Hiển thị các bài đăng có nhãn Chiến tranh Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chiến tranh Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2008

Viên phi công Mỹ và hành trình 40 năm đi tìm kỷ vật

Kể từ ngày những tù binh tại trại giam Hỏa Lò (Hà Nội) được Việt Nam trao trả cho phía Mỹ tại sân bay Gia Lâm (12/2/1973), cựu tù binh - phi công Halyborton Porter Alex đã nhiều lần trở lại Việt Nam.

Người ta bảo, Halyborton đến Việt Nam như là một sự sám hối. Còn Halyborton tâm sự: “Đó mới chỉ là một nửa, tôi muốn tìm lại một kỷ vật của thời chiến...”.

Ông Halyborton và vợ tần ngần xem đôi giày kỷ niệm

250 giờ bay và 8 năm tù ở Hoả Lò

Mỗi lần trở lại Việt Nam, điểm đầu tiên mà Halyborton ghé thăm là Bảo tàng lịch sử Quân sự ở đường Điện Biên Phủ (Hà Nội). Viên phi công cứ lặng lẽ đến, nhìn ngó từng hiện vật chiến tranh, như thể tìm kiếm một cái gì đó...rồi lại lặng lẽ đi. Không ai biết anh là ai, cũng chẳng ai để ý đến anh. Bởi mỗi ngày, những người cựu binh Mỹ như Halyborton đến đây có vô khối...

Ngày 10/3/2005, cựu binh Halyborton lại trở lại Bảo tàng, lần này ông đi cùng vợ và cả một số người bạn Mỹ. Ông tự tách đoàn, lang thang nhìn ngắm hiện vật một mình. Halyborton dừng lại khá lâu bên chiếc tủ kính, được đặt dưới chân chiếc xe tăng T-54 mang số hiệu 843, nơi trưng bày khá nhiều hiện vật về phi công Mỹ bị bắn rơi, bị bắt sống ở miền Bắc Việt Nam từ 1964-1972.

Chợt ông sửng sốt, reo lên “My shoes ! My shoes...!” (Giày của tôi! Giày của tôi!). Halyborton mừng quýnh lên, ông nhìn ngó và nhận ra phía trong đôi giày vẫn còn chữ “Haly” do chính tay ông viết. Ông kéo vợ đến xem, cả hai chụm đầu ngó vào tủ kính. Ông chỉ cho vợ xem nét chữ của chính mình trên cổ giày còn rất rõ.

Cách đây 40 năm, khi đó, Halyborton là phi công lái máy bay chiến đấu của Hạm đội 7. Ông tự tay viết tên mình vào cổ giày là để đánh dấu cho khỏi lẫn với giày của các phi công khác. Ông tâm sự: “Tôi đã nhiều lần đến thăm bảo tàng này, ngắm đi ngắm lại những nơi bày mảnh xác máy bay, trang bị phi công mà không tìm được một vật nào của mình. Vậy mà lần này thật tình cờ, may mắn...”. Niềm vui bất ngờ của cựu binh Mỹ khiến cho cả đoàn khách Mỹ xúm xít lại bên tủ kính ngắm nghía đôi giày, họ ồ lên cười sung sướng vì ngạc nhiên.Thấy chuyện lạ, người hướng dẫn khách mời Đại tá, Giám đốc Bảo tàng Lê Mã Lương đến tiếp đoàn. Gặp Đại tá Lê Mã Lương, Halyborton khẩn khoản: “Xin phép ngài, ngài có thể cho mở tủ kính trưng bày, cho tôi được cầm trên tay đôi giày của mình không ạ?”. Mở tủ kính, cựu binh Halyborton mân mê đôi giày...Hồi ức của 40 năm về trước bỗng tràn về …

Halyborton kể: Năm 1964, viện cớ “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, Tổng thống Mỹ quyết định mở cuộc hành quân “Mũi tên xuyên”. Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ chính thức ném bom đánh phá miền Bắc Việt Nam. Lúc đó, Halyborton vừa tròn 23 tuổi, là một trong những phi công trẻ nhất từ Mỹ được đưa đến Hạm đội 7.

Thời kỳ đó, lưới lửa phòng không của miền Bắc Việt Nam ngày càng phát triển và vươn rộng ra các tỉnh, gây nhiều thiệt hại nặng cho hải quân Mỹ ở vùng Đông Bắc và chặn đường ra vào của không quân Mỹ từ Thái Lan sang. Mác Na-ma-ra chủ trương mở những cuộc “trả đũa huỷ diệt ngay tức khắc các bệ phóng”. Không ngờ, chẳng những không cứu vãn được tình thế, không quân Mỹ bị đánh thiệt hại nặng ngay từ trận tập kích đầu tiên vào Suối Hai (Hà Tây, ngày 27/7). Chỉ huy của Halyborton cay cú bèn hạ lệnh đánh luôn trận thứ hai ở Phú Thọ ( ngày 9/8). Một lần nữa quân Mỹ lại thất bại thảm hại. Thấy không quân bị thua đau hai trận liền, viên tư lệnh sư đoàn không quân số 2 yêu cầu hải quân đánh tiếp trận thứ ba ở vùng ỷ Na- Xích Thổ (ngày 13/8). Trận này, có sự tham gia của lực lượng xung kích 77 ( Hạm đội 7), nhưng tiếp tục bị lực lượng phòng không của ta đánh thiệt hại nặng, buộc tổng tham mưu trưởng không quân Mỹ ra lệnh đình chỉ ngay tức khắc việc đánh “trả đũa quá đắt đỏ”.

Trung tuần tháng 10, sau hai tháng nghiên cứu, Lầu năm góc hạ lệnh cho không quân, hải quân Mỹ tiếp tục mở “chiến dịch tiến công chớp nhoáng, diệt các trận địa tên lửa phòng không”. Sớm ngày 17/10/1965, chiếc tàu sân bay US In-đi-pen-đơn No-Phốc tiến dần về phía bắc, sỹ quan, nhân viên kỹ thuật cũng như phi công làm việc hết sức khẩn trương, bận rộn chuẩn bị cho một “phi vụ đặc biệt” trên vùng trời miền Bắc Việt Nam.

Khoảng 8 giờ sáng, một chiếc máy bay trực thăng có bốn máy bay phản lực bảo vệ, hạ cánh xuống hạm In-đê-pen-đơn. Đô đốc Grân Sáp, tư lệnh quân Mỹ ở Thái Bình Dương ngày hôm trước đang kinh lý tại Sài Gòn được bộ tư lệnh sư đoàn không quân số 2 cho biết một chiếc máy bay không người lái điều khiển bằng điện tử đã chụp được ảnh một vị trí tên lửa đất đối không tại vùng Chũ-Bắc Giang của Bắc Việt, bèn vội đến đây. Grân Sáp lệnh cho tướng Mo mở ngay một đợt tiến công với hai mục đích: Cắt đứt đường tiếp vận từ bên ngoài vào miền Bắc Việt Nam; thí điểm cách đánh mới bay thấp, dùng tốp nhỏ, đánh nhanh, rút nhanh, huỷ diệt những bệ phóng tên lửa, trừ mối hiểm hoạ cho các phi công Mỹ khi bay vào đánh phá miền Bắc.

Ngày 17 tháng 10 năm 1965, là ngày đen tối của Hạm đội 7, có rất nhiều máy bay bị bắn rơi trên bầu trời Bắc Việt Nam. “Tôi lái chiếc F-4 từ hướng Bắc bay thẳng vào vùng Kép- Lạng Sơn, chưa kịp tiếp cận mục tiêu, phi công chúng tôi đã vấp phải lưới lửa phòng không tầng thấp, tầng cao dày đặc. Chúng tôi vừa phải tìm đường tránh tên lửa vừa phải tính kế tiếp cận mục tiêu. Nhưng không kịp, một quả tên lửa đã lao trúng vào máy bay của chúng tôi. Máy bay bốc cháy dữ dội, tôi kịp bấm dù còn thiếu tá Olmstead Stanley E cùng bay với tôi đã không kịp…”, Halyborton nhớ lại.

Từ Mỹ sang Việt Nam tham chiến, Halyborton thực hiện được 250 giờ bay, rồi trở thành tù binh chiến tranh của Việt Nam. Một tốp dân quân địa phương đã bắt được ông, sau đó viên phi công Mỹ được đưa về “lưu trú” ở nhà tù Hoả Lò (Hà Nội). Tại đây, Halyborton gặp lại những phi công của hạm đội 7, họ cũng bị bắt cùng ngày với ông như trung uý Gaither, Ralph Ellis, trung uý Knutson, Rodney Allen, trung uý Weeat, David Robert. Kể từ đó, Halyborton sống cùng những phi công khác ở Hoả Lò khoảng gần 8 năm, cho đến ngày 12 tháng 2 năm 1973, họ được Chính phủ Việt Nam trao trả cho phía Mỹ tại sân bay Gia Lâm. “Chúng tôi trở về Mỹ bằng bộ quần áo blu dông, trên tay xách chiếc xắc du lịch đựng đồ tư trang do Chính phủ Việt Nam trang bị. Rất nhiều phi công trong số chúng tôi mang theo chiếc điếu hút thuốc lào, quạt nan sử dụng khi sống ở Hoả Lò - Hà Nội làm kỷ niệm”, Halyborton nói. Về Mỹ, ông nghỉ hưu với quân hàm trung tá

Và những chuyện thú vị

Vợ ông, bà Martna HalyBurton suốt từ khi nhìn thấy đôi giày của chồng cứ tủm tỉm cười. Bà bảo “Tôi không biết nhiều về cuộc chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam. Nhưng chính chồng tôi đã khiến tôi gắn bó với người dân Việt Nam”. Từ năm 2004, Martna đã sang Việt Nam dạy ở trường trẻ mồ côi Hoa Sữa 2 tháng. Bà từng đến Bắc Hà (Lào Cai) để mua lợn tặng cho các gia đình nghèo ở đây. Bà cũng đã đi thăm trại trẻ mồ côi ở Hội An, làng Hy Vọng ở Đà Nẵng, tặng tiền học bổng cho học sinh nghèo ở Huế. “ấn tượng lớn nhất về cuộc chiến của người Mỹ tại Việt Nam chính là những đứa trẻ Việt Nam bị ảnh hưởng của chất độc da cam mà tôi từng gặp. Chiến tranh thật là độc ác...”, bà tâm sự.

Rút chiếc khăn tay chấm những giọt nước mắt lăn trên gò má của Martna, Halyborton rầu rầu nói: “Tôi đến Việt Nam lần này cũng có thể là lần cuối cùng...”. Hỏi vì sao? “Tôi đang mắc một chứng bệnh hiểm nghèo...! Đối với tôi lần này thật là một kỷ niệm khó quên. Đến đây, tôi được tham quan bảo tàng, được xem những hiện vật của cuộc chiến tranh Việt Nam. Xin cám ơn bảo tàng đã cho phép tôi và vợ tôi, các bạn của tôi được xem đôi giày bay trưng bày ở dưới chân chiếc xe tăng T-54. Tôi rất vui được gặp Giám đốc Lê Mã Lương, được Giám đốc và cán bộ bảo tàng tiếp tôi với thái độ cởi mở, thân thiện...”.

Các du khách – CCB Mỹ chụp ảnh lưu niệm với cán bộ Viện Bảo tàng LSQSVN

Nhưng điều thú vị nhất đối với Halyborton Porter Alex là lần trở về với quá khứ này, ông biết thêm một điều: Những “con ma” của hạm đội 7 bị hạ, trong đó có ông là do những quả tên lửa của Trung đoàn 238. Dưới sự chỉ huy của Tham mưu phó trung đoàn Nguyễn Sinh Huy, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 82 tên lửa Bùi Danh Châu, kíp trắc thủ Kiều Minh Tích, Nguyễn văn Tuân, Nguyễn Đức Từu...

Tổng thống Thiệu cướp ngân khố quốc gia

Trước sự tiến quân mạnh mẽ của quân đội Bắc Việt, Tổng thống Pháp lúc đó là Valery Giscard d’Estaing tỏ ra quá sốt ruột đã trực tiếp điện thoại cho Tổng thống Chính quyền Sài Gòn Nguyễn Văn Thiệu để thúc giục “hòa hợp dân tộc”.

Tổng thống Valery Giscard d’Estaing không ngờ sự phản ứng của Thiệu lại hoàn toàn trái với sự chờ đợi và mong muốn của Pháp. Thiệu chẳng những không khuất phục trước sức ép từ phía Paris mà còn phản đối quyết liệt, ra lệnh ngừng mọi tiếp xúc của Chính quyền Sài Gòn với Pháp cho đến khi nào ông Valery Giscard d’Estaing rút lại lời nói của mình. Tình thế này hoàn toàn bất lợi cho Đại sứ Jean Marie Merillon vì không vào được Dinh Tổng thống thì làm sao mà thuyết phục được Thiệu từ chức để thành lập một chính quyền phi cộng sản ở Nam Việt Nam?

Để giành lại thế chủ động, Đại sứ Merillon áp dụng một chiến thuật mới nhưng ít hy vọng. Thông qua những người bạn Việt Nam và các mối quan hệ khác, Đại sứ Pháp loan truyền một tin thất thiệt rằng do sự chậm trễ của Thiệu, Hà Nội đã hết kiên nhẫn và quyết định tấn công thẳng vào Sài Gòn. Tin thất thiệt này nào ngờ lại gây nên sự hoảng loạn thực sự đối với Đại sứ quán Mỹ và Bộ chỉ huy tối cao quân đội Sài Gòn. Sau đó, Đại sứ Merillon thừa nhận với các sĩ quan CIA rằng chính ông đã bịa ra rồi gieo rắc cái tin thất thiệt nói trên. Mặc dù vậy, trò dại dột này vẫn để lại một hậu quả vô cùng tai hại. Mỗi khi có tin báo cho ĐSQ Mỹ về kế hoạch tấn công vào Sài Gòn của quân đội Bắc Việt, các chuyên gia xử lý tin lại lắc đầu nói rằng: “Chẳng qua lại chỉ là việc Pháp tung tin để dọa Thiệu ép ông ta từ chức thôi mà”.

Tình hình ở Campuchia xấu đi nhanh chóng. Đại sứ quán Mỹ nhận được điện từ Washington yêu cầu thực hiện một chương trình sơ tán đặc biệt dành cho một số người Mỹ và Việt Nam ra khỏi Sài Gòn cùng với các tài liệu quan trọng. Đại sứ Martin chỉ thị việc này phải giữ tuyệt đối bí mật để tránh gây ra tâm lý hoảng loạn. Những đối tượng được lựa chọn chở bằng máy bay ra nước ngoài trước hết gồm những người có quan hệ thân thiết với Mỹ, đặc biệt là những người trong số đó nhưng lại không có giấy xuất cảnh do Chính quyền Sài Gòn cấp hoặc nếu xuất cảnh công khai có thể gây tác động xấu đến tinh thần dân chúng.

Chuyến máy bay đầu tiên rời Sài Gòn đi Thái Lan theo chương trình này bí mật nói trên chở 143 hành khách đặc biệt hầu hết là phụ nữ và trẻ em cùng với các nhân viên kỹ thuật do CIA đào tạo làm việc trong Bộ Quốc phòng của Thiệu. Ngoài ra một chiếc máy bay vận tải quân sự C–141 chở đầy tài liệu đã bí mật bay ra nước ngoài. Tưởng chương trình sơ tán sớm của Mỹ được giữ kín tuyệt đối, nào ngờ trong một bữa tiệc do vợ chồng cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm tổ chức ở nhà riêng tối 17/4, sau khi đã dùng đến món thứ 5 bà chủ nhà cổ đeo đầy đồ trang sức bỗng ôm mặt khóc nức nở. Tướng CIA Charles Timmes chưa kịp hiểu đầu đuôi ra sao thì bà Khiêm đã nói toáng lên rằng Mỹ đang bí mật di tản người của mình ra khỏi Sài Gòn. Bà xin phía Mỹ cho phép bản thân và gia đình bà cũng được di tản ngay. Trần Thiện Khiêm lúc đến bên Timmes nói rằng ít có khả năng Thiệu tự nguyện từ chức. Trong khi đó lại không có bằng chứng rõ ràng nào về việc Hà Nội thuận lòng thương lượng với tướng Dương Văn Minh. Còn tướng Kỳ thì lại đang dọa sẽ tổ chức một cuộc đảo chính lật đổ Thiệu. Vì thế, Khiêm hy vọng rằng khi tình huống xấu cần phải di tản xảy ra thì tướng Charles Timmes đừng quên “những người bạn” Việt Nam của mình.

Các tin thất bại từ chiến trường dồn dập báo về khiến Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đã bắt đầu cảm nhận thấy sự sụp đổ của Chính quyền Sài Gòn là khó tránh khỏi. Rạng sáng 18/4, lực lượng đặc công quân đội Bắc Việt đã tấn công trạm radar Phú Lâm ở ngoại ô Sài Gòn. Điều này chứng tỏ chiến tranh đã lan đến tận cửa ngõ thành phố. Chừng một giờ sau, tướng Nguyễn Văn Toàn chỉ huy quân khu 3 bay từ Biên Hòa vào để nói với Thiệu rằng trên thực tế quân đội Sài Gòn đã thua trận. Biên Hòa không thể giữ được quá 3 ngày nữa. Toàn cũng khẳng định rằng Phan Rang đã thất thủ và tướng Nguyễn Vĩnh Nghi đã bị quân giải phóng bắt. Một số binh lính quân đội Sài Gòn bại trận trong cơn tức giận và tuyệt vọng đã dùng xe ủi phá cả phần mộ tổ tiên Tổng thống Thiệu ở ngoại ô Phan Rang.

Cũng trong buổi sáng hôm đó, một nhóm người tự xưng là phe ôn hòa và đối lập liên hệ được với Tổng thống, cảnh báo rằng thời gian dành cho Thiệu đã hết. Những người này yêu cầu Thiệu từ chức trong vòng 6 ngày, nếu không sẽ phải trả giá đắt. Ngay sau đó, Thiệu ra lệnh bắt giam một số tướng lĩnh quân sự những người mà theo ông ta là phải chịu trách nhiệm cho sự thất bại của quân đội Sài Gòn vài tuần qua. Tướng Phạm Văn Phú đang bị ốm trong tình trạng gần hôn mê tại trung tâm chữa lao ở ngoại ô Sài Gòn cũng bị bắt tống giam. Tướng Ngô Quang Trưởng tuy chưa bị bắt nhưng bị coi là kẻ đồng phạm với Phú dẫn đến thất bại thảm hại. Sau này khi tướng CIA Timmes tới gặp Trưởng tại một quân y viện, vị tư lệnh quân khu 1 ôm mặt khóc nức nở đổ lỗi cho Thiệu đã thay đổi kế hoạch hành quân luôn xoành xoạch dẫn đến việc mất quân khu 1.

Ngay từ đầu tháng 4, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã linh cảm thấy điều chẳng lành sắp đến với mình. Sức ép từ nguy cơ bị đảo chính và sự tiến quân mạnh mẽ của quân đội Bắc Việt ngày càng tăng,Thiệu bắt đầu nghĩ tới việc tẩu tán tài sản của gia đình và biển thủ ngân khố quốc gia. Ngày 2 và 3/4, Thiệu chuyển phần lớn tiền, vàng, đồ dùng quí hiếm của gia đình sang Đài Loan và Canada. Nhưng còn 16 tấn vàng tương đương 220 triệu USD là phần lớn ngân khố quốc gia Chính quyền Sài Gòn thì vẫn chưa được “xuất cảnh”. Lúc đầu Thiệu định chuyển toàn bộ số vàng nói trên vào Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank of International Settlements) có trụ sở tại Basel (Thụy Sĩ) để sử dụng riêng. Tại ngân hàng này, Chính quyền Sài Gòn đã gửi số vàng lớn tương đương 5 triệu USD. Thiệu nói với cấp dưới của mình rằng đó là số vàng ký quĩ đối với các khoản vay để mua sắm thiết bị cho quân đội. Tuy nhiên, vài ngày trước khi việc giao dịch ngân hàng của vụ cướp ngân khố quốc gia này được hoàn tất, CIA trong ĐSQ Mỹ biết được ý đồ của Thiệu. Một nhân viên của Đại sứ Martin đã cố tình cung cấp thông tin về sự vụ ra cho báo chí. Khi dư luận rộ lên, Thiệu đành phải hủy kế hoạch ban đầu của mình đối với 16 tấn vàng. Các máy bay mà Thiệu đã đàm phán thuê chở số vàng nói trên ra nước ngoài đành phải hủy vì sợ dư luận. Đúng lúc đó, Đại sứ Mỹ Graham Martin quyết định vào cuộc. Ông Martin tìm đến Thiệu và gợi ý rằng thay vì chuyển số vàng nói trên sang Thụy Sĩ thì Tổng thống Thiệu hãy chuyển sang New York để gửi vào nhà băng Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve Bank of New York). Trong lúc bối rối, Thiệu đồng ý ngay gợi ý của Martin. Ngày 16/4, ĐSQ Mỹ tại Sài Gòn điện cho Washington đề nghị cho một chuyến bay quân sự đặc biệt sang Sài Gòn để chở 16 tấn vàng nói trên về New York.

Tổng thống Thiệu không phải là người duy nhất trong Chính quyền Sài Gòn tẩu tán sớm tài sản ra nước ngoài. Cùng trong ngày 16/4, cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm cũng đã chở gần như toàn bộ tài sản quí hiếm của gia đình ra nước ngoài. Còn Đại sứ của Chính quyền Sài Gòn tại Washington thì sau khi nghe tin Đà Nẵng thất thủ đã bảo vợ mình đi tìm mua nhà để cư trú lâu dài tại bang Maryland.

(Theo báo Tiền Phong và Hà Nội Mới)

Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2008

55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ Alan Dawson Chương Cuối

Chương 13: Cám ơn

Darwin Judge và William McMahon đã gia nhập binh chủng thuỷ quân lục chiến, gần như cùng một lúc. Họ là loại "con trai" mà đám thuỷ quân lục chiến vũ phu muốn biến thành người lớn. Là VĐV, đã tốt nghiệp trung học, hai anh chàng này đã ra sức luyện tập tại trại tân binh ở đảo Parris. Các tay trung sĩ dữ tợn của thuỷ quân lục chiến muốn có nhiều hơn nữa những tân binh như hai anh chàng này.

Hai người đã cùng sống với nhau gần 4 năm nghĩa vụ ở thuỷ quân lục chiến tự khoác cho mình danh hiệu binh chủng dữ tợn nhất của Mỹ. Họ còn tiếc lỡ mất dịp chiến đấu tại Việt Nam. Ừ thì bây giờ hai người ở Việt Nam rồi đấy. Họ là một phần của lực lượng an ninh sứ quán Hoa kỳ mới được bổ sung. Nhiệm vị duy nhất của lực lượng này là bảo vệ cuộc di tản người Mỹ chống những kẻ phá đám.

Trong 10 ngày qua, Judge, McMahon và một lực lượng an ninh nhỏ đã bao vòng quanh lầu Năm góc phương Đông tại Tân Sơn Nhất. Theo họ, phần xử trí gay nhất không phải là hàng ngàn người đang chuẩn bị rời khỏi Việt Nam mà là việc xử trí với những chiếc xe khốn nạn. Dân chúng lái xe nhà vào sân bay rồi vứt tại chỗ. Judge và McMahon cố gắng dọn quang lối cho xe vào địa điểm di tản.

Hai người trực đêm vào ngày 28-4. Họ chẳng biết gì mấy về chuyện gì đang xảy ra tại xung quanh SG vì những điện đài dã chiến mang theo chỉ bắt tần số của Mỹ. Nó chẳng nói mấy về tin tức bên ngoài thủ đô. Họ không biết được là Biên Hoà đã sụp đổ. Họ chẳng ngờ cái trò chính trị trong cuộc chiến tranh Việt Nam lại sắp sửa kết thúc cuộc đời họ.

Biên Hoà sụp đổ khoảng nửa đêm không làm mấy ai ngạc nhiên. Cái căn cứ ấy trở thành ốc đảo, bị bao vây tứ phía và thậm chí bị cắt khỏi SG, một sự kiện vốn hiếm khi xảy ra. Khoảng 4 sư đoàn Bắc Việt Nam đã pháo kích dữ dội và tràn ngập căn cứ khi trời sập tối. Sự việc chỉ cộc cằn và giản đơn thế thôi. Một lực lượng nhỏ gồm xe tăng và bộ binh ở Biên Hoà rút chạy về hướng SG nhưng họ phải vượt qua ruộng đồng vì các con đường đã bị chặn hết.

Hai sư đoàn khác tấn công Vũng Tàu, cái hải cảng duy nhất còn trong tay SG. Một kế hoạch phòng hờ bất trắc đã dự tính cuộc di tản của Mỹ qua Vũng Tàu bằng đường biển. Hạm đội Mỹ phục vụ di tản bỏ neo ngoài khơi Vũng Tàu. Nhưng trước cuộc tấn công của Cộng Sản, thị xã sụp đổ cũng chỉ còn là vấn đề thời gian, có lẽ vài giờ thôi. Do đó kế hoạch phòng hờ bất trắc kia cũng tuyệt vọng.

Một cuộc pháo kích khác bằng hoả tiễn xuống Tân Sơn Nhất. Cuộc ném bom là dấu hiệu tấn công. Cuộc pháo kích này đã đánh dấu phút mở màn cho cuộc xung phong cuối cùng của số quân Bắc Việt Nam lớn nhất chưa bao giờ có ở một điểm lại tập trung lớn như thế. Bắc Việt Nam có tất cả 24 sư đoàn. Ba trong số ấy nằm lại miền Bắc. 21 sư đoàn kia đang ở xung quanh SG, sẵn sàng tấn công thành phố. Còn SG thì lực lượng thực tế có độ 1 sư đoàn.

Tại phía Bắc SG, nơi các pháo thủ chờ lệnh từ hai ngày qua, những khẩu đại bác quay mũi từ hướng trung tâm SG, nhích sang phía Tây. Lúc 4 giờ 10 phút sáng các khẩu đại bác ấy và có lẽ 50 khẩu khác cùng loại đã mở cuộc pháo kích vào Tân Sơn Nhất. Judge và McMahon đã ngã xuống trong vòng 10 phút đầu của cuộc pháo kích. Judge bị quả đạn pháo trúng ngay mình. Ở cách đó 8m, McMahon cũng chết ngay tức khắc tuy rằng thi thể anh ta không tan nát như người bạn. Quả đạn giết chết hai lính thuỷ đánh bộ là một trong vài ba quả lệch mục tiêu. Nhìn chung, Cộng Sản không can thiệp vào cuộc di tản.

Lúc 6 giờ 30 sáng, Sài Gòn đã thức giấc bởi tiếng gầm thét của đại bác bắn vào Tân Sơn Nhất, Martin đã triệu tập cuộc họp của hội đồng sứ quán. Theo lời những người dự phiên họp ấy, rõ ràng là viên đại sứ đã trở nên bàng hoàng. Polgar (giám đốc phân cục CIA) và tướng Smith nói thẳng thừng với Martin: Cuộc di tản cuối cùng phải được ra lệnh ngay lập tức. tsm bị tấn công có nghhĩa là sân bay đóng cửa. Chẳng ai đoán được bao giờ nó sẽ mở cửa lại. Do đó phải di tản bằng trực thăng càng nhanh càng tốt. Rồi thì cái cây lớn sau nhà sư đoàn phải bị hạ xuống để khỏi cản trở trực thăng.

Martin giận dữ trước sự thách thức ấy. Trước đây, máy bay đã từng đi qua những trận pháo kích. Tình hình chẳng đến nỗi nghiêm trọng. Cuộc di tản bằng phi cơ có cánh cố định vẫn tiếp tục. Để không quân có thể quyết định lúc hạ cánh. Chẳng có lý do gì để hoảng loạn, cũng chẳng có lý do nào để nghĩ đến chuyện di tản bằng trực thăng. Cái cây sẽ không bị hạ xuống. Đốn nó có nghĩa là tự ràng buộc mình vào cuộc di tản cuối cùng. Martin nói ông ta chưa sẵn sàng làm như vậy, nó không cần thiết.

Polgar và Smith bèn nổi nóng. Nói qua hai hàm nghiến chặt vào chỉ vừa đủ để giữ bình tĩnh, họ tìm cách báo cho Martin biết sự thật. Hai lính thuỷ đánh bộ Mỹ chết là chuyện hoạ hoằn-Hàng nghìn người đang ngẹt thở vì Tân Sơn Nhất bị pháo kích. Máy bay chẳng có cách nào hạ cánh. Khu nhà hàng không Mỹ ở đối diện ngay bên đường đi qua lgn Phương Đông đã trở thành đống gạch vụn sau cuộc pháo kích. Mấy chiếc máy bay thường và trực thăng ở đó tiêu tan rồi. Không quân Sài Gòn tan nát vì cuộc pháo kích.

Trùm CIA tóm gọn cảm nghĩ của hầu hết mọi người trong phòng họp: Martin đang mang ảo tưởng. Tình hình đang rất nghiêm trọng. Sài Gòn hoàn toàn bị bao vây rồi. Căn cứ duy nhất còn trong tay chính quyền Sài Gòn là Tân Sơn Nhất. Cuộc xung phong cuối cùng vào chính thành phố có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Ý kiến Martin khăng khăng đòi di tản bằng máy bay có cánh cố định là sai. Nó sẽ phải trả giá bằng sinh mạng. Cuối cùng Polgar nói, nếu Martin không tin ở những người khác nói thì ông ta nên đến Tân Sơn Nhất mà nhìn tận mắt.

Martin chồm lên tức tối. Được-ông ta nói-đấy là điều chính ông ta sẽ làm. Polgar và Smith còn hầm hầm tức giận. Jacobsen khuyên Martin đừng đi Tân Sơn Nhất. Martin cho biết ông ta sẽ đi và ra lệnh ngay lập tức. Jacobsen tuy bênh vực Martin nhưng cũng thấy chỉ bằng cách tận mắt nhìn thấy sự tàn phá tại Tân Sơn Nhất thì đại sứ mới chịu đổi ý nghĩa. An ninh cho Martin được bố trí. Một xe chở đầy lính thuỷ quân lục chiến, và dăm ba lính khác cùng ngồi xe với Martin để bảo vệ.

Smith đi theo Martin vì Tân Sơn Nhất nằm dưới quyền chỉ huy của ông ta.

Khi xe của Martin rời khỏi sứ quán đi về hướng sân bay thì trùm CIA trưng dụng vài lính gác thuỷ quân lục chiến nổ máy cưa và hạ cái cây xuống.

Jacobsen theo dõi qua điện đài từng phút một chuyến đi của Martin đến Tân Sơn Nhất. Ngeh ba bốn điện đài cùng một lúc, ông ta theo dõi tin tức về các đám nổi loạn, pháo kích và những nơi dàn quân của Sài Gòn. Vào lúc ấy, quân đội Sài Gòn là mối nguy hiểm lớn nhất. Đa số quân lính đắng cay trước sự thật hiển nhiên là cuộc rút lui và việc cắt đứt viện trợ của Hoa Kỳ. Đang có tin đồn là các tướng lĩnh Sài Gòn sẽ tìm cách ngăn chặn người Mỹ di tản.

Chuyến đi Tân Sơn Nhất diễn ra trơn tru. Xe của Martin lách qua các đống đổ nát đi vào sân bay. Viên đại sứ không nói một lời. Những người đi theo cho biết thái độ đại sứ ỉu xìu. Rõ ràng là bị bàng hoàng trước sự tàn phá, nguy cơ và khói lửa, Martin dường như không tin vào cả mắt mình. Chiếc xe vòng lại rồi trở về sứ quán lúc 10 giờ.

---------------------------

Sơ đồ Đại sứ quán Mỹ tại SG và đội hình đoàn xe của Martin ra thăm TSN :

 

 

Sau chuyến đi Tân Sơn Nhất, Martin trông như một người mất hồn. Cô thư ký của ông ta muốn rơi nước mắt. Ông ta ít nói, đi thẳng vào văn phòng. Trong vòng nửa giờ, ông ta gọi hầu hết những thành viên trong hội đồng sứ quán lại và ra lệnh tiến hành kế hoạch di tản sau cùng. Vâng, trực thăng phải được sử dụng. Không chắc gì máy bay có cánh cố định hạ xuống được Tân Sơn Nhất. Mọi người nên biết phần việc của mình và nên thi hành. Martin không đề cập gì đến cái cây nếu quả tình là còn nghĩ tới nó.

Tướng Smith cảm thấy nhẹ nhõm đã nhận lệnh qua điện thoại về việc di tản và chuyển nó đi Honolulu theo hệ thống quân đội. Từ đó nó trở về các tàu Mỹ ở ngoài khơi Vũng Tàu. Martin và Polgar thì đánh những bức điện hoả tốc của mình về Bộ ngoại giao và sở chỉ huy CIA. Các viên chức sứ quán lại bắt đầu gọi điện thoại đến các trụ sở, cư xá, tư gia, khách sạn mà họ đã gọi liền 4 giờ trước đó mới hết để báo cho biết sự chuẩn bị trước hạ màn. ”Lần này không có chuyện thực tập đâu”. Họ nói như vậy. Cuộc “kéo mạnh” bắt đầu đấy. Mọi người, nhắc lại nhé, mọi người nên đến trình diện ở địa điểm di tản mà họ được chỉ định.

Trên giấy tờ, nó có vẻ là cuộc di tản liều lĩnh. Nhiều người cho rằng nó lạc quan. Lẽ tất nhiên, rốt cuộc nó đã trở thành cơn ác mộng. Thất bại không phải hoàn toàn vì yếu tố con người tuy có sai lầm nghiêm trọng trong việc làm kế hoạch.

Thứ nhất là vấn đề xe buýt. Mấy ai đã từng lái xe buýt mà cuối cùng cũng phải đi các ngõ hẻm để nhặt từng người. Thứ nhì, ít nhất phải có 25 trực thăng Hu-ây (UH-1) để làm việc cứu người mắc kẹt trên mái nhà. Khi có lệnh, phần lớn phi công đã về nhà. Một nửa số trực thăng bị phá huỷ trong cuộc pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất. Số lớn còn lại phải đi đồng bằng sông Cửu Long nhặt người mà lãnh sự quán Mỹ bỏ lại. Thứ ba là thiếu hợp đồng giữa dân sự và giới quân sự. Ai cũng tưởng bay một chuyến thì xong, nhưng hầu hết đã bay đến lúc kiệt sức. Hơn hết là sự trễ nải của Martin đã đè nặng lên bước “kéo mạnh” sau cùng.

Lúc này, lệnh giới nghiêm 24/24 không còn có hiệu lực và chẳng còn lực lượng an ninh để thúc đẩy thực hiện nó. Có khoảng 100 nghìn linh hồn hoảng loạn, lang thang trên đường phố, theo dõi dấu hiệu cuộc di tản. Họ đã nắm giấy phép mà không đi được. Thế thì tướng Smith đâu, lính mũ nồi xanh đâu? Câu hỏi đến nay chưa được giải đáp. Khoảng 2 giờ chiều lính Sài Gòn không chịu cho xe buýt vào Tân Sơn Nhất nữa bằng cách huơ súng qua lại như đám hung thần trong phim cao bồi. Chỉ có một cổng vào bị một tá lính Sài Gòn giữ chặt. Đáng lẽ lính mũ nồi xanh hay thuỷ quân lục chiến chiếm lấy nó. Sự thất bại trong việc mở cổng dẫn tới sự hoảng loạn cuối cùng ở sứ quán sau này.

Smith muốn bắt đầu di tản lúc giữa trưa. Vì lý do không hiểu nổi, Martin lại ra lệnh hoãn một tiếng đồng hồ. Đang lúc chiếc trực thăng sẵn sàng bay chuyến đầu tiên vào Sài Gòn thì một giọng nói trên đài chỉ huy ra lệnh phi công tắt máy và đợi một giờ nữa. Chẳng biết được ai ra lệnh ấy?

Thuỷ quân lục chiến ở trụ sở DAO phần lớn chưa qua thử thách chiến trường, tất cả đều run sợ trước cái chết của Judge và Mc Mahon và đều mỏi mệt. Hầu hết là một lũ anh hùng rơm. Cộng sản đã giảm pháo kích Tân Sơn Nhất nhưng thỉnh thoảng vẫn có quả đạn rơi xuống, do đó càng gây thêm khiếp đảm.

Sự hoảng loạn bắt đầu khoảng 3 giờ chiều, khi các trực thăng xuất hiện từ hướng Đông. Chúng bay thấp trên bầu trời Sài Gòn. Các đám đông bắt đầu tụ lại ở sứ quán Mỹ. Một trung đội lính thuỷ quân lục chiến mới toanh được trực thăng vận tải từ hạm đội 7 vào giúp việc kiểm soát đám đông. Họ cũng khiếp đảm trước tình hình như vậy. Tại Tân Sơn Nhất, lính gác đang bắn cảnh cáo các xe buýt trở đầy người Mỹ. Các xe phải quay lui vì không ai hiểu liệu lính Sài Gòn có dám thực sự bắn vào xe Mỹ không, nhưng chẳng ai muốn thử làm gì. Cảng Sài Gòn là điểm di tản và cũng như một nhà thương điên.

Nguyễn Cao Kỳ rời khỏi Tân Sơn Nhất trong cuộc di tản bằng trực thăng riêng hóa ra lại đến hạm đội 7 trước cả người Mỹ di tản. Một sĩ quan Mỹ cũng gọi điện thoại báo cho trùm buôn thuốc phiện lậu và là phụ tá quân sự của Thiệu là Đặng Văn Quang rằng, giai đoạn “kéo mạnh” đã bắt đầu. Xoè chứng minh thư ra, Quang đã vào được cổng sau sứ quán, trơ trẽn và vẫn cười hinh hích được. Kẻ thay thế Cao Văn Viên là Vĩnh Lộc đã được đặt lên một trực thăng di tản. Tám, bạn thân mà Martin quan tâm trong việc gói ghém vật dụng trong nhà hom trước cũng leo lên trực thăng. Tướng 3 sao Đồng Văn Khuyên cũng đi mất. Thế là gần hết đám tai to mặt lớn trong bộ máy chỉ huy quân đội Sài Gòn đã lỉnh mất.

Tấn thảm kịch và trò lừa đảo trong cuộc di tản khỏi Sài Gòn sẽ còn được kể nhiều năm nữa. Tuy nhiên, hình như chẳng mấy ai rút ra bài học gì đó ngoài một nhóm nhỏ viên chức Hoa Kỳ.

Một seri hình ảnh về cuộc tháo chạy :

 

 

 

Những lời tiên đoán rằng sứ quán Mỹ sẽ trở thành cảnh tượng chính cho sự hoảng loạn giờ đây thành hiện thực. Không chiếm lĩnh cổng Tân Sơn Nhất, hậu quả là các người Mỹ di tản ngày cuối cùng phải tìm đến sứ quán. Không thực hiện được giới nghiêm 24/24 thì hậu quả là một đám người Nam Việt Nam cuồng nộ ập đến, tràn ngập cả sứ quán. Không tuyển chọn được một lực lượng an ninh có nghĩa là sẽ xảy ra những giờ phút căng thẳng giữa đám đông bên ngoài với thuỷ quân lục chiến bên trong.

Vẫn có những trường hợp đặc biệt, không hề bận tâm gì đến cuộc di tản. Cách Tân Sơn Nhất hai dặm trong một ngõ hẻm, Mike Mielke, một người Mỹ, bình thản nhìn theo những chiếc trực thăng bay qua nhà anh ta ra biển Đông. Mielke đang đứng trong sân trước căn nhà kiểu vla kín cổng cao tường, tiếp tục sơn một cái chuồng chó. Qua điện đài kiểu PRC.25, anh ta lắng nghe sự hoảng loạn lớn dần trong đám người Mỹ tham dự di tản. Trước đây, anh ta là trung sĩ trong lực lượng đặc biệt, làm cố vấn nghĩa quân. Thế nhưng anh ta muốn ở lại cùng với người vợ Việt lai Mỹ tên là Mistry và đứa con gái 2 tuổi tên là Madeleine quen gọi tắt là Linny. Họ đã từ chối vô số lời đề nghị giúp đỡ họ di tản. Melke đang nhấp ly rượu rum pha nước ngọt côla khi cuộc di tản bắt đầu. Trên mái nhà anh ta đã đặt hai tấm ván ép màu da cam thành hình chữ X. Đối với phi công trực thăng, nó có nghĩa là anh ta không muốn ra đi. Vợ anh ta, Mistry (tên Mỹ dịch từ tên tiếng Việt là Sương) không muốn anh ta ra đi. Khi những chiếc trực thăng bay ngang bên cạnh vila của Mielke thì anh ta đã xua tay khinh miệt: “Thôi… Cám ơn! Từ biệt chúng mày, đồ cục cứ ****!”.

Martin liên lạc với Kissinger ở Washington van nài cho cuộc di tản tiếp tục, Kissinger tỏ vẻ khó chịu nói rằng tổng thống muốn loan báo cuộc di tản đã kết thúc. Martin ngỏ ý xin ở lại để giúp Minh lớn và Nam Việt Nam. “Nào Graham-Kissinger nói-chúng ta muốn tất cả trở về thôi”, Kissinger đã ra lệnh buộc Martin phải ra đi.

Tại sứ quán Hoa Kỳ, không ai tin rằng cuộc di tản thế là đã kết thúc. Đám đông người vẫn đông nghẹt cả ở bên trong lẫn bên ngoài. Giữa bóng đêm, không ai nhận thấy đám thuỷ quân lục chiến đã rút vào trong. 4 giờ sáng, đám đông lại nghe thấy tiếng trực thăng bay trở lại. Nó hạ cánh xuống nóc nhà sứ quán. Vài người chạy tới, leo lên máy bay. Ngồi trên trực thăng có Graham Martin. Chưa ai nghĩ đó là chiếc trực thăng di tản cuối cùng. Trời hửng sáng, lại thêm vài chiếc nữa đến bốc nốt đám lính thuỷ quân lục chiến của họ ở Việt Nam.

Tại một khu phố trung tâm Sài Gòn, khi biết tin G.Martin đã ra đi, một nhà báo đã lẩm bẩm rằng “liệu có ai đó nhớ vặn tắt ngọn đèn ở cuối đường hầm chưa nhỉ”. Đến ngày 3-5, Cộng Sản tuyên bố nắm gọn chủ quyền toàn cõi Việt Nam, kể cả các đảo ngoài khơi. Năm 1954, 16 nghìn lính Pháp, lê dương và Việt Nam đã cầm cự với quân đội Bắc Việt Nam 55 ngày đêm ở Điện Biên Phủ rồi thì đầu hàng. 21 năm sau, Bắc Việt Nam đã tràn ngập toàn cõi Nam Việt Nam, đánh bại một đội quân Sài Gòn tất cả là 1 triệu người. Cũng như Điện Biên Phủ, trận đánh này cũng mất 55 ngày đêm cả thảy.

------------------

Lời kết thúc

Sài Gòn không trở thành thành phố Hồ Chí Minh qua một đêm được. Nhưng rõ ràng là những ngày xưa cũ hết rồi. Đường lối chính sách chung được phổ biến rộng rãi và một tờ nhật báo bằng hai thứ tiếng (Việt Nam và Trung Hoa) đã có mặt trên đường phố sau một tuần. Điều hiển nhiên là sau khi cuộc chiến tranh chấm dứt, không có chuyện tắm máu.

Minh lớn và Trần Văn Hương được phép ở lại nhà. Với những người khác, nó là vấn đề cải tạo. Dinh Độc Lập thành “di tích chế độ tư bản”. Sứ quán Mỹ thành một viện bảo tàng. Nhà của viên sĩ quan phụ trách tổng hành dinh Hoa Kỳ, Steven Bray biến thành nơi trưng bày “tội ác chiến tranh của Hoa Kỳ”. Nhà nghỉ mát của Thiệu cạnh bờ sông thành câu lạc bộ công nhân.

Còn một câu chuyện cuối cùng đầy ý nghĩa, liên quan đến binh nhì Đức, người lính thuỷ quân lục chiến Sài Gòn. Mặc dù ngay từ đầu, cuốn sách này đã xác định Đức là nhân vật tổng hợp của mấy thuỷ quân lục chiến, nhưng con người Đức thực sự đã đến với tôi vào tháng 8-1975, khi một trong số nhân viên của UPI bị giữ một tuần lễ. Trong nhà giam, anh ta gặp người lính thuỷ quân lục chiến mà tôi gọi là Đức, nghe kể lại câu chuyện khó tin lúc bấy giờ về cách thức đối xử của Cộng Sản với tù nhân. Không có cách nào liên lạc với Đức để biết đoạn kết thúc. Nhưng với tính cách là một điển hình minh họa cách đối xử của Cộng Sản Việt Nam năm 1975 đối với kẻ thù xưa, thì chuyện này thuộc loại có một không hai.

Trong những ngày cầm súng trong quân đội Sài Gòn, binh nhì Đức đã giết 13 chiến sĩ Cộng Sản, cho đến khi anh ta bị bắt sau ngày “giải phóng”. Đức được đưa đến trung tâm tạm giam chính tại thành phố Biên Hoà cách Sài Gòn 14 dặm về phía Đông Bắc. Trong thâm tâm Đức cảm thấy nhẹ nhõm. Sự tồn tại ngày lại ngày anh ta trải qua từ sau cuộc rút lui khỏi Quảng Trị giờ đây đã đến lúc chấm dứt rồi. Đức cảm thấy đau xót cho gia đình mình, nghĩ rằng mình sẽ bị hành quyết, nhưng anh ta chấp nhận khổ đau không còn sợ chết nữa.

Anh ta nói hết những gì mình đã làm cho các viên chức tại Biên Hoà nghe và phải mất gần trọn một ngày để liệt kê lại những sự kiện “tội ác” đó, thỉnh thoảng chỉ ngập ngừng chút ít trước câu hỏi của người trung tá hỏi cung anh ta.

Nhiều khi Đức ngạc nhiên thấy mình bị nhốt vào một phòng biệt giam tại khám. Phòng thì nóng và thiếu nước. Không có chuyện giặt giũ. Linh gác cũng như tù nhân đều được cung cấp nước uống theo tiêu chuẩn. Ngoài cái đó ra thì mọi việc khác đều có thể chịu đựng được. Đức chuẩn bị tinh thần đón nhận sự hành quyết. Cuộc chiến đấu giờ đây đã tiêu tan trong lòng anh ta và chỉ mong cái chết đến càng nhanh càng tốt.

Vào khoảng giữa buổi sáng ngày hôm sau, Đức được hộ tống đến văn phòng có cái quạt trần vặn tắt rồi. Anh ta cảm thấy và biết rằng bản án sắp sửa được đọc. Quả đúng như thế, mặc dù nó không phải là cái mà Đức mong đợi. Người trung tá bắt đầu giảng giải cho anh khoảng một tiếng đồng hồ. Đại ý như thế này:

Chính quyền cách mạng căm ghét những gì Đức đã làm, nhưng hiểu tại sao anh ta lại làm như thế. Người lính thuỷ quân lục chiến cũ này đã được người Mỹ và phe Sài Gòn huấn luyện để làm việc đó mà đó là việc Đức phải tuân theo mệnh lệnh. Tuy nhiên Đức đã mắc tội là không tuân lệnh chính quyền cách mạng kêu gọi bỏ súng xuống và sớm đầu hàng. Với tội này, Đức sẽ bị giam 6 tháng. Thời gian đó, Đức phải lao động như một người quét dọn nhà tù, sẽ được học tập hai, ba buổi trong một tuần để hiểu biết về chính quyền mới. Nếu sau 6 tháng, Đức chứng tỏ được nhiệt tình với chính quyền, hiểu chính sách, ra sức lao động với công việc quét dọn được chỉ định thì sẽ được thả. Anh ta sẽ được phép trở về gia đình, ở đó anh ta sẽ lao động vì gia đình Đức đã về miền quê. Gia đình Đức đã được thông báo về sự giam giữ và ngày có thể trở về của anh.

Cựu binh nhì Đức cảm thấy biết ơn. Ngượng ngùng trước sự có mặt của bề trên, anh ta lúng túng nói lời cảm ơn và nhận ra rằng, rốt cuộc thì mình vẫn còn ý muốn ham sống. Ngày lại ngày tiếp đó, anh ta chăm chỉ làm công việc người ta giao cho. Đức nói với các tù nhân khác là anh ta có ý định làm đúng theo mệnh lệnh của người trung tá. Đức tỏ ý biết ơn về việc được tạo cho cơ hội làm lại cuộc đời theo như cách nhìn của anh ta đối với bản án.

Vào giữa tháng 8-1975, nhà cầm quyền yêu cầu tôi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Tôi không có cách nào theo dõi sự kết thúc câu chuyện có vẻ tốt đẹp ấy. Ngày 3-9-1975, tôi đáp máy bay rời khỏi Việt Nam sau gần 8 năm rưỡi ở tại một đất nước đã uốn nắn tôi và làm tôi rung động.

55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ Alan Dawson Chương 12

Chương 12: Trước lúc đầu hàng

Loại A.37 được mang đến Việt Nam là do không quân Mỹ trao cho phi công SG. Nó là loại oanh tạc tấn công nhỏ nhưng tốt nhât trong không quân SG. Khoảng 20 chiếc đã bị bỏ lại ở Đà nẵng và hầu như có thể bay đwợc sau khi tu bổ chút ít. Một điểm thuận lợi chính lầ kích thước của nó, chỉ cao ngang tầm vai và có thể bảo quản dễ dàng bởi cỡ người thấp nhất của dân phương Đông vốn nhỏ bé. Nó bay dưới mức siêu âm, nguyên thuỷ là một máy bay huấn luyện và vẫn còn giữ hai chỗ ngồi kề nhau như khi ông thầy và học sinh ngồi bay. Phi công Hoa kỳ nhận thấy nó là loại máy bay lý tưởng cho cuộc chiến Việt Nam, đặc biệt vì nó bay chậm, do đó làm cho phi công có thể thực sự nhìn thấy mục tiêu đang tìm cách đánh trúng.

Nó chẳng phải loại máy bay "con ma" thậm chí nó không thể bay từ SG đi Hà nội để oanh tạc được, tầm hoạt động của nó giới hạn nên đó là lý do khiến ngwời Mỹ có thể giao nó cho quân đội SG. Nó giản đơn so với chiếc phản lực nhưng như thế không có nghĩa là giống như xe hơi kiể T cổ lỗ của Hoa kỳ. Nó bay thuờng xuyên và tốt, chính xác, tuy chỉ sử dụng được vào ban ngày, không bay được trong mưa giông lớn. Nó không có vũ khí tự vệ để chống lại phi cơ khác, không có tên lửa không đối không. Đáng buồn là chính những máy bay ấy lại quật bom vào Tân Sơn Nhât, bịt nốt cái phi cảng cuối cung mà người Mỹ có thể hy vọng di tản qua con đường đó.

Còn một loại bom được để ở Thái lan và chỉ có một ít nằm ở đấy vì sợ tai tiếng chính trị. Số ít người Mỹ biết được sự có mặt của chúng ở Thái lan đã gọi chúng là vũ khí tối hậu mà các sĩ quan không quân Hoa kỳ mê mệt. Chúng chỉ là một trong số hàng trăm vũ khí không nguyên tử và có tính chất huỷ diệt vốn xuất phát từ quỹ nhiều tỷ đô la tài trợ cho quân đội Hoa kỳ giữa thập kỷ 60 để tiến hành chiến tranh Việt Nam. Mục đích các chương trình này là khám phá ra cách giết nhiều địch trong khi lực lượng Mỹ tổn thất ít hơn. máy bay không người lái, lựu đạn cải tiến, bom CBU.55 chỉ là số ít trong những kết quả đạt được.

Bom CBU (viết tắt của các chữ Cluster Bomb Unit) với số hiệu 55 là một trong những vũ khí đáng sợ, có ba khoang chứa đầy nhiên liệu protan, một hỗn hợp bí mật các loại chất khí khác và chất nổ. CBU.55 chưa hề được sử dụng trong chiến tranh. Một số lượng nhỏ loại bom này được để ở Thái lan phòng hờ bất trắc. Tuy nhiên cho đến 4-1975, ít người Mỹ nào lại dám đề nghị sử dụng nó.

Đầu tháng 4, một quả bom CBU.55 được trở bằng máy bay từ căn cứ không quân Utapao đến SG rồi chuyển bằng xe tới căn cứ không quân Biên Hoà. Thứ vũ khí này vẫn nằm dưới quyền kiểm soát kỹ thuật của Mỹ mặc dù nằm trong tay không quân SG. Thiệu từ chức vẫn không có cách gì cứu vãn đà sụp đổ của quân đội SG, tướng Homer Smith, sĩ quan cao cấp nhất của Mỹ ở Nam Việt Nam đã cho phép SG sử dụng loại vũ khí ấy. Các sĩ quan SG đã chọn Xuân Lộc làm mục tiêu khi lực lượng SG đãng rut lui và Cộng Sản đang tiến về SG. Một máy bay vận tải C.130 được lệnh chuẩn bị sẵn sàng vào sáng 21-4. Quả bom CBU.55 được chất lên. Con ngựa bốn động cơ của hãng Lockhead cất mình nhẹ nhàng khỏi cái phi đạo Biên Hoà và bay thẳng đến Xuân Lộc.

Ở độ cao 6.000m, cánh cửa vỏ sò ở đuôi máy bay mở ra. Cái dù thăng bằng đeo quả bom rơi vào không trung... Với một tiếng rền nghe có vẻ dồn nén kỳ lạ, và một quả cầu lửa khổng lồ bùng lên. Phi hành đoàn kinh sợ nhìn xuống...

Trong vòng hai ngày, đài Hà Nội đã công kich việc sử dụng loại vũ khí mới ấy. Họ miêu tả đúng nó, có lẽ do báo cáo của csc điệp viên ở Tân Sơn Nhất và Biên Hoà. Cộng Sản coi đó là nỗ lực sau cùng trong lúc tuyệt vọng của quân đội SG mà cũng đúng thế thật. Bom CBU.55 không đưọc chở đến nữa. Loại có sẵn ở đó sau này được đem ra phòng trưng bày "tội ác chiến tranh" ở thành phố Hò Chí Minh.

Cũng còn những vũ khí khác được sử dụng trong nhwngx ngày chiến đấu luýnh quýnh sau cùng. C.130 ném dăm ba quả bom loại 15.000 cân Anh (khoảng 7 tấn rưỡi) xuống các vị trí Bắc Việt Nam. Các trực thăng lớn ném "thùng phuy xăng" một thứ bom napan chế tạo nội địa gồm có xăng và mảnh vụn xà phòng hiệu Tuyết Ngà (Ivory Snow). Cũng vì B52 không có thể giúp sức SG được nữa nên đã có nỗ lực tìm cách biến loại C.130 thành máy bay ném bom. Những chuỗi bom 500 cân Anh còn nguyên trong thùng được đẩy ra sau đuôi máy bay vận tải cho rơi xuống. Chúng có chung tác động với cuộc chiến: chẳng làm nổi trò trống gì. Cũng như B52, hầu hết loại bom chùm này cũng chỉ gây tổn thất cho môi trường và đám khỉ.

Các vũ khí bí mật như vậy đã chẳng giúp SG thắng nổi cuộc chiến thì chính trị cũng chẳng làm được gì hơn. Chẳng có sự ủng hộ nào dành cho Hương, dù vài người cũng tin rằng lão già ấy có thể quy tụ được sự ủng hộ nào đó. Martin, đại sứ Mỹ, J. M. Herillon đại sứ Pháp, Trần Văn Lắm, Dương Văn Minh đều có những ý kiến riêng biệt được hoặc quyện vào nhau về cách thức chấm dứt cuộc chiến. Ai cũng muốn hành động tức khắc nhưng giống như diễn viên trong phim hài hước rẻ tiền, họ đụng nhau côm cốp. Không ai biết tất cả những chuyện mà ba người kia đang làm và không ai ủng hộ hoàn toàn việc làm của một trong ba người kia. Có thể so sánh họ với chuyện "Ba thằng hề cộng một".

Cộng Sản lúc đó chưa kêu gọi một cuộc đầu hàng. Đòi hỏi tuyệt đối không được thương lượng là "tất cả lực lượng quân đội Hoa kỳ phải rut ra khỏi Nam Việt Nam". Hà Nội ép SG đang thua phải nhượng bộ. Cộng Sản đã đi theo con đường ấy suốt 43 năm lịch sử. Không bao giờ nhường một tấc trong khi vẫn thúc đẩy để mang về từng thắng lợi ngoại giao hoặc quân sự. Họ chưa hề rut lui trong các đòi hỏi công khai. Giống như một đấu thủ quần vợt đứng sát lưới, họ không để đấu thủ ngoại giao có khoảng trống. Trái bóng chỉ ở sân họ trong tích tắc và không để chạm đất đã nẩy lên. Trong năm 1975 này, B52 không còn lảng vảng gần Hà Nội nữa.

... Cuộc không vận của Mỹ di tản tăng lên hàng ngày. Ngày 24-4, có 24 chuyến bay, phần lớn là loại C.141 với 250 người một chuyến. Ngày 25-4 có 26 chuyến và 26-4 có 31 chuyến. Tầu bè chũng bị gom vào dịch vụ di tản. Martin cho phép trả tiênhối lộ cho cánh sát SG tại sân bay Tân Sơn Nhất để đem người Việt Nam đi qua trạm kiểm soát vào sân bay tham gia di tản. Cứ 20 đô la một xe qua. Trong 10 ngày cuối cùng, tốn khoảng 50.000 đô la. Có lính gác Việt Nam đòi giá rất cao và cũng đượ người Mỹ thoả mãn. Có lẽ 250.000 đô la, thậm chí 500.000 đô la là món tiền hối lộ đã lọt vào túi họ. Suy cho kỹ thì đây là cách nhục mạ cuối cùng mà người Nam Việt Nam đối với người Mỹ. Đến Việt Nam với một mong muốn giúp đỡ - tuy có thể còn phải bàn cãi điều này là phạm sai lầm - người Mỹ giờ đây phải bỏ tiền ra mua lấy sự thoát thân của họ.

Cuộc chiến chưa ngừng lại dù rằng nó giảm xuống mức gần như đứng yên. Nơi thấy rõ điều này là Biên Hoà, căn cứ lớn nhất còn trong tay quân đội SG. Chiến trận ở đây là tiếng còi và tiếng rít xé gió, thứ âm thanh đáng sợ nhất thế giới. Đạn pháo nổ và hoả tiễn ập xuống Biên Hoà với con số ngày càng tăng.

Vào buổi sang Xuân Lộc sụp đổ cũng là ngày Thiệu từ chức thì đạn pháo của Cộng Sản đã làm phi đạo bị tê liệt mất nửa ngày. Nửa lực lượng không quân SG nằm bẹp. Hai ngày sau, đạn pháo và hoả tiễn vẫn còn rơi xuống làm cho không ai ngủ ngon giấc qua đêm. Chúng rơi trúng kho bom rồi trúng cả máy bay. Trực thăng giờ đây trở thành vô dụng và phi công Nam Việt Nam không bay nữa. Ở Biên Hoà hãy còn một ít cố vấn Mỹ đang sửa chữa những chiếc trực thăng để chúng có thể tham chiến. Nhưng khi sửa xong máy bay thì phi công SG lại không chịu bay. Lưới lửa phòng không Bắc Việt Nam đã áp sát Biên Hoà khiến các phi công SG xem trực thăng chỉ là phương tiện để dự trữ chứ không phải là cái gì khác.

Cố vấn Mỹ nổi cáu nhưng người Việt Nam khư khư giữ quyết định của họ. Hầu hết người Mỹ đi SG để về Hoa kỳ. Ngày 23-4, tình hình pháo kích vào Biên Hoà tăng thêm và quân Cộng Sản bao vây căn cứ thì không quân SG bèn rut đi. Máy bay F.5 chuyển về SG, loại A.37 thì về Cần Thơ. Các phi công được cho đi phép một tuần rồi được bảo là sẽ về trình diện ở SG hoặc Cần Thơ. Xe vận tải được gom lại để chuyển bom từ Biên Hoà về các căn cứ mới. Thế là hơn một nửa lực lượng không quân SG đã bị xếp cánh. Cùng ngày ấy, "lãnh sự quán Hoa kỳ" ở Biên Hoà vẫn mở cửa. "Vâng, mở cửa vô hạn định". Ngày hôm sau, cánh cửa đã khoá tịt lại. Người Mỹ đã trốn trong đêm về SG bằng một chiếc trực thăng. Người ta hy vọng lá cờ nhiều sao mà họ bỏ lại tiếp tục bay trên lãnh sự quán sẽ giúp ngăn ngừa sự hoảng loạn ở Biên Hoà.

Lãnh sự quán ở Cần Thơ cũng thế. Họ cũng chuồn về SG ban đêm bằng trực thăng. Người Mỹ từ lâu vẫn nói rằng châu thổ sông Cửu Long là thìa khoá của Nam Việt Nam vì rât đông dân giờ đây lại bỏ ra đi trước khi cuộc chiến bắt đầu.

Ngày 25-4, Bộ Tư lệnh Bắc Việt Nam hỏi các phái đoàn Bắc Việt Nam và Việt Cộng tại sân bay Tân Sơn NHất rằng họ cần bao nhiêu thời gian để chuẩn bị sẵn sàng đối phó với "cuộc giải phóng" bằng bạo lực. Vài phút sau, nột điện mật trả lời rằng cấp trên không phải lo lắng cho những người ở đây. Mọi người owr trại David sẵn sàng hiến dâng mạng sống cho thắng lợi sau cùng.

Cách SG 6 dặm về phía Bắc, lùi vào quốc lộ đi Biên Hoà 3 dặm, bộ đội Bắc Việt Nam đã chuyển pháo 105 ly đến cánh đồng trống ngay sau các rặng cây và nhà cửa. Họ ít tiếp xúc với dân chúng. Những ai bước ra khỏi nhà để nói chuyện với "quân giải phóng" đều được bảo là nên tránh xa khu vực ấy. Sắp có một trận đánh lớn vào SG và những khẩu đại bác này sẽ phá thành phố thành tro bụi nếu cần. Nhưng họ không biết khi nào thì trận đánh sẽ xẩy ra.

Các sĩ quan cấp thấp thuộc 4 sư đoàn Bắc Việt Nam đã chuyển đến những vùng sát phía Bắc SG. Giữa ban ngày, họ đã tiếp xúc với Việt Cộng nằm vùng. Hầu hết những người này thuộc trung đoàn Đồng Nai cũn. Bộ đội Bắc Việt Nam nói rằng cuộc tấn công SG sắp xẩy ra. Việt Cộng sẽ là người dẫn đường. Nhiều bản đồ đưa ra và những người Cộng Sản trong vùng chỉ cho các sĩ quan biết những con đường, nơi bố trí phòng thủ và các mục tiêu chủ chốt. Các lực lượng Cộng Sản vẫn chuẩn bị một cuộc tấn công toàn lực vào SG, nhưng họ vẫn hy vọng sẽ không cần thiết phải làm như vậy. Xét cho cùng một cuộc đầu hàng cẫn tốt hơn nhiều so với cuộc tấn công tàn phá thành phố. Các nhà chính sách của họ bèn chọn ngày 28-4 là kỳ hạn cuối cùng.

Điều buôn cười lúc này là sự giả vờ can đảm của Nguyễn Cao Kỳ. Kỳ đang tính chuyện bên lề với Bộ trưởng quốc phòng Mỹ nhằm đem các máy bay đi không để lọt vào tay Cộng Sản và cũng đã gửi vợ đi theo các cuộc di tản khỏi Nam Việt Nam. Thế mà Kỳ vẫn được một số người Mỹ tin là can đảm.

Việc Kỳ muốn nắm quyền hành ở Nam Việt Nam thì gần như chuyện công khai. Trong khi kêu gọi Thiệu từ chức, suốt mấy tuần qua Kỳ tự xem mình như là tổng thống, là kẻ cầm đầu cái chế độ ngắc ngoải này. Thế là khi đứng trước đám đông độ 6.000 người thiên chúa giáo khuynh hữu và xế trưa thứ sáu 25-4, cái ngổ ngoá của viên tướng không quân này còn nguyên vẹn. Kỳ nói chuyện phòng thủ SG, rằng những kẻ chạy trốn theo Mỹ là hèn nhát. Đàn bà và trẻ con đã được gửi đi đảo Phú Quốc. Dân SG sẽ đứng lên chống +, Kỳ ở tuyến đầu. Trong lúc bốc lên, viên tướng râu dê này nói nếu cần thành phố sẽ trở thành Stalingrad, nơi đã cầm cự 900 ngày trong vòng vây hãm. Ít ra nhân dân thế giới cũng nhớ đến sự anh dũng của những người bảo vệ Stalingrad chứ sẽ chẳn ai thèm nhớ đến SG nếu nó chịu đầu hàng ngay. Kỳ khuyên mọi người đừng di tản, hãy đứng lên mà chiến đấu. Việc phân phối vũ khí sẽ làm ngay, mọi người nên ở lại SG. Đám dân di cư đã từ Bắc Việt Nam vào đây từ 1954 bị kích động đã hoan hô Kỳ rầm rĩ...

Nhưng sĩ khí chống + chỉ thế thôi đấy. Sau đó Kỳ bỏ vào sân bay Tân Sơn Nhất để sắp xếp cho các máy bay di tản sang Thái lan và đồng thời cũng bí mật ra lệnh cho một chiếc trực thăng đến đón mình. Chẳng dại gì mà liều ở lại với Cộng Sản. Tấn tuồng chống cự của viên tướng can đảm nhất quân đội SG công diễn âm thầm độ nửa giờ là đóng màn. Dù sao các nhà báo nước ngoài lúc ấy cũng ghi vào sổ tay chi tiết đó.

Còn Thiệu và mụ vợ thì đang bận gói ghém vàng, kim cương, ngọc thạch và đồ cổ. Công việc đó là 16 vali quần áo, tư trang và theo tin ở dinh thì còn 100.000 đô la nữa. Martin giúp bọn này ra đi và có ý định chỉ cho mang đồ vật cá nhân nhẹ. Thế là tay cựu tổng thống và mụ vợ phải tính đến cách khác. Mai Anh đã xoay xở lấy được 16 tấn vàng ra khỏi ngân hàng bắng cách ép, doạ bọn thuộc cấp. Vàng nằm trong dinh lúc Thiệu từ chức "vì lý do an ninh". Mụ ta cho chuyển phần lớn số vàn thỏi ấy lên một máy bay thuê của hãng hàng không Thuỵ Sĩ, nhưng các phi công đòi biết trong thùng hàng có gì, theo nguyên tắc phòng xa. Họ khám phá ra đó là vàng nên phải hỏi lãnh sự quán Thuỵ Sĩ và rồi họ từ chối không chở nữa. Lý Long Thân (tay người Hoa, chồng em nuôi vợ Thiệu) nhảy vào cứu nguy. Tay này có phương tiện riêng là tầu "Trương tinh", tuy không phải là tầu đi xa nhưng khẩn cấp quá rồi. Thân ra lệnh chở vàng đi Pháp, sau này Thiệu có thể nhận lại ở đó. Ngọc thạch và kim cương hầu hết đóng thùng kỹ lưỡng và vợ Thiệu giám sát từng bước gói ghém hàng.

Đến lượt những thứ đò cổ. Giá trị của chúng không ai biết rõ là đồ của viện bảo tàng SG thì chác là phải đáng giá nhiều. Buồn thay, nhiều thứ lại vô giá trị. Các nhân viên bảo tàng cũng ăn hối lộ như điên nên đã thay thế phần lớn đồ cổ bằng những thứ giả giống hệt nó. Họ đem bán chúng (đồ thật) cho các chủ hiệu và người sưu tầm. Vợ Thiệu chẳng biết gì và cứ yêu cầu viên phụ tá của Thiệu là Đặng Văn Quang thu xếp gửi đi đau đấy. Quang chọn Canada là nơi lưu vong đã chuyển những đồ cổ thật lẫn giả lên một chiếc tầu đi Montreal thông qua Hoa kỳ. Vợ Thiệu vẫn đinh ninh như thế.

Một cách tuyệt đối bí mật, chiếc máy bay C.118 của không quân Mỹ đến Tân Sơn Nhất lúc 3 giờ sáng ngày 26-4 để chở thiệu đi di tản. Thiệu được báo trước một giờ để sửa soạn hành lý lần cuối cùng, kể cả chuyện lén lút chở đi số tiền 100 nghìn đôla mà Kỳ nói là đầy ắp 4 vali thuộc quỹ dự phòng hờ trong dinh. Cựu thủ tướng và là tướng 4 sao Khiêm được báo trước 20 phút. Xe Mỹ chở họ đến Tân Sơn Nhất. Máy bay cất cánh đi Đài Loan. Chẳng có họp báo, chẳng có tường thuật việc Thiệu đến Đài Bắc. Cuộc ra đi của Thiệu âm thầm và hoàn toàn nhục nhã.

Quốc hội Sài Gòn họp sau lúc Thiệu ra đi. Một số ý kiến đồng ý với Martin nên cử Hương hay Trần Văn Lắm làm tổng thống. Lắm vẫn mơ ước chức vụ ấy và đến lúc này vẫn còn thèm. Khi cộng sản đã vây chặt Sài Gòn và sắp san nó thành bình địa thì Martin lại có ý kiến khác nữa là Hương hoặc Lắm, ai làm tổng thống cũng được, còn thủ tướng nên để cho Minh lớn.

Trước lúc bình minh ngày thứ bảy, nhiều xe vận tải Bắc Việt Nam đỗ lại bên sông Sài Gòn cách thủ đô 6 dặm về phía Bắc. Chúng chở hoả tiễn và đạn pháo 105. Những đại bác và hoả tiễn này đã nằm vào các vị trí bắn sau những rặng cây. Chiến tranh bắt đầu trở lại sáng chủ nhật và báo hiệu bằng tin dữ: 4 hoả tiễn rơi xuống Sài Gòn. Đây là dấu hiệu cho thấy phút bắt đầu của giai đoạn cuối và ai nấy đều biết. Ba năm rưỡi, chưa có đạn pháo hay hoả tiễn rơi xuống Sài Gòn. Bây giờ chiến tranh đang rẽ sang một bước ngoặt mới, cho thấy Hà Nội sẵn sàng tấn công Sài Gòn. Thời gian cấp bách một cách tuyệt vọng. Sự xào xáo chính trị nội bộ bây giờ là một thứ xa hoa không còn chỗ đứng.

Phòng tuyến sau cùng của Sài Gòn bắt đầu rung rinh vào sáng chủ nhật. Tại Long Thành, một trong những trận đánh bằng xe tăng dữ dội nhất cuộc chiến đã xảy ra, xe tăng Bắc Việt tràn ngập lên căn cứ thiết giáp của quân đội Sài Gòn. Trong vòng cung từ Đông Nam sang Đông Bắc chỉ còn căn cứ không quân Biên Hoà, đang bị cắt đứt ngày chủ nhật, lần cuối cùng và mãi mãi. Những cuộc tấn công dữ dội vào các tiền đồn ở Mỹ Tho-Long An đã đẩy sư đoàn 9 lùi về phía Sài Gòn. Phía Nam và Tây Nam Sài Gòn, 20 nghìn bộ đội Bắc Việt Nam chỉ còn cách Sài Gòn 15 dặm. Phía Tây Bắc Sài Gòn, dọc quốc lộ 1 đi Campuchia, vài sư đoàn Bắc Việt Nam đã cắt đứt con đường ấy, đẩy sư đoàn 25 giạt ra 2 hướng nằm ngoài xa vành đai Sài Gòn. Hai đại đội của sư đoàn 9 Bắc Việt Nam rẽ vào Gia Định, chốt các cầu trên quốc lộ 1 gần cửa hàng tạp hóa Mỹ và kho chứa hàng viện trợ Mỹ.

Các tướng lĩnh Sài Gòn bắt đầu dàn thế trận lần cuối. Biệt động quân và lữ đoàn dù cuối cùng được dàn thành hình quạt tù phía Nam sang Đông Bắc Sài Gòn. Đó là lực lượng phòng thủ đáng thương hại, bị áp đảo với tỷ lệ 1 chọi 15. Phe Cộng Sản đang thiết lập vị trí tiền tiêu, thử phản ứng của quân đội Sài Gòn. Nhưng viên tướng 4 sao duy nhất trong quân đội lúc bấy giờ là Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên đã lên máy bay riêng loại C.47 vào xế trưa thứ hai bay đi Băng-cốc. Hơn nửa số tướng lĩnh Sài Gòn đã bỏ chạy khỏi đất nước. Thủ tướng cuối cùng-Nguyễn Bá Cẩn cũng lên chiếc C.141 rời Sài Gòn.

Ba hoả tiễn rơi xướng Sài Gòn ngày thứ hai. Không cần lời cảnh cáo nào thêm nữa về việc cộng sản sẵn sàng đánh chiếm Sài Gòn. Đến trưa, thính giả nghe đài phát thanh của sứ quán biết được Martin đang làm gì trong phần thời gian cuối trong ngày cuối khốn khổ này. “Đại sứ Tám có một bộ sưu tập những vật quý giá trao cho đại sứ (Mỹ) giữ gìn và ông ta cần một số người gói hàng. Ông ta cần khoảng 20 hộp nhỏ, khoảng một tá hộp lớn hoặc thùng và một số chăn bông. Đại sứ Martin quan tâm trong vụ này: Chúng tôi muốn chuyển ông ta (Tám) và đi vào ngày hôm nay…”.

Ai đó ở đầu bên kia đài phát thanh của đại sứ quán đã vạch cho thấy những vấn đề cụ thể trong việc chuyển đồ cổ của tướng 3 sao Trần Ngọc Tám, người đã trở thành bạn của Martin khi cả hai đều làm đại sứ tại Thái Lan trong thập kỷ 60. Có lẽ Martin muốn giúp đỡ gói ghém hành lý. Nhưng những người di tản khác thì đang ra đi một cách khôn ngoan. Họ bỏ lại tài sản cuộc đời-hay nói đúng hơn là tìm cách dồn tài sản cuộc đời vào trong một cái túi đeo vài thôi thì mới thoát được.

Minh lớn lái xe đến dinh, dù đoạn đường chỉ 5 phút đi bộ. Minh gặp Hương tại cửa. Khi Hương đọc diễn văn ngắn trao quyền cho Minh thì tổng thống mới xem lại bài viết. Minh bước lên diễn đàn hô hào thành lập một chính quyền gồm mọi thành phần chính kiến khác nhau. Đám mây trên Sài Gòn bung ra và trút xuống một cơn mưa lớn. Một tiếng sét và sấm rền âm vang làm im lặng căn phòng. Lúc ấy là 5 giờ 15 chiều. Minh bước ra khỏi dinh, về ăn cơm chiều thì 5 chiếc phản lực A.37 đang bay thẳng về phía sân bay Sài Gòn. Những lệnh ngắn qua điện đài được đánh lên máy bay, yêu cầu chúng cho biết xuất xứ. Không có câu trả lời nào.

Minh họa mấy chiếc A-37

 

Ba hoả tiễn rơi xuống SG vào ngày thứ hai. Không cần lời cảnh cáo nào thêm nữa về việc Cộng Sản sẵn sàng đánh chiếm SG. Đến trưa, thính giả nghe đài phát thanh của sứ quán biết được Martin đang làm gì trong phần thời gian cuối trong ngày cuối khốn khổ này. "Đại sứ Tám có một bộ sưu tập những vật quý giá trao cho đại sứ (Mỹ) giữ gìn và ông ta cần một số người gói hàng. Ông ra cần khoảng 20 hộp nhỏ, khoảng 1 tá hộp lớn hoặc thùng và một số chăn bông. Đại sứ Martin quan tâm trong vụ này: Chúng tôi muốn chuyển ông ta (Tám) đi vào ngày hôm nay..."

Ai đó ở đầu cầu bên kia đài phát thanh của đại sứ quán đã vạch cho thấy những vấn đề cụ thể trong việc chuyển đồ cổ của tướng 3 sao Trần Ngọc Tám, người đã chở thành bạn của Martin khi cả hai đều làm đại sứ tại Thái lan trong thập kỷ 60. Có lẽ Martin muốn giúp đỡ Tám gói ghém hành lý. Nhưng những người di tản khác thì đang ra đi một cách khôn ngoan. Họ bỏ lại tài sản cuộc đời - hay đúng hơn là tìm cách dồn tài sản cuộc đời vào trong một cái túi đeo vai thôi thì mới thoát được...

Minh lớn lái xe đến dinh, dù đoạn đường chỉ 5 phut đi bộ. Minh gặp Hương tại cửa... Khi Hương đọc diễn văn ngắn trao quyền cho Minh thì tay tổng thống mới xem lại bài viết. Minh bước lên diễn đàn hô hào thành lập một chính quyền gồm mọi thành phần chính kiến khác nhau... Đám mây trên SG bung ra và trút xuống một cơn mưa lớn. Một tiếng sét và sấm ầm vang làm im lặng căn phòng. Lúc ấy là 5 giờ 15 chiều. Minh bước ra khỏi dinh và về ăn cơm chiều thì 5 chiếc phản lực A.37 đang bay về phía sân bay SG. Những lệnh ngân qua điện đài được đánh lên máy bay đã yêu cầu chúng cho biết xuất xứ. Không có câu trả lời nào...

Đại tá Tuấn, tham mưu phó hành quân của SG làm việc với sư đoàn 5 không quân tình cờ có mặt tại đài kiểm soát không lưu. Tuấn đang ra lệnh cho chuyến bay khác ngừng lại vì có đám mây đen tích điện. Tuấn nghi ngờ 5 chiếc A.37, bèn ra lệnh gọi đi Cần Thơ và Biên Hoà. Các căn cứ này trả lời họ không bay. Thật ra nó từ Phan Rang tới và do các phi công Bắc Việt Nam lái. Không có chuyện bay thử ngang qua một lượt. Ngay trong lần đầu tiên bay qua căn cứ, những phi công lái MIG lão luyện này đã bấm nút thả bom, một tá bom loại 500 cân Anh rơi xuống khu vực quân sự.

Bài diễn văn kêu gọi thương thuyết của Minh lớn được A.37 trả lời sau 35 phut tính từ khi Minh ngừng nói. Tại Tân Sơn Nhất, hàng ngàn người đều kinh hoàng. Chưa mấy người đã nằm dưới trận ném bom. Trong hầu hết mọi tần số, tiếng gọi qua điện đài loạn xạ xin được hướng dẫn làm gì. Một người Mỹ trong sứ quán nói với các người đang nghe tần số của mình: "Chẳng thể làm gì được cả. Nằm sấp xuống và nín thở thôi". Người khác nói: "Chúng tới phía trước, ôm lấy hai bắp chân vào mình, cuíu đầu xuống càng thấp càng tôt. Nếu cần, hôn từ giã cái mông của anh đi". Tuấn muốn phóng các F.5 lên trời. Một lần nữa các phi công SG không có mặt trong máy bay theo quy định.

Tại trung tâm SG, dân chúng biết chắc rằng cuộc tấn công sau cùng vào SG đã bắt đầu. Hơn 100.000 bộ đội Bắc Việt Nam và những người Việt Cộng dẫn đường đã trang bị lên vai sẵn sàng bằng SG. Từ bây giờ trở đi, nó sẽ là cuộc chiến tranh khong còn gì hạn chế và kiềm chế nữa. Đêm thứ hai, sau cuộc ném bom, các người phát ngôn SG cho biết điều kiện đi đến hoà bình là "giải trừ bộ máy chiến tranh và kìm kẹp của SG". Nói khác đi, quyết định đã có rồi. SG sẽ phải đầu hàng quân sự hoặc là quân đội Bắc Việt Nam sẽ đáng chiếm thủ đô. Trường hợp sau, ít có hy vọng là họ sẽ thua trận.

55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ Alan Dawson Chương 9 10 11

Chương 9 : Kẻ cầm đầu chế độ

Hai ngày sau khi Phan Rang sụp đổ, tỉnh lỵ anh em với nó là Phan Thiết cũng bị Bắc Việt Nam chiếm nốt. Thế là Cộng Sản kiểm soát 20 tỉnh, trọn vẹn 2 quân khu, hai phần ba Nam Việt Nam rồi. Ở Sài Gòn, các thế lực đều đòi thủ cấp chính trị của Thiệu, kẻ cầm đầu chế độ.

Phe tự nhận là trung lập của Sài Gòn, không thích Cộng Sản và không thích chống + cũng muốn Thiệu ra đi. Phe cực hữu cũng muốn Thiệu ra đi, và éo le thay, chính họ lại công khai tấn công vào sự tham nhũng của tổng thống.

Từ tháng 9-1974, nhóm này đã phổ biến “bản cáo trạng số 1”. Các nhật báo Sài Gòn đăng cáo trạng này đều bị tịch thu nhưng vẫn còn rất nhiều bản được chuyền tay trong dân chúng khắp đất nước. Những lời tố cáo đó mang tính chất nghiêm trọng và có giá trị tài liệu.

Thiệu, với lợi tức chỉ vài trăm đôla hàng tháng mà có hai căn nhà ở Sài Gòn, trị giá hơn 150 nghìn đôla, một nhà thuỷ tạ ở sát phía Bắc Sài Gòn, một “vila tráng lệ” ở Thuỵ Sĩ, nhiều đất đai ở vô số tỉnh. Vợ Thiệu xây cái gọi là bệnh viện cho người nghèo, đã dùng hàng lậu thuế để trang trải việc xây dựng, bòn rút ngoại viện vào túi và kết cục thì dân nghèo không thể vào bệnh viện này. Anh vợ Thiệu thì đầu cơ nâng giá phân bón hóa học do Mỹ cung cấp, bán cho nông dân với giá cắt cổ. Cố vấn cho Thiệu là Đặng Văn Quang và Trần Thiện Khiêm tổ chức buôn thuốc phiện lậu. Một người cô của Thiệu tích trữ đầu cơ và nâng giá gạo, thâu tóm nhiều phương tiện vận tải để làm giàu. Thiệu còn “nhận quà” bằng đất đai, dùng công binh xây trang trại riêng…

Những lời tố cáo như bom nổ. Tuy bản cáo trạng thứ hai không gây náo động như bản cáo trạng thứ nhất, nhưng lại được dư luận rộng rãi tin. Thế là những người cánh hữu cương quyết đòi uống máu Thiệu về mặt chính trị. Còn ở mức độ rộng lớn, quân đội Sài Gòn muốn Thiệu ra đi vào tuần thứ nhì của tháng 4-1975. Đây là lá phiếu quan trọng nhất chống lại tổng thống. Sau 10 năm ở chức vụ cao nhất tại Nam Việt Nam trong đó 8 năm làm tổng thống, năm 1975 Thiệu là người giàu nhất Nam Việt Nam nhờ tham nhũng. Trong chức vụ, Thiệu không hề được phép nhận hơn số lương 600 đôla mỗi tháng, và có lẽ từ 300 đến 400 đôla phụ cấp. Thế nhưng dù xét bất cứ tiêu chuẩn nào, thì Thiệu đã và vẫn còn giàu sụ.

Làm thế nào giàu được, đó là chuyện phức tạp và quanh co. Những gì sắp kể ra đây chắc chắn là không đủ. Cái biết được là với hai trường hợp ngoại lệ-một vila ở Thuỵ Sĩ và một ngân hàng Sài Gòn bị phá sản-còn tên thì cả Thiệu lẫn tên vợ Thiệu đều không tim thấy trong bất cứ hồ sơ nào. Thế mà họ đã trở nên giàu có. Theo các cuộc phỏng vấn và các nguồn điều tra khác thì gia đình Thiệu đã ăn cắp hàng trăm triệu đôla. Đó là tiền thuế của dân Mỹ và dân chúng đất nước họ.

Công cuộc làm tiền của Thiệu là dựa trên chiến tranh và môi trường cuộc chiến do viện trợ Mỹ nuôi dưỡng. Có lẽ Thiệu thành thật tin rằng không bao giờ thương lượng được với Cộng Sản. Thiệu tin như vậy nên cuộc chiến tiếp tục. Bởi vì cuộc chiến tiếp diễn nên Thiệu và gia đình Thiệu giàu thêm. Ở hạ tầng, sự tham nhũng đơn giản. Nhưng ở thượng tầng, nó là một mạng lưới phức tạp. Cũng như đảng maphia, nó lấy việc bảo vệ tay thủ lĩnh làm mục đích chính.

Ở hạ tầng, nó là sự mua bán thế lực vụn vặt, bảo vệ và tống tiền. Một tiệm thuốc đường Catinat bán công khai thuốc cần sa nha phiến cho lính Mỹ vì chủ tiệm được cảnh sát bảo vệ. Các chỉ huy Mỹ cấm lính tới đó vì thuốc ma tuý được chuyển qua gái bán bar. Những tay buôn gỗ ở Tây Nguyên hoạt động được vì các cấp chỉ huy quân đội được trả một số phần trăm lợi nhuận. Tiền lời ngừng trả thì đoàn xe trở gỗ bị phục kích bởi "du kích Việt Cộng"

Khi tham nhũng trở nên quan trọng và số tiền dính líu nhiều hơn thì hệ thống trở thành một mạng lưới hình tháp. Ngồi trên đỉnh tháp tham nhũng tại Nam Việt Nam là Thiệu. Tháp chỉ là công cụ tổ chưc không nhất thiết là con đường chuyển tiền. Bằng cách cho những người xung quanh cái tháp ấy tự kiếm ăn, Thiệu tạo được ân nghĩa và những món nợ quyền lực. Từ 1965 - 1975, y đã tạo hàng ngàn hoặc hàng vạn ơn nghĩa. Khi cần đền đáp thì lớn bé trong cái tháp ấy răm rắp tuân theo.

Phải hiểu rằng ở Nam Việt Nam, dù hiến pháp có được tuân theo triệt đểthì tổng thống vẫn có quyền lực bao la. Thiệu có quyền nhiều hơn cả hiến pháp cho phép. Là chủ tịch hội đồng tướng lĩnh, một cơ quan nằm ngoài hiến pháp, Thiệu nắm quyền hành trưởng hội đòng này. Là tổng tư lệnh quân đội, đứng đầu tổ chức hành chính công vụ, một tay Thiêuh nắm hơn 3 triệu chỗ làm, một nửa chỗ công ăn việc làm của chế độ. Thiệu giữ toàn quyền bổ nhiêm thăng thưởng, giáng và cách chức 3 triệu người giữ các chỗ làm ấy, không uỷ nhiệm cho ai.

Tiền bạc tuồn lọt từ cao xuống thấp và ngược lại. Mỗi cấp rut bớt phần ra để chia xẻ cho họ. Đó là hoạt động của đường dây tham nhũng. Nhưng hình như Thiệu không thèm làm. Tiền hậu tạ của chủ hiệu Bar, kiều dân nhập cư bất hợp pháp... không đến tay Thiệu. Y thu lượm ân nghĩa và dùng ơn nghĩa giúp tay tổng thống này lám giầu theo các kế hoạch riêng. Phương pháp thu lượm ơn nghĩa được G. Lansdale mô tả như sau:

"... Guồng máy dân sự và quân sự hoạt động theo một chế độ chủ nhân xoay quanh mỗi tư lệnh quân đoàn. Mỗi người đã bổ nhiệm và cách chức một tỉnh trưởng, quận trưởng". Năm 1975, Thiệu bổ nhiệm và cách chức thường xuyên 4 tư lệnh quân đoàn, nắm phần lớn lớn việc bổ nhiệm tư lệnh sư đoàn, như vậy là còn nắm quyền kiểm soát nhiều hơn cái chế độ mà Lansdale đã nói trong năm 1958. Một thí dụ đặc biệt cho thấy cách thứ hoạt động của Thiệu. Năm 1973 y thăng cấp lên tướng 3 sao cho Nguyễn Vĩnh Nghi và bổ nhiệm Nghi làm tư lệnh quân đoàn 4, tức là Nam Bộ. Nghi được tự do xoay xở làm giầu. Vào giữa nam 74, các nguồn tin sứ quán Hoa Kỳ nói rằng 8.000 điện đài và 25.000 khẩu súng M.16 và vũ khí nhỏ khac đã biến mât khỏi kho quân khu 4 trong thời gian Nghi làm tư lệnh. Bản cáo trạng số 1 buộc Thiệu có hành động tượng trưng để dẹp tham nhũng, thì tay tổng thống đã phải cách chưc Nghi. Hai tướng lĩnh khac thuộc quân khu 3 đã bị nhôt năm 1974 khi những người đi điều tra của cả quân đội SG lẫn sứ quán Hoa Kỳ nói là tụi này đã cố tình bán gạo cho Việ Cộng. Hai người đó là Trần Quốc Lịch của sư đoàn 25 Tây Bắc SG và Lê Văn Tư của sư đoàn 5 ở hướng Bắc thủ đô. Việc bán lương thực và trang bị quân sự cũng như giấy hoãn quân dịch trong 2 sư đoàn đã làm hai đơn vị này về mặt tác chiến trở nên vô hiệu lực. Đến lúc chúng buộc phải ném vào trận đánh ở SG tháng 4-1975 thì sư đoàn 25 đã không thể nào hành quân như lực lượng chiến đấu.

Những bổ nhiệm vào hàng tá chức vụ như thế là do Thiệu làm ra, với cách tính toán là tạo ra ơn nghĩa để dùng sau này. Một viên tướng được Thiệu bổ nhiệm là có thể tự do xây dựng mạng lưới tham nhũng riêng của mình. Kiếm tiền bằng cách ghi vào sổ lương sư đoàn những lính ma. Bán những chỗ làm việc an toàn tránh xa chiến trường cho binh sĩ nào muốn và đủ sưc trả cái giá đưa ra. Bán trang bị dành cho đơn vị ra chợ trời, thậm chí bán cả cho Việt cộng. Họ cố tránh bán vũ khí sợ Mỹ biêtthí phải mở cuộc điều tra, còn đồ dùng nhà ăn tập thể, quân phục, xe Jeep, giầy cao cổ thì mang lại nhiều tiền và các mặt hàng này tràn trề ngoài chợ trời chứng tỏ các sĩ quan cao cấp phải nhúng tay vào. Xăng trở thành mặt hàng đắt khách ở chọ trời sau khi khối Ả rập nâng giá. Một số tướng lĩnh SG rỗ ràng đã điều khiển các đường dây, bảo vệ đám con buôn chợ trời và buôn lậu.

Họ làm tiền thế nào, Thiệu không cần để ý. Chỉ có quy định ngầm là phải tránh các đường dây do tay tổng thống này và gia đình điều khiển. Thiệu côt tạo ơn nghiã và ta sẽ xem ân nghĩa được đáp trả như thế nào?

Tướng lĩnh do Thiêubổ nhiệm có quyền bổ nhiệm cấp thuộc hạ của mình. Ở đây, tiền mặt được trao tay. Chỗ làm cao giá nhất là chỉ huy trưởng cảnh sát Chợ Lớn, khu người Hoa. Chức vị đó khoảng 15 triệu tức khoảng 130.000 đô la. Chỗ này dễ kiếm tiền đến nỗi chỉ sau 2-3 tháng là đủ tiền trả chỗ. Các đại tá quân đội phải mua 80.000 đô la nếu muốn làm tỉnh trưởng Châu Đốc, giáp biên giới với Cambodia. Nguồn thu chính là qua các tay buôn lậu trâu bò, tiền lời đến theo đầu súc vật qua biên giới.

Đi dần lên trong các cấp chính quyền, hầu hết các bộ trưởng đã xoay xở làm giầu bằng tham nhũng. Điển hình là Phạm Kim Ngọc, bộ trưởng kinh tế được Mỹ thích, đã xoay xở mở được trương mục 8 triệu đô la ở Đài Loan bằng cách lấy "tiền hoa hồng" do việc đảm bảo những hợp đồng của các công ty muốn làm ăn ở Việt Nam.

Nhưng so chuyện Thiệu và gia đình tay tổng thống này làm thì các chuyện trên không đáng kể. hai người làm tấm che gió án ngữ sự tham nhũng hàng triệu đô la cho Thiệu là Nguyễn Thị Mai Anh, vợ thiệu và Lý Long Thân, tên chồng người Hoa của cô em gái nuôi Mai Anh. Những số tiền lớn từ đó đi vào các trương mục ngân hàng của Thiệu ở Singapore, Thuỵ Sĩ, chia lời thầm lặng ở Đài Loan, Guam, Hawai vv...

Những dính líu của Mai anh khó xac lập thành hồ sơ. Mụ ta là một tay mê say kim cương có tiếng. Trong các cuộc chiêu đãi, mụ ta bàn bạc về kim cương một cách thông thạo với các mệnh phụ trong đoàn ngoại giao và khách mời. Mai Anh thường đeo một viên kim cương lớn khi đi ra ngoài và luân chuyển các nữ trang kim cương thành sưu tập lớn. Theo một số người thì mụ ta có một bộ sưu tập về kim cương hạng nhất châu Á, cả về số lưọng lẫn chất lượng.

Nguồn thu nhập quan trọng của Thiệu là buôn lậu, cả trong lẫn ngoài Việt Nam. Kim lọai vụn: đồng, sắt, đặc biệt đồng là món hàng xuất khẩu béo bở nhất. Đồng là phần còn lại của những viên đạn và đại bác bắn đi. Sắt là tàn tích của xe tăng, xe vận tải và máy bay bị hư hại trong chiến tranh. Kim loại vụn lúc đó là mặt hàng được giá trên mọi thj trường, đặc biệt tại Nhật vì giá thép tăng cao. Một triệu lính bắn biết bao đạn dược. Họ dùng hỏng bao nhiêu xe tăng, xe vận tải, xe jeep, máy bay, điện đài, máy đánh chữ. Trong lúc rut đi, nó bị bỏ lại ở chiến trường, được thu gọn về các kho sắt vụn và bắt đầu cuộc đời mới là vật làm ra tiền cho Thiệu.

Bản thân việc buôn lậu thì đơn giản, cần it người nhúng tay. Kẻ nào nhúng tay đều mang ơn nghĩa của Thiệu. Chính vào giai đoạn này của cuộc làm ăn, tay tổng thống này mới gọi đến những tướng tá vốn mắc nợ Thiệu về chức vụ mang ân nghĩa đến. Trả ơn thật đơn giản. Các anh hãy quay mặt đi đúng lúc và ra lệnh cho thuộc hạ cũng làm như thế.

Kim loại phế thải trở bằng xe nhà binh, phủ bạt kín để tránh các cặp mắt tò mò. Điểm trở hàng đến thường là cẳng SG. Tay tổng thống cũng dễ dàng đòi các viên chức ở đây quay mặt đi chỗ khác. Tầu chở thuê đăng ký quốc tịch Panama, thuỷ thủ là người Nam Triều Tiên. Ra đến biển khơi thì các tay tài phiệt Mỹ mới nhúng tay vào.

Mai Anh đích thân lo việc lấy tiền hàng. Lý Long Thân thì sắp xếp các chi tiết tẩy xoá sự tham nhũng ở các ngân hàng Đài Loan, Hongkong, Singapore, Philipin, Guam. Mai Anh thỉnh thoảng dùng lý do che đậy là đi thăm con ở châu Âu để bỏ tiền vào ngân hàng hay biến nó thành đồ nữ trang. Trong một chuyến đi như vậy năm 1972, Mai Anh đã mua một villa ở Thuỵ Sĩ.

Việc buôn lậu ra nước ngoài đáng trách nhưng it gây hậu quả cho cuộc chiến. Buôn lậu trong nước gây chết chóc, kéo dài chiến tranh và giúp sức trực tiếp cho Việt Cộng. Hàng không Việt Nam (Air Vietnam) từ SG bay đến 11 thành phố châu Á nằm dưới quyền điều khiển của Trung. Con trai Trung là chồng con gái Thiệu. Các khoang chứa hàng của máy bay E Vietnam (Air Vietnam) từ Tokyo, Hongkong, Singapore về đều chất đầy hàng. Rượu, thuốc lá, son phấn, hàng điện tử, cúc áo, đồ dùng phòng ăn... hầu hết những thứ nhét lọt qua khoang chở hàng đều có mặt trên các chuyến bay phản lực về Việt Nam, được biết là đều theo chỉ thj của vợ Thiệu. Hàng về, binh sĩ SG bao quanh máy bay đông nghẹt. Họ bốc xuống xe nhà binh những thùng rượu Pháp, hàng Nhật, Hongkong trước con mắt của khách nhìn qua cửa sổ.

Sự tham nhũng của Thiệu đặc biệt có hại cho Nam Việt Nam kể rừ 1972 trở đi, khi Nam Việt Nam chệnh choạng trên bờ vực phá sản. Viện trợ của Mỹ giảm, giá hàng lại tăng. Thiệu, đám bạn bè và gia đình tay tổng thống mỗi ngày một giầu. Dân chúng thì mất niềm tin ở tổng thống của họ. Đến giữa tháng tư, khi Thiệu bước sang năm thứ 10 làm quốc trưởng Nam Việt Nam thì sức ép đãquá lớn rồi. Vấn đề không còn là Thiệu có ra đi hay không mà phải ra đi và như thế nào.

Chỉ có Graham Martin là không muốn Thiệu ra đi. Theo lời một số người trong đám thân tín của viên đại sứ thì Martin cho rằng "Thiệu là tổng thống duy nhất mà chúng ta (Mỹ) có thể kiếm được". Cái mà Martin hy vọng là Thiệu chịu thương lượng với Hà Nội để tìm kiếm hoà bình. Martin đã mất không biết bao thời gian để thuyết phục Thiệu. Như vậy thì buộc Thiệu phải quỳ xuống van xin thương lượng để Hà Nội và Việt Cộng nhổ nước bọt vào mặt mình. Thiệu không chịu và chiến tranh cứ kéo dài.

 

Chương 10: "Guốc bai - ông Mỹ"

Đêm ấy, khi SG đã đi ngủ thì tổng thống Ford bắt tay hành động ở Washington. Những lời chỉ trích đã lên đến tột cùng, tất cả nhằm tố cáo Martin kéo dài lê thê cuộc di tản người Mỹ. Martin lập luận rằng việc di tản người Mỹ sẽ làm đất nước ấy hoảng loạn và làm chi sự đầu hàng trở thành không tránh khỏi được, nó sẽ làm chiến thắng của Cộng Sản nhanh hơn. Điều tệ hại nhất là có thể gây ra hoảng loạn ở SG, nếu đem so sánh thì ngay sự hoảng loạn ở Đà nẵng cũng chẳng thấm tháp gì...

Giờ đây, nhiều người Mỹ đang ló mặt khỏi cái tủ SG kín mít. Sứ quán tin rằng có lẽ khoảng 6.000 người Mỹ sẽ di tản nếu bắt đầu cuộc di tản vào giữa tháng tư. Nhưng khi cuộc tấn công thần tốc của Bắc Việt Nam đẩy mạnh thì ngày càng có nhiều công dân Mỹ xuất hiện. Nhiêug người là quân nhân về hưu. Họ chọn SG để sống vì nhiều lý do khác nhau, thường là do chuyện giá rượu rẻ và số lượng thiếu nữ quá thừa thãi. Những người khác là người Việt Nam nhập tịch Mỹ. Rồi lại còn thành phần đào ngũ nữa.

Chẳng ai biết có bao nhiêu người Mỹ bỏ trốn khỏi quân đội ở Nam Việt Nam. Con số điều tra đi đến ước lượng khoảng 300 bih sĩ. Số này sống tại SG, dùng mánh lới bỏ vợ bên Mỹ. Nhiều người dính líu đến chuyện buôn ma tuý và là tay buôn lẻ. Nhiều người khác đã xong được hộ chiếu và sống đàng hoàng. Giữa 15 và 28-4, 277 người đến trình diện tại các địa điẻm nhận di tản và cho biết họ là công dân Mỹ. Chẳng ai có giấy tờ trong mình, đều là người Âu da trắng, da đen, nói tiếng Anh giọng Mỹ.

Mệnh lệnh công khia của Ford là đem hết người Mỹ "không cần thiết" ra khỏi SG. Chẳng ai giải thích tại sao viên chức Mỹ "không cần thiết" lại có mặt ngay từ đầu làm gì và nhiều đến thế. Nó được ban hành không phải chỉ vì sự động tâm muốn cứu vớt sinh mạng mà vì đừng trông mong quốc hội bỏ phiếu viện trợ cho SG trừ phi hầu hết người Mỹ trong vùng chiến trận được mang đi nhanh chóng. Martin chẳng thích chuyện này, nhưng không ngăn cản được. Một viên chức cao cấp trong giới chức Mỹ ở Việt Nam sẽ làm việc để thực hiện kế hoạch.

Hai ngày sau khi Phan Rang sụp đổ, Martin vẫn chưa lấy lại được sức khỏe, vẫn còn bị hoành hành bởi bệnh sưng phổi đã mắc phải ở Hoa Kỳ. Trong điều kiện bình thường thì đại sứ đã phải nằm bệnh viện hoặc ít ra cũng nằm trên giường tại nhà. Nhưng bây giờ con bài đã ném ra, những quyết định quan trọng xẩy ra hàng ngày, gần như hàng giờ nên Martin khăng khăng đòi có mặt ở chỗ làm việc. Martin muốn nắm chặt sứ quán, đích thân làm ra mọi quyết định thường thường là bí mật.

Viên đại sứ miễn cưỡng thi hành lá thư của tổng thống Ford trong việc đẩy mạnh cuộc di tản người Mỹ ở Nam Việt Nam. Giống như một thuyền trưởng, ông ta ra lệnh cho đàn bà trẻ con đi trước rồi mới chấp thuận giảm bớt nhân viên sứ quán. Về quan hệ của Mỹ với Nam Việt Nam, Martin vẫn tin Thiệu là một tay tổng thống được dân bầu mặc dầu không phải là được dân ưa thích. Câu trả lời của Martin là dù thích hay không, Thiệu vẫn là tổng thống, tháng 10-1975 sẽ hết hạn, khi ấy cử tri có thể đuổi Thiệu khỏi vị trí. Martin quả là có nói chuyện với tay tổng thống này vài ba lần. Trong tuần lễ cuối cùng nắm giữ chức vụ, Thiệu ít kiếm được đồng bào nào của mình để dựa. Viên chức, chính trị gia, tướng lĩnh đều đòi uống máu Thiệu. Chỉ Martin là chỗ dựa và lời đe doạ của Martin sẽ cắt toàn bộ viện trợ của Mỹ mới làm các tướng lĩnh SG chùn tay làm đảo chính Thiệu.

Martin gặp Thiệu vào thời điểm Nghi bỏ Phan Rang vĩnh viễn để tim cách bơm hơi cho tay tổng thống trong khi chính thể xác ông ta chẳng khoẻ gì. Viên đại sứ đã nói Hoa Kỳ đặt trọn niềm tin ở Thiệu vì Thiệu là tổng thống dân cử của Nam Việt Nam. Martin khuyến khich Thiệu đừng từ chức. Martin nói trong hiện tại, Thiệu nên giữ cho vững. Mỹ vẫn cam kết với chính quyền Thiệu về sự tồn tại của "VNCH". Viện trợ Mỹ sẽ đến SG.

Thiệu lại nghĩ khác. Sứ quán Nam Việt Nam ở Mỹ cho Thiệu biết là khó có thêm viện trợ. Trong cuộc nói chuyện với Martin Thiệu đòi máy bay Mỹ nhảy vào cuộc chiến. Thiêụ nói với viên đại sứ rằng không có sự giúp đỡ của Mỹ thì Thiệu sẽ từ chức, "guốc bai ông Mỹ"

*

Cuộc tấn công thăm dò đầu tiên trong trận đánh cuối cùng và SG xảy đến ngày 18-4. Một toán đặc côngCộng Sản đã tấn công cứ điểm truyền tin Phú Lâm. Trên một khía cạnh Cộng Sản đã mang chiến tranh gần đến SG. Khía cạnh khác là các nhà quân sự đều cho rằng đó là cuộc tăm dò phòng thủ, thử phản ứng và di chuyển của quân đội SG.

Trực thăng vũ trang ở Tân Sơn Nhất đã phản ứng nhưng SG sẽ gặp khó khăn nếu trận đánh lớn xảy đến. Quân đội SG chỉ còn 1 lữ đoàn dù, đôi ba tiểu đoàn quân biệt động ở nội thành. Không quân chẳng còn mấy nữa. Các bộ tham mưu cố tái lập một số đơn vị nhưng chẳng tiến triển gì mấy. Các đơn vị khác còn ở tư thế nào đó để phòng thủ SG là:

- Sư đoàn 5, đóng ngay phía Bắc SG, bị xem là tác chiến không hữu hiệu, do nạn tham nhũng là suy yếu đơn vị không sửa chữa nổi.

- Sư đoàn 25 còn tệ hơn cả sư đoàn 5 đóng ở Bắc SG.

- Sư đoàn 9 khá hơn, nằm cách SG 25 dặm về phía Nam. Bộ Tổng tham mưu phá các tiền lệ ranh giới bất khả xâm phạm giữa các quân khu định cho sư đoàn 9 vượt lên quân khu 3. Một khu vực rộng lớn ở phần phía Bắc ĐBSCL bị bỏ ngỏ cho Cộng Sản. Các đơn vị Việt Cộng đi vào các làng mạc và nắm quyền kiểm soát mà không gặp sự chống đối nào. Cái thòng lọng đặt lên cổ SG đang xiết chặt dần, chẳng còn chỗ nào để Thiệu xoay xở gì nữa.

Martin trong khi bất tuân lệnh đẩy mạnh cuộc di tản thì lại xoay trần ra làm cái mà ông ta coi đấy là nhiệm vụ chính của mình. Đó là việc ngăn chặn sự hoảng loạn rõ ràng là đang lớn lên trong những mảng lớn dân chúng Việt Nam. Quân đội SG đã tháo chạy ở tất cả mọi nơi mà nó gặp phải thử thách, ngoại trừ Xuân Lộc nhưng cũng đang bị sưc ép nặng nề. Ít nhấy cũng là 100.000 bộ đội Cộng Sản, 10 sư đoàn bộ binh và lực lượng yểm trợ đang ở trong khoảng cách SG một hai ngày đường. SG được phòng thủ bởi các đơn vị bộ binh tồi mà hầu hết những người am hiểu đều tin rằng chúng sẽ co rut nhanh chóng sau phut đầu chạm súng.

Thiệu sẽ không từ chức, tay tổng thống này nói thế nhưng trên thực tế thì Thiệu đang suy yếu. Thiệu nói rằng sẽ không co thương lượng. Martin muốn Thiệu ở lại để tìm cách mặc cả. Cộng Sản đòi Thiệu cút đi và nói thẳng rằng nếu còn Thiệu thì sẽ tàn phá SG. Mỹ thì lo việc di tản. Phe Việt Nam thân Mỹ thì hoảng loạn, chẳng còn làm ăn được gì. Mọi người Việt Nam đều có khả năng gây thương tích cho Thiệu và chán Mỹ, muốn gút-bai người Mỹ. Sự căm ghét của họ đối với Thiệu quá sâu đậm rồi.

Nói cách khác, chiến tranh Việt Nam sắp đến hồi kết thúc.

 

Chương 11: "Người Mỹ các ông..."

Ba năm rưỡi qua, kể từ 20-12-1971, SG là hòn đảo kỳ quặc trong chiến tranh, không bị bom đạn đụng đến. Nó có và cách chiến trận 1.000 dặm nên không phải là chiến trường. Nhưng nó đang là chiến trường bởi vì SG là trung tâm của vùng chiến trận.

Khi Hà Nội bị B.52 tập kích thì SG chan hoà ánh nắng. Khi lính chết la liệt ở các tỉnh quanh nó thì SG bình yên. Đến tháng 4-1975, nó căng thẳng hơn đôi chut . Thế là biết cuộc chiến sắp kết thúc. Cộng Sản sắp sửa nhẩy lên chỗ ngồi của người cầm lái để làm chủ chiếc xe. Chiến tranh đang đến gần với SG, Tiếng nổ kho đạn ở Biên Hoà có thể nghe thấy được,

Cản trở duy nhât cho sự dàn xếp hoà bình trước khi khói lửa chiến tranh bốc lên ở SG được xem là Thiệu. Tiếng rít lên đòi thủ cấp chính trị của Thiệu vang động ngày chủ nhật tương đối yên tĩnh này. Ở mọi nơi "trừ văn phòng lầu ba ở toà đại sứ Hoa Kỳ" (văn phòng Martin), người ta đều chấp nhận là Thiệu phải đi thôi. Thiệu hết thời rồi. Tay tổng thống này còn ngồi đấy thì chiến tranh sẽ đến với SG.

Suốt ngày 20-4, Thiệu ngồi ở hầm trú bom dưới dinh Độc lập. Xế trưa thứ bẩy, một chiếc trực thăng đáp xuống sân cỏ của dinh. Từ trực thăng bước ra là tướng 4 sao Cao Văn Viên và tướng 3 sao Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh vùng 3 bao quanh SG. Gặp được Thiệu, Toàn đi ngay và trọng tâm: "Thưa tổng thống, cuộc chiến coi như xong" Toàn nói vậy.

Toàn nắm cuộc họp ấy, Toàn muốn Viên đi theo chỉ vì tay tổng thống này tin VIên hơn và Toàn muốn Viên làm một nhân chứng, Toàn bảo Thiệu là Phan Rang tiêu tan rồi, điều mà 3 ngày qua được giữ kín với Thiệu. Vĩnh Nghi đã bị bắt, Căn cứ không quân rơi vào tay Cộng Sản. Phan Thiết sụp đổ nhanh chóng. Chắc chắn Cộng Sản sẽ quay sang quốc lộ 1 để tràn xuống, không cần theo đường bờ biển đi vào SG.

Toàn nói cả chuyện gì đã xảy đến cho mồ mả gia đình Thiệu ở Ninh Chữ. Tay tổng thống này, tay chân vốn đã run rẩy, mặt mày trở nên trắng bệchkhi nghe Toàn nói điều đó. Toàn định ém chuyện này đi nhưng quá nhiều người đã biết chuyện. Nghi cũng đã đánh điện tín về Biên Hoà trước khi rời Phan Rang. Chuyện ủi sập mồ mả tổ tiên Thiệu là đầu đề trò chuyện ở sở chỉ huy của Toàn. Toàn nghĩ tôt hơn hết là nên nói thẳng tin này cho Thiệu biết hơn là để y nghe thiên hạ xầm xì.

Cả Viên và Toàn đều ngạc nhiên khi không thấy Thiệu nổi giận lôi đình. Viên nghĩ cách để nói rằng chuyện xảy ra là hậu quả hành động của Thiệu. Nhưng Thiệu đã quay đi bước vào phòng nghỉ, không buồn bảo Toàn và Viên về nghỉ. Hai viên tướng tự động bước ra ngoài. Đấy là chuyện của ngày thứ bẩy. Giờ đây là chủ nhật. Thiêụ đang ngồi im như tượng. Thiệu cũng không nói gì trong 24h qua ngoài câu dặn dò khôngtiếp ai cả. Nửa ngày thứ bẩy, cả ngày chủ nhật và sáng thứ hai Thiệu rút vào cô độc, không ăn uống gì mặc dầu tronghầm chứa nhiều thức ăn... Phòng báo chí vẫn loan baotóng thống sẽ dự lễ kỉ niệm Hùng Vương vào chiều thứ hai. 400 nhà báo nước ngoài vẫn chờ sẵn để quan sát tổng thống vào thời điểm khủng khoảng.

Cùng lúc ấy Lê Minh Đảo, chỉ huy sư đoàn 18 ở Xuân Lộc biết rằng thành phố kể như tiêu rồi. Đêm chủ nhật, sáng thứ hai, Cộng Sản đã chuyển quân vào để dứt điểm. Lữ đoàn dù SG đã sa lầy trong rừng cao su, trung đoàn dự bị của sư đoàn không hy vọng chọc thủng vòng vây nữa. Suốt đem, tỉnh lỵ bị pháo kích. Hoả lực tấn công của Cộng Sản còn hơn bất kỳ đơn vị bộ binh Mỹ mà Đảo đã biết. Tiền đồn xung quanh Xuân Lộc lần lượt sụp đổ.

Sau rạng đông, Đảo nói chuyện bằng điện đài với sở chỉ huy Biên Hoà. Biết là Toàn không có mặt tại đó, nhưng đã dặn lại truyền lệnh giữ Xuân Lộc càng lâu càng tôt. Không còn kiểu ra lệnh của Thiệu là giữ bằng mọi giá. Đến nửa buổi sáng thí sư đoàn 18 rõ ràng là tuyệt vọng. Xuân Lộc, biểu tượng tử thủ của quân đội SG sắp sụp đổ. Đảo ra lệnh rut bỏ vị trí và chạy.

Thiệu cũng bước ra khỏi hầm, tâm trạng âu sầu. Tay tổng thống quyết định rồi, sang phòng họp phía tây, lấy giấy but soạn thảo diễn văn. Thiệu muốn họp với tả hữu tin cậy không còn nửa tá và ra lệnh gọi Martin sau 1h nũa có mặt ở dinh tổng thống.

Các nhân viên quanh Thiệu nhanh chóng loan truyền tin Thiệu sắp từ chức. Một nhà báo Mỹ bèn gọi một cú điện đến hỏi Martin. Thế nhưng viên đại sứ lại hiểu tay tổng thống hoàn toàn trai ngược. Theo lời Martin, Thiệu có ý định ở lại chức vụ và đang chống cự với mọi nỗ lực tìm cách phế truất y. Qua truyền hình, Thiệu có ý định đòi hỏi bỏ phiếu tín nhiệm và Martin tiên đoán là Thiệu sẽ thắng.

Bài diễn văn của Thiệu nói trước đám viên chức là những lời lẽ quyết liệt. Nó được đưa lên truyền hình lúc 8h tối. Tay tổng thống noi "tình hình thật khẩn cấp", gần như phải rut lui đến dinh Độc Lập. Nếu người Mỹ chỉ cần can thiệp vào như họ đã hứa thì Nam Việt Nam đâu đến nỗi nào đang phai đương đầu với nguy cơ sắp mất thủ đô. Thiệu cả gan nói láo rằng cái gì đã xảy ra ở vùng cao nguyên là do quyết định của viên chỉ huy quân khu 2. Lệnh rut lui của cấp chỉ huy quân khu 2 tất yếu dẫn tới việc quân khu 1.

Khi Mỹ rut khỏi Nam Việt Nam năm 1973, quân đội SG mất 63% sức mạnh quân sự. Tay tổng thống ngừng nói, cắn môi rõ ràng là để cầm nước mắt. Thiệu nói: "Người Mỹ các ông... không chịu cho chúng tôi viện trợ mà các ông hứa hẹn. Tức là không ủng hộ chúng tôi nữa. Thế thì được rồi, tôi sẽ ra đi. Nếu người Mỹ không giúp đỡ Nam Việt Nam nữa hãy để họ ra đi, cút đi, hãy để họ nuốt hết những lời hứa của họ". Thiệu thay đổi giọng điệu nhanh chóng và tuyên bố từ chức.

Dân chúng thở phào nhẹ nhõm trước sự từ chức của Thiệu. Con người bị khinh miệt nhất trong đất nước đã bước xuống, chấm dứt nhu cầu đảo chính, nhưng khả năng thương lượng vẫn mong manh. Chẳng có cách gì để lấy lại đất đã mất. Ít ai cảm thấy quân đội Sài Gòn có thể bảo vệ nổi phần còn lại của Nam Việt Nam. Vậy mà định thương lượng tức là sẵn sàng quỳ xuống để đối phương nhổ nước bọt vào mặt.

Bộ đội Bắc Việt Nam tiếp tục đổ xuống theo các quốc lộ hướng về Sài Gòn, sư đoàn nối tiếp sư đoàn, đặc biệt ở phía Bắc và Tây Bắc xuống. Trong phần lớn đoạn đường, họ ngồi trên xe tải và xe tăng. Một chố giao lưu quan trọng là Đồng Xoài, cách Sài Gòn 35 dặm về phía Bắc. Tại đây, điểm giao nhau giữa các cánh quân xuất phát từ đường mòn Hồ Chí Minh, từ vùng biên giới Campuchia, từ vùng Đông Bắc, nơi các sư đoàn chiến thắng ở cao nguyên, Đà Nẵng và Nha Trang đổ về Sài Gòn. Xe vận tải nối tiếp nhau đi ngang qua Đồng Xoài, nơi trước đây có một trại lính mũ nồi xanh của Mỹ, đã bị tràn ngập. Các loại xe chuyên môn cũng đã quá nhiều, không thể đếm được. Chúng chở cầu, kéo pháo, chở xăng cho xe tăng và các loại xe khác

Một công-voa kéo dài 3 ngày xuất phát từ các dãy núi. Nó được gọi là Trường Sơn, đặt theo tên vùng cao nguyên mà nó đi ngang qua. Công-voa hầu hết là xe vận tải mới của Bắc Việt Nam mà theo như những người lái chúng cho biết là mang đủ đạn cho trận đánh một tháng.

Cuộc vây hãm Sài Gòn đang được dựng lên. Từ Đồng Xoài, hàng trăm xe tải thẳng hướng Tây, tiến về Tây Ninh, Bình Dương. Những chiếc khác đi thẳng hướng Đông theo quốc lộ 1đến Biên Hoà. Hàng trăm chiếc khác xuôi những con đường ít ai biết đến để ra Vũng Tàu và bờ biển. Vòng vây đặt quanh Sài Gòn không phải là một vòng tròn nhưng toàn vẹn và chặt chẽ. Thậm chí cả về phía Nam, nơi còn một chút kiểm soát của quân đội Sài Gòn, Cộng Sản vẫn đang đi vào vị trí để vây bọc và cắt đứt liên hệ giữa vùng châu thổ với Sài Gòn. Máy bay của không quân phần lớn chẳng có thể tìm ra các công-voa. Giả dụ dân chúng tìm ra thì cũng chẳng đủ máy bay, rồi dù có máy bay cũng chẳng có phi công nào liều chết bay đi khi đã nhan nhản tin đồn về loại tên lửa phòng không vác vai tuyệt diệu SA.7 xuất hiện trong đội hình các đoàn quân ấy.

Trong tầm pháo của Sài Gòn, bộ đội công binh Cộng Sản đặt một chiếc cầu trong vòng không đầy một ngày. Với nó, hàng tá xe tăng, đại bác hạng nặng và mấy chục xe vận tải vượt sông Đồng Nai để tấn công Sài Gòn từ hướng Tây. Khoảng chừng hơn10 sư đoàn đã bao quanh Sài Gòn và nằm im chờ lệnh tấn công. Nửa tá các sư đoàn khác đang đứng sau lưng họ, sẵn sàng bổ xung cho tuyến xung phong. Về phía Bắc và Đông Bắc, Cộng Sản ở trong vòng 20 dặm đối với thủ đô. Về phía Đông, họ cách chừng 30 dặm. về phía Tây và Tây Nam, sau khi Thiệu từ chức, Cộng Sản đang thay đổi đội hình nhưng cũng chỉ cách Sài Gòn vào khoảng 30-35 dặm.

Đến ngày 26-4, Sài Gòn là mục tiêu nằm trong tình thế đợi phía bên kia bấm nút. “Người Mỹ các ông” lừng khừng không di tản sao được nữa.

Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2008

55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ Alan Dawson Chương 4 5 6 7 8

Chương 4: Phút cuối cùng của giai đoạn mở màn - Đánh chiếm Huế

Thông tin viên của UPI ở huế điện về Sài Gòn cho biết 600 quả đạn pháo tên lử và súng cối đã rơi xuống thành phố phía Băc này vào ngày 22-3. Đây là cuộc pháo kich dữ dội nhât trong mấy năm qua. Phut cuối cùng đang đến, mặc dù một số người lạc quan ở Sài Gòn thich gọi đây là trận phòng thủ kiên cường.

Đêm ấy, tại căn cứ tiểu đoàn ở Phú Lộc, đại uý Trần Bá Phước rât sợ và nghĩ đến chuyện bỏ chạy. Cái thắng anh ta là một bài báo, hình như đã đọc trong tạp chí Mỹ "Thời báo" hay "Tuần tin tưc". Phước cho biêt đã đọc mấy năm rồi và đâu như qua cuộc phỏng vấn một lính Mỹ.

Người lính này nói rằng anh ta luôn luôn sợ hãi trong chiến đấu, một sự thú nhận làm Phươc kinh ngạc, bởi vì Phươc nghĩ rằng người lính bộ binh đáng lẽ phải không biêt sợ. Nhưng người trung sĩ dày dạn kinh nghiệm ấy lại được thưởng huy chương và nói rằng sợ hãi là chuyện tự nhiên. Nhât thiêt phải biêt đúng sự sợ hãi, phải kìm chế nó. Rồi thì lắng tai nghe mệnh lệnh và sử dụng cái đầu để suy nghĩ. Theo người trung sĩ Mỹ ấy một người lính không biêt sợ thì hoặc là ngu đần, hoặc là điên khùng, bởi vì anh ta nói láo hoặc săp đi nhà thương điên.

Nhớ lại cảm giac luc ấy và bài báo, Phươc vẫn không châp nhận rằng mình đang sợ. Phươc vẫn nghe thấy tiếng đạn pháo dội xuống Phú Bài, Huế và vùng cảng. là một tiểu đoàn trưởng, Phươc có mấy cái diện đài trong sở chỉ huy của mình. Đó là một căn lều và một hầm nhỏ. Một điẹn đài vặn tần số "mạng lưới chỉ huy liên lạc với chỉ huy sở chỉ huy tiền phươngcủa quân đoàn 1 đóng tại Huế. Mạng lưới giup Ngô Quang Trưởng tuy vẫn tỏ ra thoải mái nhưng đang bù đầu ở Đà Nẵng biêt những tin tưc mơi nhât về cánh quân phía Băc đang rung rinh của mình.

Chính trên mạng lưới chỉ huy mà Phươc nghe được thuỷ quân lục chiến đang chạy. Cộng sản mât khoảng nửa giờ để tràn qua vị trí này của thuỷ quân lục chiến dọc theo bờ sông Mỹ Chánh. Lần này đám lính thuỷ quân lục chiến không kịp ngừng lại để phá sập cầu.

Trong số lính thuỷ đánh bộ ở bờ sông Mỹ Chánh ấy có Đức đã chạy ở Quảng Trị về. Đức chẳng nghĩ đến chuyện sợ hãi. Tiếng đạn pháo rơi xuống Huế không làm cho anh ta lo ngại. Khu vực của anh ta yên lặng. Đức nằm ở dãy phòng tuyến và chẳng hề sợ khi nghĩ đến một cuộc tấn công. Một cuộc đột kich của đặc công khó có thể xảy ra. Pháo kich là chuyện có khả năng nhât, nhưng lo về nó chẳng có cach nào ngoài việc chui xuống hố cầu nguyện. Bât cứ cuộc tấn công lớn nào cũng sẽ chạm trán đám thuỷ quân lục chiến trươc khi đến Đức. Anh ta sẽ có khối thì giờ để chuẩn bị chiến đấu hoặc bỏ chạy. Anh ta nghĩ có lẽ phải chạy. Thật kỳ cục, một tuần lễ trươc, bỏ chạy là chuyện anh ta nghĩ đến sau cùng, còn giờ đây, nó lại ở ngay sờ sờ trong đầu.

Cái ý nghĩ bỏ chạy khỏi chiến trường, khi mà anh ta đã được dạy bám trụ chiến đấu và tấn công, không còn hâp dẫn đối với Đức. Khi bàn với bạn bè thì nó càng trở nên là điều châp nhận được. Chiến đấu để rồi chêt là điều ngu xuẩn khi cuộc tấn công thể nào cũng tràn ngập vị trí của mình. Một thuỷ quân lục chiến nói được tiếng Anh dịch lại thành ngữ của Mỹ "Advance to the rear" (tiến về phía sau).

Lần đầu tiên trong đơn vị của Đức, chuyện rut lui trở thành giải phap châp nhận dượcđể thay cho việc tiến tới. Họ đã biêt chuyện rut lui khỏi vùng cao nguyên. Họ đã biêt chính tổng thống của họ ra lệnh ấy. Nếu cả cao nguyên chẳng còn nghĩa lý gì thì Mỹ Chánh có nghĩa gì nữa? Về mặt tâm lý, đây là mầm mống nản chí khổng lồ đã gieo vào quân đội Sài Gòn. Chính là với lệnh rut lui khoi cao nguyên của Thiệu đã cấy vào binh sĩ của họ ý nghĩ rut lui nếu không muốn nói là đầu hàng.

Khi Đức ngồi trong giao thông hào đêm ấy, bàn chân anh ta hơi co lên khỏi cái mặt đât lạnh và ẩm ươt..., thì sờ sờ trong tâm trí anh ta là chuyện bỏ chạy, là ý nghĩ chạy khỏi chiến đấu để tìm cái sống. Phần lớn những người còn lại trong cac đội quân 1 triệu người của SG đã nghĩ tương tự trong đêm ấy.

Binh nhì Đức đang thẫn thờ ngắm dòng sông Mỹ Chánh thì trận tấn công băt đầu. một lần nữa, lại cũng những chiêc xe tăng Băc Việt Nam đã đánh bật lữ đoàn thuỷ quân lục chiến 2.500 người này ở giữa tỉnh Quảng Trị. Giờ đây, từ hướng Đông và dọc theo bờ Nam sông Mỹ Chánh, những chiêc xe tăng xuât hiện, những chiêc xich săt nghiến ken ket, nghe rõ mồn một trong cái đêm quang đãng và vẫn còn lành lạnh của mùa xuân. Đức có thể thấy một số gần anh ta nhả đạn. Pháo binh SG bắn rải rac xung quanh thuỷ quân lục chiến. Cac xe tăng Băc Việt Nam loại T.54 và xe lội nươc PT.76 đang bắn thẳng vào phòng tuyến lính thuỷ đánh bộ. Cac tay súng đại liên, với loại súng cỡ đạn 7,62 và 12,7 ly ló đầu khỏi thap pháo, nhả đạn như mưa vào lính thuỷ đánh bộ.

Sẽ không dễ gì khi rút lui lần này, Đức nghĩ vậy. Lần trước, xe tăng không bắn, bật đèn cho thuỷ quân lục chiến thấy đường mà chạy về nam Mỹ Chánh.

Giờ đây rút lui sẽ là nhận lấy một tràng đạn ghim sau lưng. Một quả đạn pháo của xe tăng xé gió bay về hướng anh ta. Anh ta rút vào hố cá nhân tránh nó. Quả đạn nổ, văng một ít đất lên người Đức. Anh ta không hề biết gì nhưng lỗ tai bị ù đặc.

Khi đỡ ù tai, anh ta nghe được một thứ âm thanh mới ở trong trước mặt bên kia sông. Xe tăng Bắc Việt Nam đang từ phía Bắc tới. Đây mới là vấn đề. Với hoả lực yểm trợ tốt, lính Cộng Sản ngồi gọn trong xe tăng lội nước PT.76 băng qua sông đổ bộ lên ngay sở chỉ huy lực lượng của Đức.

Nhiều người đang bị giết trên vành đai phòng thủ. Tiếng kêu la của số người bị thương vọng đến tai Đức, trong khi tiếng súng lặng đi. Lực lượng này của Cộng Sản rõ ràng lớn hơn ngay cả lực lượng đã đuổi toàn bộ sư đoàn thuỷ quân lục chiến ở Quảng Trị chạy dài.

Sau này Đức nhớ rằng anh ta có lẽ là người thứ 25 trong đơn vị mình bắt đầu bỏ chạy. Không có mệnh lệnh nào cả. Có thể cuộc rút chạy của tiểu đoàn dân vệ 350 người ở phía Đông đã làm đám thuỷ quân lục chiến chuyển động. Đám thuỷ quân lục chiến vẫn cố giữ kỷ luật nhưng cứ lùi. Tiến về phía sau mà, Đức nghĩ vậy.

Đức nhận ra rằng mình đang ở với khoảng năm chục người trong cùng đơn vị. Họ lui kiểu cóc nhảy, bằng trực giác, đảo ngược lại thủ tục tấn công mà họ được huấn luyện. Một dặm rồi hai dặm. Rất nhiều lính thuỷ quân lục chiến đã ngã xuống. Những người nào còn sức đều cố chạy.

Người ta nói Cộng Sản nhân đạo đối với lính bị thương. Sự việc đã đúng như vậy.

Trận đánh chiếm Huế được băt đầu như thế từ phía Bắc.

Trong vài giờ sau, nó cũng bắt đầu như thế từ phía sau: Đại uý Phước lắng nghe cuộc rút quân của thuỷ quân lục chiến trên chiếc đài bắt tần số sở chỉ huy. Phước nhìn lại một lần nữa chiếc xe Jeep của mình, vật có thể hộ thân giúp anh ta chạy theo quốc lộ 1 về Đà nẵng. Nhưng đạn pháo rơi nhiều dọc đường.

Bấy giờ, Phước rất sợ. Đã quá nửa đêm để sang ngày khác, ngày thứ bẩy 23-3. Phước gọi các đại đội khác báo cáo tình hình. Các đại đội trưởng cho biêt quân lính đang hoang mang...

Quân đội Bắc Việt Nam đẵ cắt nát 2 tiểu đoàn quân biệt động giữ sườn phía Tây của Phước ngọt như cá mập bơi trong nước. Cũng giống như cá mập, Cộng Sản nghiền vụn ngay đám 700 quân biệt động này. Đơn vị của Phước bị khep chặt bởi một vòng vây. Nhưng bộ đội Cộng Sản rõ ràng với ý định quét sạch đám quân biệt động chưa đả đọng gì đến chuyện tấn công tiểu đoàn của Đức thuộc sư đoàn bộ binh số 1 vốn được coi là giỏi nhất.

4 giờ sáng, tiểu đoàn bị tấn công. báo cáo bằng điện đài của các đại đội trưởng cho thấy rằng ít nhất có 2 tiểu đoàn Bắc Việt Nam tấn công, mỗi tiểu đoàn một hướng. Phước đang vặn từ tần số này sang tần số khác, cố gắng nắm mọi báo cáo. Thình lình nhân viên điện đài vặn tần số khác. Phước nghe được một giọng không quan, đang ra lệnh tấn công. Anh ta nhận ra ngay lập tức đó là một sĩ quan phía bên kia, Bắc Việt Nam, có lẽ là tiểu đoàn trưởng căn cứ vào loại chỉ thị và thẩm quyền của giọng nói. Phước cố gắng phát hiện kiểu cách ra lệnh của phe địch. Những gì nghe được làm anh ta rợn người. Người chỉ huy đang ra lệnh ấy giữ vững vị trí đợi các đơn vị khác tấn công. Trung đoàn hay sư đoàn nữa?

Những người khác cùng ngồi trong lều chỉ huy đều nghe được. Một binh nhất còn trẻ hét vào mặt Phước rằng tất cả bọn họ sắp sửa chết hết. Sau này Phước cho biết là đã phải "đánh gục anh chàng" tuy cố gắng không gây thương tật cho anh ta. Tình cờ Phước đồng ý với kết luận của người lính trẻ ấy. Anh ta cầm tổ hợp của điện đài ấn nut nói mấy làn. Người sĩ quan Bắc Việt Nam cảnh giác đòi biết cho được ai đang trên tần số. Phước không trả lời, nhưng cảm thấy trach nhiệm đối với những người như chàng binh nhất. Phước ấn nut tổ hợp lần nữa, hit một hơi dài và đằng hắng hai lần rồi bắt đầu nói:

"Đây là đại uý Trần bá Phước, tiểu đoàn trưởng quân đội VNCH. Các ông đang tấn công vị trí của tôi. Tôi muốn đầu hàng"

Im lặng trong chốc lát, Phước nhắc lại lời nói và buông tay khỏi nut "nói" để người sĩ quan Bắc Việt Nam có cơ hội trả lời. Trận đánh tiếp tục. Phước định nói lần nữa, nhưng thấy một giọng khác xuất hiện trên điện đài, hình như sĩ quan cao cấp hơn.

"Đây là ông Ba (bí danh của người chỉ huy cộng sản thương dùng) của Quân đội giải phóng nhân dân". Người ấy nói: Ông Ba thông báo không đứng ra nnhậ sự đầu hàng của Phước mà thuộc quyền sĩ quan cao cấp hơn. Ông ta yêu cầu trả lời. Phước trả lời xin đợi vài phút. Ông Ba cho biêt sẽ đợi vài ngày nếu cần, nhưng trong luc ấy cuộc tấn công sẽ tiếp tục.

Phước lên điện đài nói chuyện với các đại đội trưởng của mình, phác hoạ tình huống và đề cập điều kiện đầu hàng Cộng Sản. Trong vong 5 phút, ba trung uý đồng ý với Phước. Một đại đội trưởng là thiếu uý khác quan điểm với các đại đội trưởng kia. Phước van nài anh ta bằng cách vạch ra rằng đường rut lui đã bị cắt rồi. Bắc Việt Nam đang thêm quân tới. Tiểu đoàn sẽ bị tràn ngập. Hai giờ nữa mới sáng, mới có sự yểm hộ của không quân. Người thiếu uý vẫn không đồng ý...

Thình lình điện đài của người sĩ quan trẻ im bặt. Phước sắp thử tần số khác thì lại nghe một trung sĩ ôn tồn thông báo cho biết tai nạn đã xảy ra ở sở chỉ huy đại đội. Thiếu uý đã bất lực. Thực ra người ấy đã bất động vĩnh viễn rồi. Trung sĩ này đang chỉ huy đại đội. Họ chấp nhận đề nghị của Phước: Đầu hàng!

"TTXVN - (Hà Nội) 27-3.

Theo tin của TTXGP, ngày 26-3, 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 1 thuộc sư đoàn 1 - Quân đội SG ở tỉnh Thừa Thiên đã bỏ sang phía cách mạng đem thoe mọi vũ khí..."

Cho dù đầu hàng hay đổi bên thì đây vẫn là cuộc bỏ ngũ tập thể đầu tiên sang phía bên kia của quân đội SG. Vậy thì cuộc đầu hàng tập thể của một trong những tiểu đoàn ưu tú của cái sư đoàn bộ binh ưu tú áy là một bước quan trọng đẩy mạnh quá trình suy sụp tinh thần của quân đội SG. Nó cho thấy sẽ không có cảnh Cộng Sản tắm máu ở miền Nam Việt Nam. Trong vung Huế - Đà nẵng người ta biết rộng rãi tin tiểu đoàn của Phươc không bị trả thù, được đối sử quá tốt, thậm chí không giống tù binh tí nào vì đã được mang ra khỏi tinh Quảng Trị và ngủ trong các nhà bỏ lại của dân.

Bộ đội Bắc Việt Nam & Việt Cộng giờ đây kiểm soát hoàn toàn 10 trong số 44 tỉnh của Nam Việt Nam: Thừa Thiên tỉnh bao quanh Huế đã ở trong tay họ dù Huế chưa sụp đổ. Đà nẵng đang ỏ trong nguy cơ nghiêm trọng. Điều quan trọng xét vè mặt chiến lược là việc họ chiếm Quảng Ngãi đã cắt Nam Việt Nam làm đôi. Ba trong số 12 sư đoàn chiến đấu của Nam Việt Nam hoàn toàn tan nát. Thuỷ quân lục chiến không còn chiến đấu với tư cách sư đoàn nữa Quân biệt động hầu như bị tiêu diệt.

Bắc Việt Nam mất một it người theo cách tính của họ, nhưng tinh thần chiến đầu lên cao. Sự giải phóng hoàn toàn đã nằm trong tay rồi.

Giờ đây, binh nhì Đức của thuỷ quân lục chiến có thể nhìn thấy được Huế. Anh ta đã chạy, rut lui trong hơn 24h & không được ngủ. Đức còn cach Huế chỉ đôi ba dặm. Người sĩ quan chỉ huy có được 1 điện đài. Toàn thể binh sĩ đều nghe được mẹnh lệnh.

Ngô Quang Trưởng từ sở chỉ huy quân đoàn 1 ở Đà nẵng đã ra lệnh tổng phong thủ Huế. Huế sẽ không bị bỏ rơi. Sẽ có 1 trận đánh bảo vệ thành phố ấy. Đây là lệnh từ tổng thống và tư lệnh quân đoàn 1. Trên những tần số khác, thuỷ quân lục chiến nhận lệnh. Ước lượng khoảng 25.000 binh sĩ mang súng của quân đội Sg làm cuộc phòng ngự Huế để đọ sức với khoảng 40.000 bộ đội Cộng Sản. Phòng tuyến đã được vạch ra.

Nhưng SG đã rut lui khỏi Huế!

Không một ai, nhất là Trưởng lại dám thú nhận đã ra lệnh bỏ rơi Huế mà không chiến đấu. Trong lúc Đức đang ngủ thì có dấu hiệu cuộc rut lui đã đến. NGười ta đánh thưc Đức dậy. Anh ta không thể nào tin được dù cuộc di tản đang bắt đầu. Sĩ quan khóc công khai. Binh sĩ thở phào nhẹ nhõm vì rõ ràng họ không phải chết ở Huế.

Bắc Việt Nam tấn công vào trưa hôm ấy, ngày 25-3. Từ phía Tây Nam & Bắc, Cộng Sản đi vào Huế. Ở phía Nam, ngược QL1 xuất hiện Phươc trước đây là đại uý quân đội SG. Bây giờ Phươc là người dẫn đường cho Cộng Sản. Ông Ba nói thẳng với Phươc là một âm mưu đưa tiểu đoàn ông vào bẫy thì sẽ phải đổi bằng sinh mạng của Phươc.

Phươc không lừa dối. Ông ta cầm ống liên hợp của cái điện đài loại PRC-25 do Mỹ chế tạo & gọi đến sở chỉ huy Huế, nói chuyện với người thiếu tá trong nội thành. Thành Huế cách họ có nửa dặm.

Ông ta nói với người thiếu tá trên điện đài rằng ông ta tận măt biêt rõ Huế đang bị bao vây. Vũ khí mà Bắc Việt Nam là đáng sợ. Lực lượng của họ là vô địch... Người thiếu tá trong thành nội đồng ý giao thành luc 9h sáng. Một giờ sau, 10h sáng, một trợ lý của ông Ba nhận khẩu M.16 tượng trưng mà người thiếu tá trao cho ở cổng thành nội. Ông Ba không đich thân nhận súng mà đang tổ chức kéo một lá cờ Việt Cộng khổng lồ trên cột cờ thành nội. Lá cờ này lớn hơn cả lá cờ 3 sọc của SG. Nó đã được may ở một âp thuộc Quảng Trị, coi như công trình của cả xã một tháng trước đó. Kich thươc thực sự chưa rõ, nhưng những người tận mắt nhìn thấy nói khoảng 8m x 5m. Có lẽ còn lớn hơn thế.

 

Chương 5: Phút mở màn của giai đoạn cuối - Mất Đà Nẵng

Việc mất Huế là thảm hoạ có một không hai cho chính quyền SG trong cuộc chiến. Từ ngày ông Ba kéo là cờ Việt Cộng lên trên thành nội, Nam Việt Nam đã đến ngày tận số. Mọi người Nam Việt Nam đều biết Huế, SG có thể là thủ đô, Đà nẵng có thể là một thành phố quan trọng hơn về mặt thương mại, nhưng nhiều người chống cộng và dân chung thân chính quyền rât sững sờ trươc việc mất Huế. Với tính cách giành một thắng lợi nhanh gọn, Bắc Việt Nam đã làm rất tôt trong việc chiếm Huế. Nhưng việc chiếm Huế mà không phải giao tranh là thắng lợi quan trọng nhất trong cuộc chiến. Cái sự kiện quân đội SG được lệnh rut khỏi thành phố làm mọi người sửng sốt gấp đôi.

Thiệu không để dấu hiệu yếu kém nào lộ ra bề ngoài tuy nhiên bên trong các hội đồng cơ cấu quyền lực SG, khó khăn bộc lộ lan tràn. Quân đội vốn là nền tảng của chế độ lại đang tan rã... bỏ rơi từng mảng đất rộng lớn & các thành phố mà không chiến đấu.

Thiệu chẳng ngu gì vì có quyền lực, và khư khư muốn giữ lấy nó, tin rằng chỉ mình mình là có thể cứu Nam Việt Nam khỏi tai hoạ bàn tay đám ngoại bang muốn thấy nó đổ sụp. Thiệu kể luôn người Mỹ vào đám ngoại bang này. Chính trong lúc ấy, tịa Đà nẵng, sự hỗn loạn đang lớn dần & trở nên tồi tệ. Thành phố này là điểm tập trung cho 1 triệu hoặc 1,5 triệu người di tản. Ngày Huế sụp đỏ, 14 hoả tiễn đã rơi trúng căn cứ không quân Đà nẵng. Sự hoảng loạn tự nó lớn lên ở Đà nẵng và chẳng ai có thể làm gì đối với nó.

Ngô Quang Trưởng vẫn còn làm việc vào ngày sau hôm Huế sụp đổ, nhưng hoạt động của Trưởng đã trở nên mơ hồ. Trưởng muốn đám sống sot của sư đoàn bộ binh 1 đi về phía Tây & Tây Nam. Đám biệt động quân ở phái Nam thay lính dù đã bị Thiệ rut về SG. Vùng phía Nam là mắt xich yếu nhât. Nhưng đám quân còn lại từ Huế đổ bộ lên Đà nẵng thì thật thảm thương. Binh sĩ ném bỏ trang bị. Sư đoàn 1 bộ binh không còn là lực lượng quân sự nữa. Đây là đám người cuồng dại. Dân chúng há hốc mồm nhìn đám người đó, lòng cay đắng vì trước đây nó là lực lượng thiện chiến nhất của quân đội SG.

Rạng sáng ngày 28-3, bộ chỉ huy của Cộng Sản ở Đà nẵng đã ban hành mệnh lệnh. Lệnh đó được chuyển nhanh chong xuống các đơn vị thâp nhât, không cần giữ bí mật nữa. Nó được đài phát thanh Cộng Sản loan đi như tài liệu tuyên truyền:

"... Nhân dân Đà nẵng hãy nổi đạy cùng với các lực lượng vũ trang giải phóng nắm lấy quyền quyết định vận mệnh của mình. Bọ địch đã bị bao vây & đang bị tấn công. Chúng đang tìm cách tháo chạy. Thời cơ giải phóng tỉnh Quảng Đà và TP Đà nẵng đã đến..."

Mệnh lệnh thật giản đơn và rõ ràng. Bắc Việt Nam đã cảm thấy việc tấn công Đà nẵng gần kề đến nỗi bỏ qua cả bí mật trong mệnh lệnh tấn công. Họ cảm thấy phổ biến lệnh ấy thuc đẩy sự đầu hàng của Đà nẵng... Vào trưa ngày 28-3, một buổi trưa thứ sáu ở các nơi khác trên thế giới với ngày nghỉ cuối tuần đang đến và chẳng còn chuyện gì khác thì Đà nẵng lại đang ở cơn co quắp cuối cùng của sự kinh hoàng.

Binh sĩ từ Huế đến đang nổi loạn. Nhưng sĩ quan nào kiểm soát nổi đám lính sống sót từ Quảng Ngãi - Tam kỳ ra, cũng như từ Quảng Trị về. Họ đang biến thành các đám đông cuồng dại. Tiếng súng nổ như pháo Tết. Giết người và hãm hiếp trở thành chuyện bình thường. Cướp bóc ngự trị ngay ngày hôm ấy.

Trong cái mệnh lệnh cuối cùng được xem là còn bình tĩnh, Trưởng ra lệnh cho các xe tăng của quân đội Nam Việt Nam xuống đường tái lập trật tự và giới nghiêm 24/24 giờ. Nó chẳng làm được chuyện gì vì đa số lính trên các xe tăng gia nhập đám người vơ vết. Lính khac thì sợ chăngnr ai chống lại vì không ai muốn chết trong cái ngày có vẻ là cuối cùng của cuộc chiến. Họ càng chẳng muốn chết trong chiến trận với đồng ngũ cùng mang thứ quân phục với mình.

Quá trư 28-3, tình hình quân sự xung quanh Đà nẵng thật đen tối. Hội An, cách Đà nẵng 15 dặm về phía Nam đã bị bỏ rơi, tạo thuận lợi cho Cộng Sản thọc vào Đà nẵng.

9h tối, hoả tiễn bắt đầu rơi xuống Đà nẵng. Các tuyến phòng thủ phía Nam và phía Tây sụp đổ. Ngô Quang Trưởng, người anh hùng, người lính chiên, người đào hố tử thủ, đã rút ra ngoài tìm đến một chiếc tầu gần bờ. Trưởng đã một mực sử dụng giả thuyết cho răng trong thành phố quá nguy hiểm, sẽ bị đám lính lang thang cướp bóc gây nguy hại cho sự chỉ huy, Trưởng cho biêt sẽ chỉ huy trận đánh giành Đà nẵng tù ngoài bờ.

Điều nhanh chóng thấy rõ là Trưởng không biết bơi, it nhất là bơi không giỏi. Sóng nước không lớn, nhưng các ngọ sóng bạc đầu đang ở cách bờ khoảng 100m. Ngọn sóng thứ nhất vật ngã Trưởng, ngọn sóng thứ hai phủ lên người viên tướng này.

Trong tình hình Trưởng ra đi còn khoảng 100.000 lính có mặt trong vùng. Ước đoán có khoảng 80% đang cố sức thoát ra hoặc vơ vét cái gì có thể kiếm được trong khoái lạc bắn giết và cướp bóc. Các tướng khác đang hoạch định hai chuyến bay bí mật. Đà nẵng đã được trao tay rồi. Nó chẳng còn nữa, mất hết, đã được trao về cho Việt Cộng & Bắc Việt Nam.

Thành phố Đà nẵng, thành phố lớn thứ nhì ở Nam Việt Nam đã sụp đổ. So với bất kỳ thành phố nào trên toàn bộ đất nước được nó phòng thủ mạnh nhât và được cầm đầu bởi viên tướng được coi là giỏi nhất trong quân đội SG. Các kho của nó chất đầy lương thực đủ dùng trong nhiều tháng, chứa đầy đạn dược và vũ khí đủ dùng trong 60 ngày.

Hai xe vận tải chở đày du kích, quá nửa là phụ nữ đã vào chiếm thành phố. Một lần nữa, Cộng Sản đã chiến thắng gần như không một phát súng. Gần như thế! Cộng Sản lúc đó có 13 tỉnh Nam Việt Nam dưới quyền kiểm soát của họ. Với việc chiếm Đà nẵng, Cộng Sản nắm được đúng 50% lãnh thổ Nam Việt Nam đằng sau phòng tuyến của họ.

Ngày 30-3, một ngày sau khi Đà nẵng sụp đổ, lại là ngày chủ nhật. Chủ nhật nên không có cuộc họp báo của chính quyền SG nhưng Lê Trung HIền vẫn có mặt ở văn phòng. Hiền đang nghĩ cách xem phải nói gì về Đà nẵng trong buổi họp báo xế trưa hôm ấy. Hiền sẽ không nói láo mà chiến thuật của Hiền là thận trọng thế nàođể khỏi ghi công cho kẻ thù trước khi họ xứng đáng nhận nó một cách công khai.

Hôm ấy các nhà báo cũng tránh hỏi Hiền về việc mất cái thành phố lớn thứ nhì đó.

 

Chương 6: Mọi việc vẫn ổn định

Khi bộ đội Cộng Sản vào chiếm thành phố ngày 29-3 thì binh nhì Đức đang ở trên một tầu hải quân Nam Việt Nam ở ngoài khơi Đà nẵng. Có lẽ có khoảng 2.000 lính thuỷ đánh bộ trên tầu, phần lớn phải đứng thôi. Quả thật chẳng còn chỗ nào mà nằm nữa. Mũi tầu đang hướng về phía Cam Ranh. Lúc 2h trưa, một chiếc trực thăng Mỹ lượn sát phía trên con tầu. Trên máy bay có Kenedy, một nhà báo và là bạn của tổng thống Ford vừa sang Nam Việt Nam. Trên tầu, đám bạn của Đức đã dương súng M.16 nhằm chiếc trực thăng mà bắn. Đó là một cách bầy tỏ sự phẫn nộ. Chiếc trực thăng với lá cờ Mỹ đang chế nhạo họ, họ nghĩ như vậy. Những người nào không có súng thì la hét, chửi rủa chiếc trực thăng, vung nắm đấm lên đả đảo nó. Chiếc trực thăng trao mình rồi bay vọt ra xa. Không ai bị thương và máy bay cũng không hề gì, nhưng Kenedy tỏ ra sửng sốt. Chính cái sư đoàn thuỷ quân lục chiến mà Kenedy khen ngợi nhiều lần là cái sư đoàn giỏi nhất nhì trong quân đội SG lại tìm cách giêt người Mỹ. Biến cố ấy cho Kenedy cái nhìn sâu sắc vào tinh thần quân đội SG. Nói tóm tắt, rõ ràng là nó chẳng còn tinh thần nào cả. Kenedy định viết báo cáo riêng cho Ford sau khi từ Nam Việt Nam trở về.

30-3, một ngày sau khi Đà nẵng sụp đổ, tướng P. Weyand tham mưu trưởng lục quân Mỹ là chuyến công du tìm hiểu sự thật ở Nam Việt Nam đã có mặt ở Nha Trang. Weyand đang tận mắt quan sát những gì còn lại của quân khu 2 Nam Việt Nam, vùng miền Trung đất nước. Tư lệnh quân khu là Phú. Chính Phú là kẻ đơn độc đứng trước mặt Thiệu ngày 14-3 khi tay tổng thống này ra lệnh rut khỏi Tây Nguyên.

Phú đang thuyết trình cho Weyand tình hình. Lẽ tất nhiên không có gì để lạc quan. Nha Trang còn yên tĩnh. Theo con mắt của các sĩ quan hành quân thì không có gì hiểm nghèo cả. Weyand nhất trí như thế. Lý do cho sự lạc quan ấy là niềm tin rằng: Cộng Sản, sau khi chiếm được những mảnh đất khổng lồ và trung tâm dân cư, sẽ phải ngừng bước tiến để củng cố thành quả và bổ xung lực lượng.

Những dữ kiện và lập luận mà Weyand thu được là cho ông ta có thể về Washington mà nói: :"Lực lượng Nam Việt Nam không mất tinh thần xét theo bất cứ khía cạnh nào. Quân đội SG sẽ đứng lên chiến đấu"

Còn ở Nha Trang hôm ấy, Weyand nói: “mọi việc đang ổn định”. Các nhà báo ghi lia lịa. “Tôi phấn khởi trước những gì nhìn thấy được do quân đội Việt Nam Cộng hoà đang làm. Họ đang hành động giỏi”. Weyand nói quân đội Sài Gòn đã quyết định phòng thủ “phần sinh tử” của Nam Việt Nam, và “phần sinh tử” ấy bao gồm Nha Trang và vùng đất phía Nam của nó. Phú đã tuyên bố sẽ phòng thủ luôn cả Quy Nhơn và tỉnh phía Bắc Nha Trang.

Weyand, Phú và các chuyên gia của họ đều xem những gì xảy ra trước đây đều là chân lý vĩnh cửu. Những đơn vị bộ đội Cộng Sản chưa bao giờ có thể di chuyển nhanh. Phương án chiến đấu của họ có phạm vi hạn chế và chẳng còn chỗ cho cấp chỉ huy chiến trường quyết định. Vào thời điểm Nha Trang, các các sĩ quan tình báo Sài Gòn vẫn cho rằng chiến thuật Cộng Sản vẫn như cũ. Họ đã thu được thành quả cơ bản ở Tây Nguyên, quân khu 1 thì Bắc Việt Nam hẳn phải dừng lại củng cố. Các đường tiếp tế phải đuổi bắt kịp xe tăng và bộ binh. Đấy là cách mà mấy năm qua họ đã từng chiến đấu. Chẳng ai nghĩ hoặc nghĩ quá ít đến việc Bắc Việt Nam đã cải tiến phương phác tác chiến và trên thực tế đã giao thêm quyền quyết định cho các tư lệnh chiến trường. Các tuyến tiếp tế đang đi theo quân Bắc Việt Nam chứ không còn nằm cố định sau phòng tuyến nữa.

Một điểm khác chẳng mấy ai nghi ngờ là Weyand cũng như Phú và chính quyền Sài Gòn đánh giá không đúng sự đổ vỡ tinh thần của dân chúng chống + và binh lính Sài Gòn. Họ cảm thấy bị phản bội. Không những bởi Mỹ không còn viện trợ mà bởi cả tổng thống của họ là Thiệu. Trong lúc ấy họ lại coi Bắc Việt Nam thuộc hạng siêu nhân. Thế là thấy được “Việt Nam Cộng hoà” tận số rồi. Weyand và các nhà lãnh đạo Mỹ vì lý do nào đó mà đui mù trước thực tế này, thái độ đó sẽ gây biết bao thống khổ trong 31 ngày kế tiếp.

Thống khổ đầu tiên thấy được là tấn thảm kịch Nha Trang sụp đổ ngày 1-4, không có lấy một cuộc giao tranh, sụp đổ trong sự hoảng loạn. Hoảng loạn bắt đầu từ việc mất Quy Nhơn. Tên tỉnh trưởng và tư lệnh sư đoàn 22 đã bỏ rơi tỉnh lỵ Bình Định quá nhanh chóng. Phần nửa cái sư đoàn 10 nghìn người ấy với trang bị đầy đủ để đánh nhau lại bỏ chạy lên tàu thuyền. Bộ đội Bắc Việt Nam, ước lượng chỉ độ cấp trung đoàn đã xung phong vào Dục Mỹ. Việc Dục Mỹ bị bỏ rơi không có ai chống cự đã vọng về Nha Trang. Sở chỉ huy của Phú đã gói ghém hành trang, rõ ràng là nó lại sắp di chuyển. Sự hoảng loạn từ đó mà lớn lên không ai ngăn được.

Binh nhì Đức và đám thuỷ quân lục chiến đến vịnh Cam Ranh ngày 1-4. Bọn quân cảnh, bình thường dữ tợn, nhưng lúc này thấy hãy nên tránh xa bọn thuỷ quân lục chiến. Bọn này lên bờ, bắt đầu chất người lên xe tải, xe jeep, xe du lịch, chĩa súng vào người lái yêu cầu chở đi Nha Trang. Những người lái hiểu ngay vì không muốn bánh xe bị bẹp gí bởi đạn M.16. Vừa ra khỏi vịnh Cam Ranh, đám thuỷ quân lục chiến nhanh chóng biết được Nha Trang giờ đây hoặc chẳng bao lâu nữa sẽ nằm trong tay Cộng Sản.

Gần một nửa đám lính này lại gí súng vào lái xe yêu cầu đưa họ quay lại vịnh Cam Ranh. Họ lại lên những chiếc tàu đã chở họ từ Huế đi Đà Nẵng, từ Đà Nẵng đi Cam Ranh và bây giờ từ Cam Ranh xuôi tiếp về phía Nam. Đức không có mặt trong tốp đó. Đức và hàng nghìn người khác cứ ngồi trên xe chạy dọc quốc lộ 1. Mục tiêu là đến Sài Gòn. Hàng nghìn người khác bỏ chạy về phía Nam, trong đó có cả Phú và sở chỉ huy quân đoàn 2.

Cũng như Đà Nẵng, việc Nha Trang sụp đổ được xác nhận bằng một cú điện thoại đến chỉ huy quân sự ở Sài Gòn. Từ Nha Trang, tỉnh trưởng Khánh Hoà đã gọi về lúc xế chiều. Ông ta hét vào tai người sĩ quan trả lời điện thoại, làm cho người này sững sờ với câu nói: “Tôi đi đây, tình hình tuyệt vọng rồi”. Rồi ông ra cúp điện thoại.

Giờ đây, cái gọi là quân lực Sài Gòn một triệu người đã bị tiêu diệt đúng phần nửa. Sáu sư đoàn rưỡi được gọi một cách văn vẻ là “mất hiệu lực tác chiến”. Chẳng sư đoàn nào sẽ chiến đấu trở lại. Những gì còn lại: chỉ có nửa sư đoàn dù và sư đoàn 18 được xem là còn đôi chút giá trị. Các sư đoàn 5 và 25 đã mất hiệu lực vì tư lệnh của chúng nằm tù do tham nhũng và bán vật liệu cho Việt Cộng. Ba sư đoàn khác nằm trong vùng châu thổ, năng lực đáng nghi ngờ và không thể chuyển về Sài Gòn được.

Hai tỉnh khác cùng Nha Trang rơi vào tay Cộng Sản là Quy Nhơn và Tuy Hoà. Thế là 15 trong số 23 tỉnh phía Bắc Sài Gòn vĩnh viễn nằm trong tay Bắc Việt Nam và Việt Cộng. Riêng tại Đà Nẵng, 100 nghìn lính Sài Gòn bị bắt. Tổng số lực lượng bị mất ước chừng 300 nghìn người, chưa kể số binh sĩ chẳng bị bắt, bị thương mà chỉ hoàn toàn vô tổ chức. Ba trong bốn thành phố lớn nhất ở Nam Việt Nam đã nằm trong tay Cộng Sản. Khoảng 2 triệu dân di tản về phía phòng tuyến Sài Gòn. Họ là những người làm nghẽn đường đi, ngốn thức ăn, làm mất thì giờ và đòi chiếm đủ mọi thứ phương tiện khác.

Chính trong ngày này, cột trụ của Thiệu là Trần Thiện Khiêm thông báo ý định từ chức. Khiêm nói thẳng với Thiệu rằng Thiệu đã mất hết tín nhiệm không những đối với các nhà chính trị mà còn cả với quân đội nữa. Khiêm là một trong hai tướng 4 sao ở Sài Gòn (tay kia là Cao Văn Viên) là lý do chính giữ Thiệu tại vị. Chừng nào Khiêm còn ủng hộ Thiệu thì đa số các tướng khác cũng vậy. Thiệu đang cố tìm cách né tránh những lời đả đảo đã huỷ bỏ luôn buổi họp chia tay với tướng Weyand lúc 5 giờ chiều ngày 1-4. Thiệu hẹn gặp lại Weyand, Martin và tướng Viên vào sáng ngày 2-4. Weyand đang nóng nảy muốn cuốn gói về sớm để báo cáo với tổng thống Mỹ. Nhưng Thiệu lại huỷ bỏ buổi hẹn ấy lần nữa. Đang bù đầu với những khó khăn chính trị, Thiệu chưa sẵn sàng gặp những người Mỹ này. Rốt cuộc, chiều ngày 2-4, lúc 17 giờ Thiệu mới chịu tiếp họ. Tay tổng thống đã bị tác động nên khinh miệt gay gắt với Martin và Weyand, Thiệu rút ra một lá thư của cựu Tổng thống Nixon hứa can thiệp bằng quân lực Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam nếu Cộng Sản vi phạm hiệp định. Thiệu mắng nhiếc chính quyền Mỹ, nói thẳng vào mặt Weyand là về phần mình, con người Thiệu đã bị Kissinger viết chung một hoá đơn bán đứt cùng với Hiệp định Paris rồi. Cuộc gặp gỡ cù cưa, cù nhầy cho đến lúc nó chấm dứt.

Trong lúc những chuyện đại loại như vậy đang diễn ra ở Việt Nam thì ở Washington, Nhà Trắng nhận được báo cáo: Mọi việc vẫn ổn định và có chiều hướng tốt.

 

Chương 7 : Tuyến phòng thủ và trẻ em

Trận đánh chiếm Sài Gòn đã bắt đầu từ cái ngày sau thảm họa Nha Trang, mặc dù lúc ấy ít ai nhận ra điều đó. Đúng 4 tuần sau, nó kết thúc thảm họa di tản sứ quán Mỹ vài giờ.

Với những ai ở Việt Nam 4 tuần ấy, các sự kiện như nhoè đi. Những giờ phút thật dài, trí nhớ không hoàn toàn đáng tin cậy nữa. Muốn viết phải sắp xếp lại dữ kiện, không thể dựa vào trí nhớ riêng của mình. Phải dựa vào cả những ghi chú, điện văn có liên quan. Sự kiền dồn dập như phim quay nhanh. Với người Nam Việt Nam, nó còn là thảm kịch, sợ hãi, tuyệt vọng. Tháng 4 ở Sài Gòn là toàn bộ cuộc chiến tranh 30 năm thu nhỏ lại.

Trẻ con Việt Nam được thế giới nhìn như đám cô nhi lăn lóc trở thành chất xúc tác cho cái bệnh di tản sau khi Nha Trang sụp đổ. Những người quản lý các viện mồ côi ở Sài Gòn để lộ ý muốn của họ cho đám trẻ con đi. Điều này tức khắc trở thành thời cơ tuyên truyền không chỉ riêng cho những người thực tâm giúp đỡ trẻ em. Những kẻ mỉ mai, ích kỷ đã tìm thấy thời điểm ngon lành. Trong bọn này phải liệt Martin vào đấy. Vào một lúc không được kín đáo, Martin đã nói với một người trong đám thân tín rằng, vấn đề di tản trẻ con là đòn tuyên truyền tuyệt diệu. Viên đại sứ cảm thấy việc làm rùng beng tối đa chương trình di tản trẻ em giúp vào việc lái dư luận quốc hội Mỹ nghiêng về phía Sài Gòn. Mọi âm mưu đã thành công. Chiều ngày 3-4, một chiếc DC.8 đã chở 85 trẻ mồ côi và một số nhà báo chọn lọc từ Nam Việt Nam đi Mỹ. Chiếc C5A đã hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất sáng sớm ngày 4-4. Nó quá lớn đến nỗi có vẻ chậm chạp trong khi bay. Công nhân bốc xuống hàng chục tấn thiết bị quân sự cho cái quân đội khốn khổ. Người ta sắp đặt cho nó cất cánh trưa hôm ấy với chuyến hàng chính thức là trẻ mồ côi và những người Mỹ, danh nghĩa là đi theo chăm sóc trẻ. Các nhà báo được ân cần mời ra Tân Sơn Nhất để chụp hình và phỏng vấn đám trẻ lên phi cơ. Chiếc C5A thuộc loại máy bay khổng lồ trên trời. Một số ít may mắn kiếm được ghế ngồi còn tuyệt đại đa số khoảng gần 400 trẻ em phải chui xuống dưới các dây chằng hàng. Cuối cùng cái cửa sổ khổng lồ cũng được đóng lại. Nó được đài không lưu báo là trống chỗ để di chuyển ra đầu đường băng. Phanh nhả ra. 4 động cơ phản lực khổng lồ rít lên. Chiếc máy bay lấy đà rồi cất cánh.

4 giờ 45 phút chiều hôm đó, máy bay ra đến biển Đông ở độ cao 4 dặm. Nó tiếp tục nâng độ cao lên 8 dặm mới ổn định đường bay. Lúc bấy giờ, trong máy bay hành khách còn bị chằng dây an toàn. Phần đông người lớn nắm tay nhau thành trò vui. Một số người cất tiếng hát. Bỗng nhiên, cánh cửa máy bay văng mất, sức hút của gió cuốn đi những vật gì không được cột chặt trong máy bay, kể cả mấy đứa trẻ sơ sinh. Chiếc máy bay cố tìm cách quay lại Tân Sơn Nhất. 20 phút sau, phi công không sao giữ được máy bay ổn định nên quyết định hạ cánh khẩn cấp. Chiếc phản lực khổng lồ chạm xuống một cái gò trên ruộng lúa, lướt qua con rạch rồi sựng lại trong đám ruộng kề đó, cách Tân Sơn Nhất không đầy 2 dặm. Lửa bùng cháy và khói làm cho số lớn người trên máy bay bị thiệt mạng.

Martin nhận cú điện thoại báo tin tai nạn máy bay rơi. “Chiếc C5A đã rơi”-một viên chức Hoa Kỳ nói với Martin bằng điện thoại siêu tần số của toà đại sứ. “Vâng”, Martin trả lời. “Có người sống sót”, viên chức ấy nói tiếp. “Vâng, cảm ơn anh”. Martin đáp rồi cúp điện thoại.

19 giờ sau, một máy bay phản lực B.747 chở 400 trẻ em khác ra khỏi Việt Nam. Cuộc di tản những người Mỹ vẫn không được sứ quán Hoa Kỳ giúp đỡ. Martin sẵn sàng giúp trẻ con bởi vì đám cô nhi ấy “giúp” ông ta. Còn với đồng bào của viên đại sứ, Martin vẫn giữ vững lập trường là pháp luật phải được tôn trọng.

Quân đội Sài Gòn đã bỏ thêm Đà Lạt vào ngày 3-4. Ở Sài Gòn người ta tự hỏi khi nào phòng tuyến được giữ vững? Khi Đà Lạt được trao cho Cộng Sản thì Khiêm đọc diễn văn cuối cùng trên đài phát thanh quân đội Sài Gòn. Thực tế Khiêm vẫn là quân nhân nhưng đã lột sao để nắm vai trò dân sự là thủ tướng. Với giọng đều đều, Khiêm đã đọc bài diễn văn chiến đấu trong giờ ngủ trưa, không chắc có đến 10% người nghe, van nài đồng bào đừng rút lui, công bố ý định từ chức để phản đối Thiệu.

Ngày 4-4 ấy là ngày bận rộn đối với Thiệu. Chấp nhận cho Khiêm từ chức, mở cuộc bắt bớ thứ hai các đối thủ chính trị, gặp Weyand trước khi viên tướng này về báo cáo với Ford. Weyand cho Thiệu biết rằng viện trợ cho Nam Việt Nam sẽ gặp khó khăn nếu rút lui nữa. Mỹ đã quyết định lập phòng tuyến Phan Rang-Tây Ninh, nhưng Nha Trang sụp đổ làm Weyand xúc động vì ở đó ông ta đã nói với các nhà báo rằng, Sài Gòn sẽ chiến đấu. Weyand đã nói thẳng với tay tổng thống Nam Việt Nam rằng những cuộc rút lui quy mô lớn làm mất phiếu quốc hội ủng hộ Sài Gòn. Lực lượng của Thiệu ít nhất cũng phải một lần chiến đấu, thắng được một trận càng tốt.

Thiệu hứa một trận đánh như vậy sẽ diễn ra. Sau đó, Thiệu triệu tập các cố vấn quân sự và quyết định Phan Rang là địa điểm. Thiệu moi móc trong chốc lát rồi quyết định trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi sẽ cầm đầu cuộc chống giữ ấy.

Viên tướng ba sao này chẳng có thành tích chiến trường nào đáng nói. Nghi đã làm tư lệnh quân khu 4 nhưng tham nhũng công khai, đến nỗi người Mỹ cũng thấy ngượng và đã buộc Thiệu phải cách chức Nghi năm 1974. Nghi không có tài nhưng có lòng trung thành đặc biệt với Thiệu, điều có thể sử dụng vào năm1975 này. Lần này, Thiệu giao cho Nghi quyền chỉ huy Phan Rang và Phan Thiết cách Sài Gòn 165 dặm về phía Đông Bắc. Về nguyên tắc, Nghi phải báo cáo về sở chỉ huy quân đoàn 3 ở Biên Hoà.

Tối ngày 4-4, Thiệu lên đài truyền hình, khiến người ta phải nhức mắt. Thiệu chửi Mỹ đã cắt viện trợ và kết luận: làm sao người ta có thể tin ở Mỹ được. Thiệu chửi báo chí, doạ trừng trị các hãng thông tấn ngoại quốc bóp méo sự thật. Thiệu sôi nổi hỏi tội các cấp chỉ huy không chịu cố thủ. Với kế hoạch bỏ rơi Tây Nguyên, Thiệu coi đó là”chiến dịch quân sự xuất sắc bị quân đội thực hiện tồi”, Huế mất vì “phải chọi với lực lượng cộng sản ưu thế hơn”. Đà Nẵng sụp đổ vì “không có thì giờ dựng lên một vành đai phòng thủ trong tình hình hoảng loạn”. Thiệu xác định mình vẫn sẽ là tổng thống và quân đội sẽ chiến đấu từ Phan Rang. Kết thúc bài diễn văn gay gắt, Thiệu ra lệnh tống giam ba tướng: Phạm Văn Phú vì đã cãi vã với Thiệu về chuyện bỏ Tây Nguyên, Phạm Quốc Thuần vì không phòng thủ Nha Trang, Dư Quốc Đống để mất Phước Long. Còn viên tướng thứ tư mà Thiệu muốn bỏ tù thì lại đang nằm giường bệnh vì bị giày vò và xấu hổ, đó là Ngô Quang Trưởng. Trưởng chằng giữ nổi thành phố nào ở khu vực phía Bắc, nằm bệnh viện và đang tuyệt thực. Nhưng Trưởng không điên. Đến ngày tận số của Nam Việt Nam thì Trưởng là người đầu tiên leo lên trực thăng Hoa Kỳ.

Binh nhì Đức của thuỷ quân lục chiến ngồi xe xuôi theo quốc lộ 1, rời Cam Ranh ngày 1-1. Anh ta dừng chân ở quận lỵ Du Long cùng bạn bè “mua” thức ăn bằng súng, thuê gái đĩ bằng dao găm nhởn nhơ vài ngày. Đến ngày 6-4, khi bốn lính thuỷ quân lục chiến, trong đó có Đức-cười sằng sặc bẻ khóa vồ một xe Jeep và đi thẳng tiếp về Sài Gòn thì đã tươi tỉnh lại. Ra khỏi thị trấn 15 dặm, cả bọn đụng đầu với quân cảnh và bị xung vào quân đội một lần nữa. Đám quân cảnh ấy đang làm việc cho Vĩnh Nghi. Bất cứ ai có vẻ có khả năng chiến đấu đều bị xung vào hoặc ép trở lại quân đội Sài Gòn để phòng thủ Phan Rang.

Một trong các lý do chọn Phan Rang làm phòng tuyến vì đó là quê Thiệu. Nhiều người cho đấy là lý do độc nhất. Tay tổng thống này sinh ra ở bên ngoài Phan Rang, gần Ninh Chữ và sát bờ biển. Mẹ Thiệu sống ở đó đến đầu thập kỷ 70. Tổng thống hay về thăm quê, thường xuyên hơn mọi vùng khác của đất nước. Thiệu theo đạo Thiên chúa là do chiều ý vợ. Lúc nhỏ, Thiệu theo đạo Phật nên vẫn về Ninh Chữ đều đặn để thăm mồ mả tổ tiền.

Nghi chẳng phải là con người khờ dại về chính trị nên đã vạch kế hoạch phòng thủ Phan Rang bao gồm cả Ninh Chữ, cách Phan Rang 5 dặm về phía Bắc, hơi chếch về hướng Đông. Ninh Chữ không phải là nơi hoàn toàn có thể phòng thủ được. Vài chuyên gia cũng thắc mắc nhưng Nghi giải thích rằng, nó có thể kiếm soát được đường rút lui, hoặc mất Ninh Chữ thì tỉnh lỵ sẽ nằm trực tiếp dưới hoả lực Cộng Sản.

Đức và 3 người bạn thuỷ quân lục chiến đến Ninh Chữ. Có mặt ở đây gồm quân biệt động, lính bộ binh, nghĩa quân và cả mấy lính không quân. Một số trong đám lính này thậm chí chẳng hề biết viên đạn nằm ở đầu nào của cây súng. Nét chung nhất của lực lượng phòng thủ Ninh Chữ là hầu hết số lính bỏ chạy khỏi chiến trường nơi khác trong 3 tuần lễ qua. Ninh Chữ trở thành một làng chết được bảo vệ bởi đám lính thích bỏ chạy. Ít ai tin rằng họ sẽ thôi không chạy nữa.

Trung tá Bảo xuất hiện vào chiều ngày 7-4 để lãnh trách nhiệm phòng thủ Ninh Chữ. Ông ta báo cáo trực tiếp về tướng Nghi. Theo lời ông ta nói với lính rằng ông ta có ý định giữ vững Ninh Chữ cho viên tướng cũng như cho tổng thống. Bảo là con người nổi bật. Cầm đầu đám lính có một không hai với bộ đồ trận mới toanh và giầy bóng loáng. Ông ra không cho biết mình từ đâu đến, tuy nhiên Đức và đám bạn thân đoán được rằng ông ta từ bộ chỉ huy Sài Gòn ra và được Nghi đích thân lựa chọn.

Khó xác định được đúng ngày trận đánh Phan Rang khởi sự. Thành phố bị pháo kích và dân chúng bỏ đi từ trước khi Nghi nắm quyền chỉ huy phòng thủ. Cuộc tấn công lớn bằng bộ binh xảy ra lần đầu tiên ngày 7-4. Nhưng những biến cố khác làm mờ cuộc phòng thủ Phan Rang. Đó là cuộc ném bom dinh Tổng thống Thiệu ngày 8-4, một điểm ngoặt dẫn đến cuộc di tản người Mỹ.

 

Chương 8 : Cái hố tử thủ

Trận đánh Sài Gòn đã bắt đầu, nhưng dân chúng chỉ phát hiện được vào ngày 9-4, một ngày sau cuộc ném bom dinh Thiệu. Ngày 7-4, trận đánh Phan Rang bắt đầu nóng bỏng. Đức không nhìn thấy nhưng nghe được tiếng pháo kích nặng nề trong tỉnh lỵ và căn cứ không quân cạnh đó. Ở Sài Gòn, Thiệu ra lệnh tống giam tư lệnh không quân Tân Sơn Nhất. Tướng 2 sao Nguyễn Văn Hiếu, phó tư lệnh quân khu 3 tự tử sau khi cãi nhau với tướng 3 sao Nguyễn Văn Toàn về chuyện phòng thủ thủ đô. Trận đánh lớn nhất là ở tỉnh Long Khánh, cách Sài Gòn 38 dặm về hướng Đông Bắc. Toàn bộ một sư đoàn Cộng Sản tràn đến Xuân Lộc. Một cái hố tử thủ đã được đào vào thời điểm ấy.

Phòng thủ Xuân Lộc là lính sư đoàn 18, sư đoàn tệ nhất trong quân đội Sài Gòn. Khi mới được thành lập, nó mang danh sư đoàn 10 và đi đến chỗ màng biệt hiệu “năm-bơ ten” (number ten), một tiếng Anh mà người Việt Nam nói bóng để chỉ “đồ tồi tệ nhất”. Do sự nhục mạ của dân chúng ngày càng nhiều đối với sư đoàn “năm-bơ ten”, nó được đổi thành sư đoàn 18. Giữa thập kỷ 60, nó là sư đoàn quá tệ, tới mức không gây đe dọa gì cho đám tướng lĩnh vốn sợ đảo chính nên nó được đóng tròng vùng Sài Gòn.

Hai nghìn quả đạn pháo mở đầu cho trận đánh Xuân Lộc. Trận đánh kéo dài một ngày rưỡi. Xuân Lộc chưa chịu gục, nhưng các tư lệnh Bắc Việt Nam còn những lá bài khác trong tay. Hoa Kỳ đang viện trợ khẩn cấp cho Nam Việt Nam. Viện trợ ấy được trả bằng tiền trong các khoản lưu trữ từ 2 năm trước chưa dùng đến. Quốc hội Mỹ chưa chịu chi thêm viện trợ nhưng tiền trong két sắt lúc ấy vẫn còn quá đủ để giữ cho việc tuồn trang bị và đạn dược đến tay quân đội Sài Gòn trong nhiều tháng liên tục.

Khi trận Xuân Lộc bùng nổ, một chiếc C5A hạ cánh xuống Tân Sơn Nhất lúc sương mù vừa tan, mang đến 27 tấn mũ sắt và áo giáp chống đạn. Máy bay đỗ, đài Sài Gòn báo cho công chúng Việt Nam biết là ở phía bên kia địa cầu, Tổng thống Ford kêu gọi trong đêm rằng, quốc hội Mỹ nên cho Sài Gòn 722 triệu đôla viện trợ quân sự và 250 triệu đôla viện trợ kinh tế.

Thật ra, quân đội Sài Gòn chẳng cần tiền mà cần thay lãnh đạo. Một quyết định ngờ nghệch do tay tổng thống đưa ra ngày 11-4 là tung một lữ đoàn dù nữa vào Xuân Lộc để mong giành lấy chiến thắng, dù tượng trưng, mà Sài Gòn đang hết sức cần thiết. Lữ đoàn được chở bằng xe đến Long Bình. Ở đấy, lính dù được chất lên các trực thăng khổng lồ loại Si-núc. Mục tiêu cuối cùng là Xuân Lộc, nhưng hoả lực mãnh liệt của Cộng Sản trong thành phố khiến không thể nào chở quân bằng máy bay vào tỉnh lỵ được. Vì thế phải chọn một bãi đáp trong đồn điền cao su do Pháp quản lý, cách Xuân Lộc 5 dặm về hướng Đông. Đại đội đi đầu được thả xuống. Binh lính dàn trận. Chẳng có lấy một phát súng nổ. Trực thăng bay đi bay lại giữa đồn điền và Long Bình mang thêm lính dù đến. Các sĩ quan ở Sài Gòn và ở chiến trường khen nhau rối rít về cuộc hành quân bất ngờ này.

Trước lúc hoàng hôn, sư đoàn Bắc Việt Nam bao quanh đồn điền cao su bắt đầu mở trận tấn công. Đám lính dù quả thật chẳng hề có cơ hội chiến đấu nào nữa. Liều thuốc an thần cho Xuân Lộc thế là tan nát. Bị hoàn toàn bất ngờ, bị áp đảo ở tỷ lệ 3 đánh 1, đám lính dù đã bại trận ngay lúc đánh bắt đầu. Đó là trận đánh úp lớn nhất trong cuộc chiến được thực hiện hoàn hảo của một sư đoàn Bắc Việt Nam. Con số tử thương không lớn nhưng số lính dù tan tác tứ phương. Lữ đoàn bị xoá tên, không còn là lực lượng tác chiến nữa.

Điều quan trọng sau trận đánh úp là 1 sư đoàn Bắc Việt Nam nữa bước vào tham chiến ở Xuân Lộc. Hai nghìn quả đạn pháo nữa nã vào tỉnh lỵ. Như vậy không đáng sợ bằng đêm đó, Cộng Sản dùng đặc công chui vào phá một kho đạn nhằm trang bị lại cho 15 tiểu đoàn lính Sài Gòn. Đêm sau, một quả đạn pháo trúng số độc đắc lại rơi trúng trung tâm kho đạn khổng lồ ở Biên Hoà. Kho này cần cho trận đánh Xuân Lộc gồm bom, đạn pháo và đạn súng bộ binh. Thêm đòn nghiêm trọng đánh vào Sài Gòn. Chiếc hố tử thủ đã đào nhưng chẳng có gì để lấp ở đó.

Binh nhì Đức trở lại với cuộc chiến được 4 ngày sau trận đánh Phan Rang mở màn ngày 9-4. Anh ta chẳng thích thú gì, nhưng ở Ninh Chữ ngày 13-4, một lần nữa anh ta cảm thấy cuộc sống của mình có mục đích. Hoả lực của Bắc Việt Nam ở đây rất nặng. Đức có thể nghe được và thấy được rằng nó còn nặng hơn ở Phan Rang nhiều. Có thể nghe thấy giao tranh dữ dội nhất là ở căn cứ không quân, nơi Nghi đóng sở chỉ huy.

Những đợt tấn công bằng bộ binh vào Ninh Chữ chỉ là thăm dò. Chẳng có gì đáng để cố thủ ở trong làng, nhưng Đức và đồng ngũ cũng ở trong tình trạng báo động hoàn toàn suốt 6 đêm liền. Tiếng súng tuy nhiều nhưng thương vong ít. Trung tá Bảo, tay sĩ quan Sài Gòn khi mới đến có dáng dấp oai vệ giờ đây trông cũng như bọn họ, cũng mệt mỏi, dơ bẩn và nhàu nát.

Cộng Sản càng ngày càng đổ thêm quân xuống quốc lộ 1. Ngồi trên xe tăng, xe nhà binh, xe đò và bất cứ xe gì mà họ gom được trên đường, đoàn quân áo xanh Bắc Việt Nam đổ về phía Nam, bỏ hầu hết những vùng mới chiếm được cho bộ đội địa phương. Họ tiến xuống phía Nam thật nhanh theo các con đường, quyết liệt cũng như đường mòn, đường biển. Chỉ trừ những cuộc hành quân trực thăng vận khi Mỹ có mặt, còn chẳng có quân đội nào trong lịch sử Việt Nam lại di chuyển nhanh chóng như lực lượng Bắc Việt Nam lúc bấy giờ.

Vĩnh Nghi ở lại sở chỉ huy Phan Rang cảm thấy tình hình tuyệt vọng. Thậm chí Nghi không biết đích xác mình có bao nhiêu quân, chỉ ước lượng có độ 1 sư đoàn, 7 đến 8 nghìn lính. Đó là tài xế, thư ký, dân vệ mới xung vào quân đội để giữ mạng sống cho mình. Không có chuyện trốn thoát bằng đường bộ. Nhưng lực lượng của Nghi cứ teo dần đồng thời với dân chúng ở Phan Rang. Thông tin liên lạc giữa Nghi và các vị trí bao quanh có vẻ khó.

Trong phiên trực gác, Đức đi cặp với một trong số ít dân vệ. Khi trò chuyện, người ấy đề cập cho Đức biết chuyện mồ mả gia đình Thiệu chỉ cách nơi họ núp trong hố đạn có khoảng 300 mét thôi. Đức nhận xét với vẻ châm biếm là giờ đây anh ta đã hiểu tại sao họ lại bảo vệ Ninh Chữ.

Vòng đai Xuân Lộc được nới rộng nhưng chỉ là lý thuyết sớm mai một. Bởi vì, tại Biên Hoà, cách Sài Gòn có 14 dặm, Cộng Sản đang tiến lên. Đêm 14-4, các pháo thủ đã nhằm trúng kho đạn. Khi phi công trình diện lãnh công vụ vào sáng ngày 15-4 thì một trong hai đường lăn không còn sử dụng được vì đạn pháo đào những lỗ trên đường băng bê tông. Những cuộc yểm hộ cho Xuân Lộc và Phan Rang đều phải ngừng lại. Pháo 130 ly vẫn bắn. Việc phi cơ không cất cánh được thành vấn đề nghiêm trọng. Một nửa số máy bay của không quân Sài Gòn nằm ở tại căn cứ này.

Tại Xuân Lộc, Lê Minh Đảo biết là 3 sư đoàn Bắc Việt Nam (thực tế là 4) đe dọa sư đoàn mình. Đảo ra lệnh cho trung đoàn thứ ba và cũng là trung đoàn sau cùng nhảy vào trận đánh. Bắc Việt Nam tìm cách đẩy lùi trung đoàn này và cố chặn cả lực lượng cứu viện từ Trảng Bom tới. Họ tiếp tục vây hãm Xuân Lộc. Các lực lượng khác được lệnh vòng qua tỉnh lỵ và cứ tiếp tục tiến về Sài Gòn. Lực lượng Cộng Sản tiếp tục thế cóc nhảy, cắt đứt quốc lộ 1 ở phía sau trung đoàn 3 của Đảo. Họ đã ở phía Tây Trảng Bom cách Sài Gòn 21 dặm. Lực lượng địa phương của Cộng Sản trong vùng Sài Gòn nhận lệnh cấp thời. Vấn đề chỉ còn là thủ đô Nam Việt Nam sụp đổ thế nào và vào lúc nào mà thôi.

Ngày 15-4, Phan Rang thất thủ. Lực lượng Bắc Việt Nam bao trùm mọi phía của thành phố. Pháo binh phá nó tan hoang, bộ binh yên chí chờ đợi. Khi bộ binh và xe tăng tiến lên, sức chống cự họ chẳng còn mấy nữa. Thành phố thất thủ và cờ Việt Cộng được kéo lên. Tại sở chỉ huy của Vĩnh Nghi ngày 15-4, tình hình chưa quá tệ. Nghi nghe tin thị xã thất thủ với thái độ bình thản. Lúc ấy Nghi liên lạc với Toàn, tư lệnh quân khu 3. Qua điện đài, Toàn bảo Nghi rằng, Phan Rang phải chiến đấu càng lâu càng tốt để làm chậm bước tiến khổng lồ của Cộng Sản xuống quốc lộ 1. Tin Phan Rang thất thủ làm Toàn sững sờ. Nhưng báo cáo của Nghi về việc còn giữ được căn cứ không quân làm Toàn hứng khởi. Toàn nói với Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên để phái thêm lính sang sắp xếp lại ở Hàm Tân, đặt lính Sài Gòn ngăn cách hai lực lượng Cộng Sản đang tiến công Phan Rang với lực lượng bị chặn lại ở Xuân Lộc. Đây là kế hoạch tuyệt vời nhưng thời điểm thực hiện đã tuyệt vọng rồi.

Chiều tối ngày 15-4, kế hoạch và sự lạc quan này bay ra cửa sổ cùng tiếng nổ giòn của đại bác 130 ly đang dội tập trung vào căn cứ không quân Phan Rang. Từng cứ điểm vành đai bị phá tan tành. Binh lính bị giết hoặc chạy hết. Trinh sát viên hướng dẫn pháo bắn ngày càng gần sở chỉ huy, nơi Nghi đang nằm im dưới đất.

Đến đêm, xe tăng và bộ binh Bắc Việt Nam bắt đầu tiến vào căn cứ. Trong bóng đêm, đốm sáng lập loè bay tứ phía. Làn đạn xanh từ súng Cộng Sản nhiều hơn làn đạn đỏ của vũ khí Sài Gòn do Mỹ chế tạo. Trận chiến dữ dội. Khoảng gần sáng, Vĩnh Nghi báo cho các vị trí nằm ngoài sở chỉ huy Biên Hoà biết sở chỉ huy của mình sẽ mất vào bất cứ lúc nào.

Ở Ninh Chữ, binh nhì Đức xúc động về việc mất tỉnh lỵ hơn tướng Nghi, tuy anh ta và 400 binh sĩ khác chưa chịu đựng hoả lực bắn bao nhiêu. Ninh Chữ trở thành hòn đảo đơn độc. Bây giờ họ lại nghe qua điện đài lời báo của Nghi nói với đám binh sĩ ở Ninh Chữ và quanh Phan Rang hãy thoát đi bằng cách tốt nhất có thể được. Bộ đội Bắc Việt Nam bỏ qua làng ấy. Tàu thuyền sẵn và biển quá gần đến nỗi Đức có thể ngửi mùi nước mặn. Nhưng với Đức, ba lính thuỷ quân lục chiến và một lính biệt động thì lệnh rút lui ấy là một trong quá nhiều lệnh kiểu này. Đã rút hơn nửa chiều dài của Nam Việt Nam rồi! Không có chỗ để đứng lại hay sao?

Tại Ninh Chữ có một máy ủi đất và một trong ba lính thuỷ quân lục chiến biết cách bẻ khóa công tắc. Nó hụ lên thành một vật sống. Một người lính ngồi ghế lái, còn Đức và những người khác ngồi trên nóc, ở phía sau. Trung tá Bảo, viên sĩ quan Sài Gòn ra chịu trách nhiệm phòng thủ Ninh Chữ ra lệnh cho đám binh sĩ rời khỏi máy ủi. Đức và hai người lính bèn chĩa thẳng những khẩu M.16 vào viên sĩ quan để biểu lộ ra mặt sự chống lệnh. Bảo rút lui vào chỗ để máy truyền tin của ông ta.

Chiếc máy ủi chạy thẳng hướng đến khu mồ của gia đình Thiệu. Trong vòng 5 phút, các bia đá bị lưỡi gạt nghiến nát và mặt đất bị xới tung lên. Chẳng còn cách nào để nhận ra những ai đã được chôn ở đấy. Năm binh sĩ bước khỏi máy ủi đất với sự mệt mỏi chán chường và đi ra biển. Bảo cũng báo cáo hành động của họ cho Nghi biết và vặn tắt điện đài rồi cũng đi bộ ra biển. Ba ngày sau, họ đến được Vũng Tàu bằng chiếc thuyền đánh cá. Còn Vĩnh Nghi sa vào tay quân Bắc Việt Nam khi họ đánh căn cứ không quân.