi đều sàn sàn tuổi nhau . Tất cả chúng tôi đều là thương binh từ chiến trường và an dưỡng cùng đơn vị nên rất dễ gần gũi và thân thiện . Sau ba ngày hành quân bộ men theo những vùng nông thôn dọc theo phía tây hai tỉnh Hà tĩnh - Nghệ an , chúng tôi đến Nghĩa đàn - một vùng nông trường bát ngát cam và cà phê . Ở đây , chúng tôi được phân công về các trại giam giữ , cải tạo tù hàng binh của quân đội Việt nam cộng hòa bị bắt tại mặt trận Khe sanh - Đường 9 - Nam Lào. Tôi , anh Hoa và Đông được điều về T373 , cách thị trấn Nghĩa đàn 5 cây số . Trại của chúng tôi đóng trong một khu rừng rậm cách xa khu dân cư . Đây là một khu rừng già có rất nhiều cây cổ thụ và nhiều loại thú rừng . Chúng tôi muốn ra khỏi đơn vị phải băng qua một con suối có tên là Khe Ang . Tôi về đây đúng vào mùa khô nên Khe Ang nước không nhiều . Nước ở đây lúc nào cũng trong suốt và mát lạnh . Ở một vài khúc suối , nước chỉ lội đến đầu gối . Khe Ang là nguồn cung cấp nước sinh hoạt hàng ngày cho cả trại chúng tôi . Nhưng nó cũng là một trở ngại rất lớn trong việc đi lại của bộ đội và tù hàng binh mỗi khi có việc phải ra khỏi doanh trại .. Tù binh mà chúng tôi canh giữ chủ yếu là lính thuộc Trung đoàn 57 do đại tá Nguyễn Văn Thọ chỉ huy và một số hàng binh thuộc Trung đoàn 56 của trung tá Phạm Văn Đính bị bắt tại mặt trận Đường 9 - Nam Lào . Mặc dù đã được quán triệt về chính sách tù binh của Nhà nước nhưng tôi đặc biệt có ác cảm với số tù binh thuộc Trung đoàn 57 của đại tá Thọ .Vì Trung đoàn 57 là Trung đoàn cứng cổ nhất . Khi quân Giải phóng tấn công vào tận sào huyệt và bắt sống đại tá Thọ thì lúc đó cả Trung đoàn mới chịu bỏ vũ khí đầu hàng . Mỗi lần tiếp xúc với tù binh để tìm hiểu lai lịch trích ngang , tôi thường hoạnh họe và gắt gỏng vô cớ . Biết như thế là hách dịch và thiếu tôn trọng tù hàng binh nhưng tôi không thể bỏ được tật xấu đó . Vì Mỹ đánh phá miền Bắc vô cùng ác liệt nên cam , cà phê của các nông trường ở miền Tây Nghệ an không thể xuất khẩu được . Cả một rừng cam mênh mông bát ngát , cây nào cũng trĩu quả vàng tươi . Cà phê cũng bạt ngàn vô tận ành nào cành nấy quả ken dày như những chuỗi cườm đá đỏ . Hàng ngày chúng tôi phải dẫn tù binh đi giúp các nông trường thu hoạch và làm sạch cỏ cho gốc cà phê và cam giúp họ. Cam Nghĩa đàn mà người ta quen gọi là cam Vinh ngon nổi tiếng từ lâu . Tù binh của chúng tôi đi thu hoạch cam và thưởng thức cam một tháng mà người nào cũng tăng từ năm đến bảy cân . Thời gian đầu họ còn bóc vỏ để ăn . Nhưng về sau muốn ăn họ chọn gốc cam nào không có hạt , quả phải mọng nước và ngọt . Họ không cần bóc vỏ mà chỉ cần cắt đôi quả cam rồi há miệng vắt lấy nước uống . Một lần đi ngang qua nhóm của thiếu úy Kiệt - lính của đại tá Thọ , tôi bắt gặp anh ta đang ngửa cổ , há miệng và đang vắt những quả cam to vào một cái phễu bằng lá cam để nước cam chảy vào cổ nuốt ừng ực . Sẵn mặc cảm từ lâu và không kìm nổi bực tức , tôi hét lên : - Anh Kiệt đứng nghiêm ! Kiệt giật mình đứng nghiêm và ho sặc sụa vì sặc nước cam .Mặt anh ta tái nhợt trông thật thảm hại . Như để thể hiện vẻ oai phong của mình và để dằn mặt những người khác , tôi ra lệnh cho Kiệt phải ăn bằng hết đống vỏ cam đã vắt hết nước mà nhóm Kiệt đã bỏ ra trong ngày hôm đó . Kiệt năn nỉ xin tôi tha tội nhưng tôi kiên quyết bắt phải ăn hết . Không còn cách gì khác , Kiệt phải nhai ngấu nghiến đống vỏ cam vứt ngổn ngang giữa lô cam vừa làm sạch cỏ . Nhìn anh ta nhai như bò nhai rơm và nghển cổ ra để nuốt cái đống vỏ cam hết nước kia tôi cảm thấy thõa mãn lắm . Tối hôm ấy , Kiệt không ăn cơm mà lẳng lặng đi nằm sớm . Sáng hôm sau , mặt Kiệt hốc hác như người vừa ốm dậy . Có lẽ cả đêm qua , anh ta không ngủ chút nào . Sáng ra , Kiệt không được đi hái cam nữa mà cùng với hai người nữa đi gánh thực phẩm về cho bếp ăn . Tôi lại được phân công đưa tổ của Kiệt đi nhận thực phẩm . Bộ đội cùng đi với tôi là An - nhân viên tiếp phẩm của trại . Chúng tôi phải đi hàng chục cây số đường rừng mới đến được bản của người dân tộc để mua rau quả , thực phẩm . Khi chuẩn bị lội qua Khe Ang để sang bên kia , tôi lại nhớ đến cái tội của Kiệt hôm qua và nghĩ cách trị tội tiếp . Thế là thay vì cởi tất và giày để lội qua khe nước lạnh cóng , tôi bắt Kiệt ghé lưng cõng tôi qua suối .Kiệt không hề phản ứng mà ngoan ngoãn ngồi xuống để tôi ngồi lên lưng . Trưa đến , chúng tôi phải nấu cơm nhờ một gia đình người dân tộc để ăn . Người dân ở đây rất quý bộ đội nhưng lại rất ghét tù binh . Họ bảo rằng vì bọn lính ngụy nên con cái họ phải vào Nam chiến đấu và hy sinh nhiều lắm . Cho nên trong vườn có cây rau , nải chuối hay quả đu đủ họ sẵn sàng cho bộ đội mang về dùng và không chịu nhận tiền. Bữa cơm của chúng tôi được dọn ra . Thức ăn chủ yếu là chuối xanh nấu canh với muối nêm chút mì chính và rau cải luộc chấm muối . Ba tù binh lại còn mang theo ống tre đựng muối sống dầm ớt chỉ thiên mọc hoang mà họ chế biến để làm thức ăn thêm ở trại . Tôi và An nhìn mâm cơm chán ngán không muốn ăn . Ông chủ nhà gọi An ra và bảo : - Nhà mình nuôi nhiều gà lắm nhưng thả lung tung trong rẫy không bắt được . Bộ đội có cách gì bắt được thì bắt một con mà làm thịt . Mình tặng bộ đội đó . An quay sang hỏi tôi có cách gì không ? Tôi bảo An cứ để tôi lo . Tôi là một xạ thủ của đơn vị cũ ở chiến trường nên việc hạ sát một con gà là việc quá dễ đối với tôi . Với lại tôi cũng muốn ra oai để bọn tù binh biết tài bắn súng của một chiến sĩ trẻ trong Quân đội nhân dân Việt nam . Tôi xách khẩu AK báng gấp ra , chọn con gà mái tơ to nhất ngắm bắn . Tiếng súng nổ , con gà cách chỗ tôi ngồi khoảng 25 mét vỗ cánh đành đạch và kêu quang quác . Kiệt chạy lại vồ lấy con gà và tấm tắc : bộ đội giỏi quá , con gà chỉ gãy đúng 2 chân thôi. Con gà được làm thịt và luộc ra trông thật hấp dẫn . Chủ nhà không ăn thịt gà mà chỉ dành cho chúng tôi . Tôi và An ngồi ở phòng khách chén gọn con gà luộc trong khi để mặc Kiệt và hai tù binh kia với mâm cơm canh , rau , muối ớt . Bọn họ ngồi ăn một cách ngon lành . Lúc đầu tôi còn ăn uống dè dặt và cảm thấy mình quá nhỏ nhoi và bủn xỉn . Nhưng nghĩ lại câu chuyện hôm qua của Kiệt và cho rằng bọn họ là tù binh của mình nên tôi ăn một cách ngon lành như không có việc gì xẩy ra . Tháng 10 năm đó , chúng tôi được lệnh đưa tất cả những tù hàng binh trong trại vào thành phố Vinh để tận mắt xem những cầu , cống , bến phà , nhà máy ,trường học và làng mạc đã bị bom Mỹ đánh phá . Họ còn được chúng tôi đưa về thăm quê Bác Hồ ở Nam đàn để chứng kiến cuộc sống giản dị và thanh cao của một vị lãnh tụ mà cả thế giới kính trọng . Chính trong ngôi nhà nhỏ nhắn đơn sơ này tôi nhìn thấy dòng chữ trích lời Bác được viết bằng sơn màu vàng trên nền đỏ tươi : "Đất nước Việt nam là một , dân tộc Việt nam là một . Sông có thể cạn , núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi " . Tự nhiên tôi cảm thấy mình quá ư nhỏ bé và tầm thường . Tôi không xứng đáng để bước vào ngôi nhà thiêng liêng này . Nhớ lại cách đối xử với tù binh trong thời gian qua , tôi đã hoàn toàn đi ngược lại lời dạy của Bác . Tháng ba năm 1973 , tôi có được vinh dự cùng đơn vị đưa tất cả tù binh ở các trại vào sông Thạch hãn - Quảng trị để trao trả theo hiệp định Pa ri đã ký kết . Từ Nghĩa đàn , những đoàn xe của chúng tôi nối đuôi nhau rrầm rập vào nam mù mịt bụi đường đất đỏ . Bộ đội và tù binh ngồi chung xe với nhau . Lòng ai cũng bồi hồi rạo rực xen lẫn sự quyến luyến lạ thường . Vào đến địa điểm tập kết , tất cả chúng tôi sống trong những mái nhà bạt dựng trên bãi cát nóng hầm hập . Ngày nào cũng vậy , bộ đội và tù binh đều chung nhau ăn cơm với bí đỏ , chuối xanh xào . Chúng tôi lại đùa với nhau là thèm món ớt chỉ thiên dầm muối sống. Ngày trao trả bắt đầu , những người bị thương hoặc đau yếu được trao trả đợt đầu . Sau đó mới đến những tù binh khỏe mạnh . Kiệt được xếp danh sách trao trả ngày tiếp theo . Khi đọc đến tên và xếp hàng trao trả , tôi đã ôm chặt lấy Kiệt và thành thật xin lỗi về sự đối xử thiếu tình người của mình trong những ngày qua . Và thật bất ngờ khi đọc tên để phía bên kia tiếp nhận , tất cả 20 người đứng trong hàng đều ngồi cả xuống và đề nghị được ở lại với Cách mạnh mà không chịu về lại bên kia . Mặc dù vệ binh của phía bên kia cầm tay giả vờ dìu đứng lên nhưng thực ra để khống chế anh em lên ca nô để qua sông về với Quốc gia nhưng anh em nhất quyết ở lại . Trước sự chứng kiến của Ủy ban quân sự bốn bên , cuối cùng phía bên kia phải chấp nhận quyền ở lại của anh em . Từ tấm gương của Kiệt và số anh em này mà các đợt trao trả tiếp theo anh em tù hàng binh tự nguyện ở lại với Cách mạng đông vô kể . Họ bảo rằng : nếu quay về bên kia , nhất định họ lại phải cầm súng chống lại nhân dân mình . Và như vậy họ lại có tội với nước , với dân . Họ cám ơn chúng tôi vì chúng tôi đã sinh ra họ lần thứ hai . Ba mươi lăm năm trôi qua , chiến tranh đã lùi vào quá khứ , nhưng mỗi khi nhớ lại sự đối xử của mình với Kiệt và anh em tù binh , tôi cảm thấy thật hổ thẹn với lương tâm vì tôi sống thiếu tình người . Từ đó đến nay tôi cảm thấy ân hận vô cùng . Tôi đã cố gắng tìm gặp lại Kiệt hoặc một ai đó trong số những tù binh đã bị tôi dối xử bất công để nói lời xin lỗi nhưng không sao tìm được . Bài học sống phải có tình người luôn hiển hiện trong tôi . Tôi mãi mãi không bao giờ quên lời dạy của Bác Hồ "Nước Việt nam là một , dân tộc Việt nam là một . Sông có thể cạn , núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi ".&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-1721363171401474887?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/1721363171401474887/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=1721363171401474887' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/1721363171401474887'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/1721363171401474887'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/04/tnh-ngi.html' title='Tình người'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-6055016073541751756</id><published>2008-04-28T22:06:00.000+07:00</published><updated>2008-08-03T04:01:32.211+07:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Việt Nam'/><title type='text'>Ký ức Hoàng Sa</title><content type='html'>&lt;p&gt;Mới rồi, tôi đến Đài thiên văn Phủ Liễn (Kiến An, Hải Phòng), được gặp ông 
Đậu - một cán bộ khí tượng thuỷ văn kỳ cựu. Trong lúc trò chuyện, ông cho tôi 
biết hiện còn một người, có lẽ là duy nhất ở nước ta sống đến ngày nay, từng làm 
việc trên quần đảo Hoàng Sa (tên gọi khác là Paracels). Đó là cụ Nguyễn Đình Dư, 
sinh năm 1916, quê ở Nghi Hoà, Nghi Lộc, Nghệ An. Giờ muốn tìm cụ, cần qua người 
cháu ruột là ông Nguyễn Đình Miên - Thanh tra của Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Trở về Hà Nội, tôi lòng vòng đi tìm ông Miên ngay. May mắn là khi đến nhà, ông 
Miên cũng vừa đón cụ Dư là chú ruột từ nhà người con gái cả về chơi. Cụ Dư tóc 
bạc phơ cắt ngắn, da đỏ au, đôi mắt tinh anh, đang ngồi trên giường, buông thõng 
một chân. Tôi ngại cụ lẫn, nói nhỏ với ông Miên, muốn ông ngồi bên để làm rõ 
thêm câu chuyện. Ông cười bảo, trí nhớ cụ rất tốt, khỏi cần. Cụ cứ rì rầm kể, 
giọng xứ Nghệ nhỏ nhẹ, có lúc còn cao hứng đọc một lèo hết cả bài thơ dài mấy 
chục câu do cụ sáng tác từ hồi công tác ở Nha Khí tượng, mà chẳng thiếu, chẳng 
nhịu từ nào ... &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Giáp mặt với chúa đảo &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
... Năm 1936, tôi đậu Prime Trường Cao Xuân Dục, Vinh, bỏ nhà vào Nam kiếm sống. 
Mãi đến 1939 mới xin được chân thư ký công nhật ở Sở Thuỷ nông Sài Gòn. Một hôm 
có ông Nguyễn Xiển là kỹ sư khoa học bên Sở Khí tượng sang xin số liệu. Chúng 
tôi có quen biết nhau từ trước, do ông là bạn học với người con bà cô tôi bên 
Pháp. Ông Xiển thấy tôi nói tiếng Pháp lưu loát, liền bảo bên sở của ông đang 
thiếu người, sang đấy mà xin việc. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Từ năm 1937, Pháp đã xây trên quần đảo Paracels một trạm quan trắc, nằm trong 
mạng lưới khí tượng toàn Đông Dương. Đang tuổi đôi mươi muốn bay nhảy, biết 
ngoài ấy cần người, thế là tôi học thêm vài tháng nghề quan trắc thời tiết. Vào 
đầu năm 1941, tôi được lệnh lên đường. Anh Cáp là bạn thân cùng quê, đang trong 
Tổ chức Hướng đạo sinh Sài Gòn, tính tình sôi nổi cũng thích sóng gió đại dương, 
xin được cùng đi với tôi. Từ Sài Gòn ra Tourane (tên gọi ngày ấy của thành phố 
Đà Nẵng), rồi con tàu nhỏ rẽ sóng ra khơi, sau một ngày đêm, chúng tôi đã cặp 
đảo Patle thuộc quần đảo Hoàng Sa. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Quần đảo Hoàng Sa gồm khoảng 30 đảo san hô lớn nhỏ, có đảo chỉ nổi lên khi thuỷ 
triều cạn ròng. Có 3 đảo lớn Patle, Robert và Boisee là có người ở. Dân đất liền 
ra đây làm việc theo thời hạn, cứ mỗi tháng lại có tàu ra tiếp tế lương thực, 
thực phẩm. Tàu chúng tôi cặp vào mạn một cầu tàu đang xây dở trên đảo Patle. Đảo 
Patle hình trái trứng, đường kính lớn nhất khoảng 700 mét và cao hơn mặt biển 
lúc lặng sóng là 6 mét. Cư dân trên đảo thời tôi ở gồm 30 lính khố xanh, 30 phu 
tạp dịch, 1 nhân viên phát tín hiệu vô tuyến, 1 nhân viên khí tượng và 1 phiên 
dịch. Năm ấy, tôi ra thay người phụ trách khí tượng tên là Trần. Anh này lúc đi 
đã mang theo một phụ nữ trẻ, nhưng đành phải cho &amp;quot;bồ&amp;quot; về trước, vì trên đảo toàn 
cánh đàn ông không tiện chút nào. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Chúa đảo đầu tiên tôi gặp tên là Moutshine, là một người Pháp lai, tính tình rất 
thô bạo hay đánh đập chửi bới lính và phu. Tôi đụng ông ta ngay ngày đầu chân 
ướt chân ráo ở đảo. Chả là, máy gió tự ghi của trạm khí tượng bị hỏng bộ phận 
cảm ứng, tôi liền nảy ra sáng kiến tháo cái cầu vai Hướng đạo sinh ba màu xanh, 
vàng, đỏ của Cáp, kết thành một dải dài cắm lên sân thượng để xem hướng gió. 
Thấy vậy, Moutshine liền phùng mang, trợn mắt bắt tôi hạ xuống ngay. Tôi không 
chịu, hắn quát: &amp;quot;Anh đừng quên, ta là chúa đảo&amp;quot;. Tôi cũng chơi rắn: &amp;quot;Ông cũng 
đừng quên, tôi là đại diện cho Sở Khí tượng Đông Dương ở đây!&amp;quot;. Hắn hậm hực bỏ 
đi. Biết thế nào hắn cũng báo về đất liền kể xấu, tôi đánh ngay một bức điện 
tường trình với &amp;quot;sếp&amp;quot; về tình huống cái máy gió bị hỏng, phải tạm khắc phục như 
vậy và đã bị chúa đảo gây khó dễ. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ai ngờ bức điện lại được Giám đốc Khí tượng Đông Dương quan tâm, báo ngay sang 
Sở Hiến binh. Thế là, một tháng sau, Moutshine có lệnh phải trở về trước thời 
hạn. Cả đảo ai cũng mừng thầm vì Moutshine vốn được mệnh danh là &amp;quot;bạo chúa&amp;quot;. 
Thay hắn là một người Pháp tính tình nhã nhặn, vui vẻ. Ông ta từng hoạt động 
trong đoàn Hướng đạo sinh, nên càng dễ hoà hợp với tôi và Cáp. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Thấy nhiều lính và phu đảo hết giờ làm việc là vùi đầu vào đánh bạc, tôi đề xuất 
với chúa đảo mới, tổ chức cho anh em buổi chiều chơi thể thao, buổi tối sinh 
hoạt văn nghệ. Chúa đảo đồng ý ngay và giao cho đội khố xanh đứng ra làm việc 
này. Thế là từ đó trên đảo dẹp được nạn cờ bạc sát phạt nhau. Buổi chiều, lính 
và phu chia ra hai đội đấu bóng đá ngay sát mép nước, còn tối tối thường vang 
lên tiếng hát, lời ca cây nhà lá vườn. Tôi biết hầu hết người lao động ở đây mù 
chữ, liền ngỏ ý muốn dạy thêm cho họ, không ngờ được sự hưởng ứng rất nhiệt 
tình. Thế là hàng tuần lại có thêm những buổi học văn hoá. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Những thú vui ... &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tôi còn có cái thú là cùng Cáp dành thì giờ rảnh rỗi đi khắp đảo Patle và hai 
đảo bên cạnh, tìm hiểu lịch sử và thiên nhiên vùng quần đảo. Vào khoảng giữa 
những năm 30 của thế kỷ XX, người Nhật đã đưa quân ra chiếm quần đảo Paracels 
nhằm khống chế Đông Dương. Pháp biết mưu thâm của Nhật, liền có đối sách là mượn 
danh Chính phủ Nam triều đòi lại chủ quyền. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Đầu năm 1937, một sĩ quan Pháp dẫn 50 lính khố xanh đổ bộ lên đảo tuyên bố là 
thừa lệnh Hoàng đế An Nam tiếp quản Paracels. Phía Nhật không chịu, hai bên định 
choảng nhau. Điện tới tấp vào đất liền xin chỉ thị, cuối cùng đi đến một thoả 
thuận: An Nam giữ một phần ba diện tích làm đồn trú bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, 
phần còn lại cho người Nhật mượn để khai thác phân chim trên đảo (gọi là phốt 
phát), lính Nhật thì phải rút hết. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tôi còn được nghe kể, cũng năm 1937 phu đảo Patle đã đào được một bộ xương đàn 
ông còn đeo cái bài ngà. Đấy là viên quan triều đình Huế trông coi đảo, lâm bệnh 
nặng, có nguyện vọng an táng tại đây. Đảo có một cái hố đường kính tới 4 mét, 
không có nước, bên hố có hai cây dừa khô bật gốc và một cái miếu thờ thổ công 
thổ địa. Người ta bảo đây là cái giếng hứng nước mưa được đào từ thời xa xưa, 
còn dừa thì do lính đồn trú nhà Nguyễn trồng, gặp cơn bão lớn đã thổi tung gốc. 
Tôi và Cáp cũng đã nhiều lần sang đảo Robert, nơi có nhiều cây cối nhất và là 
nơi chăn nuôi bò, lợn, dê, cừu cung cấp thực phẩm tươi sống cho toàn quần đảo.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Đảo này có một cái chòi cao ngất ngưởng, trên đó lính canh ban ngày thì đánh tín 
hiệu bằng cờ, ban đêm bằng đèn cho đảo Patle. Đảo Boisee ở xa nhất, cách Patle 
ngót 100 cây số về phía bắc, lớn gấp ba lần đảo Patle. Ngày ấy mấy hòn đảo có 
người ở đều có rừng, mọc mỗi một loài cây lá to gọi là cây phốt phát. Cây phốt 
phát nom bề ngoài nó rất yếu ớt, thân khẳng khiu như cây sắn, gỗ lại xốp. Chim 
biển đậu trắng trên ngọn cây và lớp phân chim từ bao đời tích lại dày tới nửa 
mét. Mỗi tháng tàu ra tiếp tế, khi trở về người ta không quên chất lên tàu 
khoảng 200 bao phân chim. Nghe nói, mỗi chuyến như thế chi phí tới 4.000 đồng 
Đông Dương, chủ tàu mang về mỗi bao phân phốt phát bán được khoảng dăm đồng bạc.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tôi trở lại Hoàng Sa một lần nữa vào cuối năm 1944, giữa lúc tình hình trong 
nước và thế giới có nhiều biến động. Phe Đồng minh ào ạt tấn công phe trục 
phátxít. Rồi đầu năm 1945 Nhật nhảy vào hất cẳng Pháp ở nước ta, tiếp đến Anh 
thay mặt Đồng minh vào Nam Bộ giải giáp vũ khí quân Nhật. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tôi ở trên đảo đã 11 tháng, quá gần hai lần thời hạn quy định. Những ngày tháng 
tám lịch sử diễn ra trên đất nước ta mà chúng tôi vẫn còn chơ vơ giữa biển khơi. 
Mấy tháng không có tàu tiếp tế lương thực, có lúc đã phải bắt cá, cua cáy ăn độn 
cho qua ngày. Trông ngóng mãi rồi cũng có tàu ra, ai ngờ đó là chuyến tàu tiếp 
tế cuối cùng cho Hoàng Sa thời thuộc Pháp. Người thay tôi tên là Chi, quê gốc Hà 
Nội. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Về đất liền, tôi được cuốn ngay vào phong trào cách mạng sục sôi. Tôi vào đội du 
kích quận Tân Bình. Đến ngày Toàn quốc kháng chiến cuối 1946, tình cờ tôi gặp 
lại Chi người kế nhiệm trên đảo Patle mấy tháng trước. Anh cho biết về một biến 
cố bất ngờ. Đảo lúc đó bị cô lập, bởi tàu phe Đồng minh kiểm soát trên biển rất 
gắt gao. Không thể ngồi chờ chết, anh em quyết định đẵn cây đóng bè vượt biển. 
Chúa đảo ngăn cản, liền bị trói gô ném lên bè. Ông ta van xin mang theo chiếc 
valy hành lý. Một người chạy vào lấy đại ra một chiếc, về sau mới biết valy tiền 
bạc của chúa đảo thì để lại, chiếc này toàn đựng toàn đồ nghề và vỏ sò vỏ ốc. 
May mắn thế nào mà chiếc bè mỏng manh ấy lại vượt được hàng trăm kilômét trùng 
dương, cặp bến an toàn. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
*** &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Kể xong câu chuyện, cụ Dư bỗng ngồi thừ một lúc, đôi mắt dường như đọng chút nỗi 
buồn nào đó và nhìn ra xa. Tôi hỏi: &amp;quot;Cụ nhớ Hoàng Sa phải không ạ?&amp;quot;. &amp;quot;Quên sao 
được&amp;quot; - giọng cụ trầm trầm - Hoàng Sa cũng như Trường Sa là phên giậu ngoài biển 
Đông của đất nước. Con cháu đời đời phải gìn giữ. Năm trước tôi đã viết xong tập 
&amp;quot;Ký ức Hoàng Sa&amp;quot;. Tiếc là để ở nhà, không thì đưa anh xem thử. Ký ức Hoàng Sa - 
mới ngày nào, mà đã 60 năm trôi qua ..&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;&lt;b&gt;Quần đảo Hoàng Sa: Lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam&lt;/b&gt;&lt;/p&gt;
&lt;p&gt;Cách đây đúng 30 năm, giữa lúc nhân dân Việt Nam đang tập trung nỗ lực vào 
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quần đảo Hoàng Sa, lúc này đang do chính 
quyền Sài Gòn quản lý, đã vì một số lý do nằm ngoài tầm kiểm soát của ta. Tuy 
nhiên, Việt Nam vẫn luôn khẳng định Hoàng Sa là một bộ phận lãnh thổ thiêng 
liêng của mình. Bởi vì chủ quyền ấy đã được minh chứng bằng thời gian và lịch sử 
của nhiều thế kỷ những cư dân và nhà nước Việt Nam đã quản lý và khai thác vùng 
lãnh thổ trên biển Đông này. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;

Sự xác lập chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa (cũng như với Trường Sa) được minh 
chứng không chỉ bằng những tài liệu do người nước ngoài ghi chép như sách Hải 
ngoại ký sự của Thích Đại Sán viết năm 1696, hay của nhiều tác giả Tây phương 
như Le Poivre (1749), J.Chaigneau (1816-1819), Teberd (1833), Gutzlaff 
(1849)...; cũng như những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể liên quan đến 
hoạt động của các &amp;quot;đội Hoàng Sa&amp;quot; xưa ở cửa biển Sa Kỳ và đảo Lý Sơn (cù lao Ré) 
nay, mà còn được ghi lại trên nhiều thư tịch trong đó có những văn bản mang tính 
chất nhà nước của Việt Nam. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cho dù có một thực tế là, vì nhiều lý do khác nhau, các nguồn tư liệu thành văn 
của Việt Nam bị mất mát, thì cho đến nay chúng ta vẫn có bằng chứng về chủ quyền 
của nhà nước Đại Việt (gồm cả Đàng Ngoài của các Chúa Trịnh và Đàng Trong của 
các Chúa Nguyễn đều lấy danh nghĩa tôn phò nhà Lê) qua Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ 
Thư trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ Bản Đồ 
(soạn năm Chính Hoà thứ 7-1686) và sách Phủ Biên Tạp Lục của bác học Lê Quý Đôn 
(1776). &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Tấm bản đồ trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư được vẽ theo bút pháp đương thời với 
chú rất rõ ràng: &amp;quot;Giữa biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) 
dài tới 400 dặm... Họ Nguyễn mỗi năm vào cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến 
đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn...&amp;quot;. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Còn bản đồ vẽ trong Toản Tập An Nam Lộ thì ghi chú rất rõ địa danh Bãi Cát Vàng 
trên biển khơi phía trước của những địa danh trên đất liền như các cửa biển Đại 
Chiêm, Sa Kỳ, Mỹ Á, phủ Quảng Nghĩa và các huyện Bình Sơn, Chương Nghĩa, Mộ Hoa.
&lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Với sách Phủ Biên Tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn (1776), Hoàng Sa được mô tả 
kỹ hơn. Năm 1775, Lê Quý Đôn được Chúa Trịnh cử vào vùng đất Phú Xuân nhận chức 
Hiệp trấn để lo việc bình định hai trấn mới thu hồi được từ Chúa Nguyễn là Thuận 
Hoá và Quảng Nam. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Sách dành nhiều trang để mô tả về &amp;quot;Đội Hoàng Sa&amp;quot; và &amp;quot;Bắc Hải&amp;quot; của Chúa Nguyễn tổ 
chức cho dân vùng Tứ Chính, Quảng Ngãi tổ chức thường kỳ việc đến Hoàng Sa để 
thu lượm các sản vật đem về đất liền. Những tư liệu thu thập tại địa phương xã 
An Vĩnh (cù lao Ré) còn nói tới &amp;quot;đội Quế hương&amp;quot; cũng là một hình thức tổ chức do 
dân lập, xin phép nhà nước được ra khai thác ở Hoàng Sa. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Sang thời Nguyễn, kể từ đầu thế kỷ XIX, trong điều kiện nước Việt Nam (dưới 
triều Gia Long) và Đại Nam (kể từ triều Minh Mạng) đã chấm dứt tình trạng cát cứ 
và phân tranh, thống nhất quốc gia thì việc quản lý lãnh thổ được ghi chép đầy 
đủ và lưu trữ tốt hơn. Tấm bản đồ được lập thời Minh Mạng Đại Nam Nhất Thống 
Toàn Đồ vẽ rất rõ cả một dải lãnh thổ gồm những đảo trên biển Đông được ghi chú 
là &amp;quot;Vạn Lý Trường Sa&amp;quot; (tên gọi chung cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo 
quan niệm đương thời). &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Hai bộ sách địa lý quan trọng của triều Nguyễn là phần Dư Địa Chí trong Lịch 
Triều Hiến Chương Loại Chí (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833) đều đề 
cập tới Hoàng Sa trong phần viết về phủ Tư Nghĩa và đều nhất quán với những nội 
dung của các tài liệu trước, trong đó có hoạt động của các &amp;quot;đội Hoàng Sa&amp;quot;. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Bộ chính sử Đại Nam Thực Lục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn liên tục cho 
đến thập kỷ đầu của thế kỷ XX đều nhiều lần ghi lại các sự kiện liên quan đến 
Hoàng Sa và Trường Sa như một bộ phận của lãnh thổ quốc gia. Ngay trong phần 
Tiền Biên, chép về các tiên triều, bộ niên sử này cũng nêu lại những sự kiện từ 
thời các Chúa Nguyễn. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Một thống kê cho thấy trên bộ sử này, phần chính biên ghi chép cho đến thời điểm 
in khắc (1848) đã có 11 đoạn ghi chép sự kiện liên quan đến những quần đảo này. 
Nội dung là việc nhà nước điều cho thuỷ quân và đội Hoàng Sa ra đảo để &amp;quot;xem xét 
đo đạc thuỷ trình&amp;quot; (quyển 50, 52... đời Gia Long); cử người ra Hoàng Sa &amp;quot;dựng 
miếu, lập bia, trồng cây&amp;quot;, &amp;quot;vẽ bản đồ về hình thế&amp;quot;, &amp;quot;cắm bài gỗ dựng dấu mốc chủ 
quyền&amp;quot; (quyển số 104, 122, 154, 165 đời Minh Mạng). &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ngoài ra còn có các bộ Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (1851) là một bộ điển 
chế của triều Nguyễn cũng ghi rõ những công việc nhà nước Đại Nam đã thực thi 
trên lãnh thổ Hoàng Sa. Đặc biệt quý giá là những châu bản của các vị vua triều 
Nguyễn có liên quan đến Hoàng Sa. Giá trị của những văn bản gốc này là sự thể 
hiện quyền lực của người đứng đầu quốc gia đối với vùng lãnh thổ này qua lời phê 
duyệt của nhà vua. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Ví như, phê vào phúc tấu của Bộ Công ngày 12.2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836), nhà 
vua viết: &amp;quot;Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) 
dài 4,5 thước (ta), rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ &amp;quot;Năm Bính Thân Minh Mạng thứ 
17, họ tên cai đội thuỷ quân phụng mệnh đi đo đạc, cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu 
dấu&amp;quot;; hay các châu phê về việc thưởng phạt người có công tội khi thực thi trách 
nhiệm ở Hoàng Sa, đo đạc, vẽ bản đồ v.v... &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Cần phải nói lại một lần nữa là trong suốt nhiều thế kỷ liên tục trước đây các 
tài liệu thư tịch của nhà nước Việt Nam kế thừa nhau và những chứng tích như cầu 
tàu, trạm khí tượng, hải đăng... của Việt Nam (trước đây do người Pháp sử dụng, 
khai thác và chính quyền Sài Gòn cũ quản lý) vẫn còn đó, thể hiện chủ quyền lịch 
sử và thực tiễn đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Giáo sư sử học Dương Trung Quốc&lt;br&gt;
Theo Lao Động &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;br&gt;
Quần đảo Hoàng Sa &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
Là một quần đảo san hô nằm trong khoảng vĩ độ 15045&amp;#39;&amp;#39;&amp;#39;&amp;#39; Bắc, kinh độ 1110 đến 
1130 Đông, án ngữ ngang cửa vào vịnh Bắc Bộ, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi, VN)hơn 
120 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc)khoảng 140 hải lý. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;br&gt;
Quần đảo gồm trên 30 hòn đảo, đá, cồn san hô, bãi cát nằm trên một vùng biển 
rộng từ Tây sang Đông khoảng 100 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý, 
chiếm diện tích biển khoảng 16.000km2. Tổng diện tích phần nổi của đảo Hoàng Sa 
10km2. &lt;/p&gt;&lt;p&gt;
&lt;br&gt;
Lớn nhất là đảo Phú Lâm, rộng khoảng 1,5km2. Các đảo còn lại diện tích nhỏ hơn 
nhiều&lt;/p&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4698478179345589224-6055016073541751756?l=myvn.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://myvn.blogspot.com/feeds/6055016073541751756/comments/default' title='Đăng Nhận xét'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4698478179345589224&amp;postID=6055016073541751756' title='0 Nhận xét'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/6055016073541751756'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4698478179345589224/posts/default/6055016073541751756'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://myvn.blogspot.com/2008/04/k-c-hong-sa.html' title='Ký ức Hoàng Sa'/><author><name>Mr Lavitanha</name><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4698478179345589224.post-5795704312427559575</id><published>2008-04-28T21:19:00.001+07:00</published><updated>2008-04-28T21:52:40.233+07:00</updated><title type='text'>Chiến lược mặt biển của Trung Quốc và vấn đề biển Ðông</title><content type='html'>&lt;p&gt;Lời nói đầu: Trong vài thập niên gần đây, biển đông (tức biển Nam Trung Quốc 
hay biển Ðông Nam Á tùy theo từng tác giả) đã trở nên một vấn đề quan trọng 
trong chính sách của các quốc gia Ðông Á. Tranh chấp quyền sở hữu và khai thác 
khu vực này đã là một quan tâm hàng đầu của nhiều chính quyền. Nghiên cứu về vai 
trò kinh tế, quá trình lịch sử của nó đã được nhiều học giả trình bày cặn kẽ, cụ 
thể là hai cuốn &amp;quot;Ðặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa&amp;quot; của nhóm nghiên cứu sử địa 
miền Nam Việt Nam trước năm 1975 (được nhà xuất bản Văn Nghệ-Khai Trí tái bản 
tại hải ngoại năm 1992) và &amp;quot;Ðịa Lý biển Ðông với Hoàng Sa và Trường Sa&amp;quot; của Vũ 
Hữu San (do Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn toàn Lãnh Thổ Việt Nam ấn hành năm 1995). Nhiều 
học giả nước ngoài cũng có những công trình hoặc nghiên cứu riêng về vùng biển, 
hoặc đặt chung trong nghiên cứu khu vực, chẳng hạn như Steven J. Hood (Dragons 
Entangled, Indochina and the China-Vietnam War, M.E. Sharpe Inc. 1992), Peter 
Kien-hong Yu (A Study of The Pratas, Macclesfield Bank, Paracels, and Spratlys 
in the South China Sea, Taipei 1988) Phù Tuấn (Nam Hải Tứ Sa quần đảo, Thế Kỷ 
thư cục Ðài Bắc 1981) ... Ngoài ra còn vô số những bài viết trên báo chí, tập 
san Việt, Mỹ, Pháp, Hoa ... về biển đông. Có những tài liệu hết sức xác đáng 
nhưng cũng có nhiều tài liệu không chân thực, điển hình là những tài liệu do Hoa 
lục hay Hongkong phổ biến.. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về vấn đề biển đông, chúng 
ta không thể bỏ qua những lập luận từ nhiều góc cạnh khác, nhất là đó là những 
lập luận mà nhà nước Trung Quốc sử dụng trên bàn cờ chính trị quốc tế. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Những vấn đề liên quan trực tiếp đến biển đông đã được nhiều người đề cập đến. 
Vì thế chúng tôi chỉ viết rất sơ lược và dành những chi tiết cụ thể đó cho những 
công trình nghiên cứu sâu rộng hơn, qui mô hơn. Trong phạm vi bài này, chúng tôi 
chỉ trình bày khu vực biển đông để gợi ý cho độc giả về tầm quan trọng của nó 
đối với toàn vùng Ðông Nam Á, nhất là đối với trật tự mới của vùng Thái Bình 
Dương trong thế kỷ sắp tớị Vai trò chiến lược và an ninh ngày càng đậm nét hơn 
vai trò kinh tế nhất là đối với Việt Nam chúng ta.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
&lt;b&gt;I. Dẫn nhập&lt;/b&gt;&lt;br&gt;
Ai cũng biết việc Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam cũng 
như việc Việt Nam được thu nhận vào Hiệp Hội Các Quốc Gia Ðông Nam Á (ASEAN) 
không chỉ đơn thuần vì lý do kinh tế. Tái lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam là 
một dấu hiệu chứng tỏ Hoa Kỳ muốn thiết lập một thế quân bình mới tại Á Châu. 
Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất mà chính quyền Mỹ công khai đưa ra 
là việc ngăn ngừa chính sách bành trướng của Trung Quốc. Chính sách tàm thực 
(tằm ăn dâu) của Trung Quốc trong vài thập niên qua đánh dấu một sự chuyển mình 
lớn trong chiến lược đối ngoại của họ. Nếu Trung Quốc làm chủ biển đông không 
phải chỉ Việt Nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng mà Philippines, Indonesia, Malaysia, 
Thailand cũng sẽ bị khống chế. Ðài Loan sẽ bị cô lập và chịu áp lực trầm trọng. 
Công cuộc vận động để tiến tới một tư thế độc lập của nhân dân Ðài Loan sẽ trở 
nên gay go hơn. Thêm vào đó, Nhật Bản, Ấn Ðộ, Hoa Kỳ cũng sẽ bị án ngữ và chia 
cắt, mất hết ảnh hưởng đối với vùng Ðông Nam Á, gây nguy hại cho các kế hoạch 
mậu dịch và chiến lược ổn định toàn cầu. Chính vì thế, một giải pháp phối hợp 
nhiều quốc gia để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc không những bảo vệ 
được mặt biển phía đông của Việt Nam mà còn tạo được sự ổn định trường kỳ cho 
toàn thể khu vực tây ngạn Thái Bình Dương. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Nhiều phân tích gia đã cho rằng nếu thế kỷ thứ 19 là thế kỷ của các dân tộc vùng 
Ðại Tây Dương thì khi sang thế kỷ thứ 21, vùng châu Á Thái Bình Dương sẽ trở 
thành khu vực kinh tế quan trọng hàng đầu của thế giới. Một Ðại Trung Quốc bao 
gồm Hoa Lục, Ðài Loan, Singapore và các cộng đồng Hoa kiều rải rác khắp thế giới 
sẽ trở thành một lực lượng kinh tế và chính trị vô cùng mạnh mẽ. Cho nên, đối 
chiếu với viễn tượng của vài chục năm sắp tới, những phân tích gia chiến lược 
đều nhìn nhận rằng Trung Quốc không phải chỉ tìm kiếm vai trò siêu cường kinh tế 
mà còn tìm lại vị trí &amp;quot;thiên triều&amp;quot; của họ trong lịch sử, trong đó các nước 
chung quanh là thuộc quốc, phải thần phục và triều cống, công nhận tư thế lãnh 
đạo của họ về mọi mặt.&lt;br&gt;
&lt;br&gt;
&lt;b&gt;II. Chiến lược mặt biển của Trung Quốc&lt;/b&gt;&lt;br&gt;
Trong thời thượng và trung cổ, Trung Quốc không có một khái niệm rõ rệt về biển 
cả và chỉ nuôi tham vọng bành trướng trên đất liền. Thời Xuân Thu, Chiến Quốc, 
người Trung Quốc tưởng rằng nước Tàu là trung tâm thế giới, các nước chung quanh 
đều man di, mọi rơ Chính vì thế mà họ tự gọi mình là Trung Quốc tức nước ở trung 
tâm. Hai chữ &amp;quot;thiên hạ&amp;quot; (dưới vòm trời) là nói về những dân tộc sống trong vùng 
lục địa Trung Quốc và những tiểu quốc chung quanh thần phục nước Tàu. Ở phía 
đông là biển cả vô tận, chỉ được mô tả trong những truyện thần kỳ, nơi những 
người phi thường mạo hiểm đi tìm thuốc trường sinh. Việc tìm hiểu những vùng đất 
bên kia bờ đại dương không mấy ai nghĩ đến. Thảng hoặc có người để tâm nghiên 
cứu thì phần lớn chỉ là sưu tầm những dật sự hoang đường trong tưởng tượng hơn 
là mắt thấy tai nghe. Cho nên, những sự kiện đó không đáng tin mà chỉ là một 
loại tiểu thuyết, dẫu có dựa trên một số yếu tố lịch sử nhưng vẫn chỉ là sản 
phẩm được hình thành với mục đích giải trí mà thôi. &lt;br&gt;
&lt;br&gt;
Trong thời phong kiến, Khổng học được coi là sở học chính thống, tinh thần 
thương mại bị coi là thấp kém, giới thương nhân đứng sau cùng trong tứ dân sĩ 
nông công thương. Ðời Hán, Ðường, Tống, Nguyên, thương mại với bên ngoài hầu như 
không có, cũng chẳng ai nghĩ đến việc tìm hiểu các nước ở xa xôi. Tuy từ đời 
Ðường, người Tàu đã biết rằng phía bên kia dãy Hi Mã Lạp Sơn có các đế quốc Ba 
Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập, Ấn Ðộ ... nhưng thời đó Trung Quốc vẫn là khu vực văn 
minh nhất và các nơi phải đến học hỏi họ chứ họ không phải cất công đi tìm hiểu 
người khác. Hồi thế kỷ thứ bảy, Tràng An (kinh đô nhà Ðường) là khu vực thị tứ 
lớn nhất thế giới lúc bấy giờ diện tích hơn ba mươi dặm vuông, hơn hai triệu cư 
dân, và hàng trăm đền đài tráng lệ. Ở kinh đô, người ta có thể tìm thấy nhiều 
loại sản phẩm khắp nơi mang đến trong đó có cả đặc sản của Phi Châu, Ấn Ðộ, Java 
... Những phú gia có thể mua cả mỹ nữ Tây Dương tóc vàng mắt xanh làm tì 
thiếp.[1] Tơ lụa và đồ gốm là những sản phẩm quí giá các thương gia nước ngoài 
đến Trung Quốc mua về. Thời ấy, người Ả Rập và người Ba Tư có những đoàn thương 
thuyền hùng hậu nhất, qua lại khu vực biển cả từ Ấn Ðộ Dương sang Thái Bình 
Dương. Tuy nhiên, đối với các vua chúa 
