Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012

The Lover (1992)


  • Tagline: She gave her innocence, her passion, her body. The one thing she couldn't give was her love.
  • Genre: Biography / Drama / Romance
  • Rating:
    6.7/10
  • Runtime: 115 mins
  • Release date: 30 October 1992
  • Director: Jean-Jacques Annaud
  • Cast: Jane March, Tony Leung Ka Fai, Frédérique Meininger, Arnaud Giovaninetti, Melvil Poupaud, Lisa Faulkner, Xiem Mang, Philippe Le Dem, Ann Schaufuss, Quach Van An…
Plot: It is French Colonial Vietnam in 1929. A young French girl from a family that is having some monetary difficulties is returning to boarding school. She is alone on public transportation when she…



L’amant - The lover (Người tình)
Một trong những bộ phim Pháp ăn khách nhất tại thị trường thế giới, và cũng là bộ phim phương Tây đầu tiên đến quay tại Việt Nam. Đây chỉ là một câu chuyện tình, dựa trên bối cảnh gợi nhớ Đông Dương thời thuộc địa những năm đầu thế kỷ 20, nhưng được thực hiện hoành tráng mang tầm vóc sử thi.



Từ tác phẩm best - seller đến kịch bản điện ảnh

Bộ phim Người tình dựa theo cuốn tiểu thuyết tự truyện cùng tên của nữ văn sĩ Marguerite Duras, đoạt giải văn chương Goncourt năm 1984, được dịch ra 43 thứ tiếng và là tác phẩm bán chạy nhất tại Pháp của Duras (2,4 triệu bản). Tiểu thuyết kể về tình yêu cuồng nhiệt và sự đam mê thể xác của chính mình, khi mới 15 tuổi rưỡi, với một thanh niên người Hoa giàu có, lớn hơn bà 12 tuổi. Câu chuyện xảy ra vào cuối những năm 1920 tại Sài Gòn, Đông Dương.

Đạo diễn kiêm nhà sản xuất danh tiếng Claude Berri đã nhanh chóng mua bản quyền cuốn sách để dựng thành phim nhưng không làm đạo diễn mà giao lại cho Jean-Jacques Annaud – một đạo diễn đang được thế giới điện ảnh chú ý với những bộ phim hết sức ấn tượng như: Cuộc chiến giành lửa, Con Gấu, Tên của hoa hồng. Annaud đọc cuốn tiểu thuyết và phản ứng đầu tiên của ông là từ chối. Như ông tâm sự: “Tôi rất thích ngôn ngữ của Duras, đó là một ngôn ngữ rất phù hợp với điện ảnh. Những lời văn có thể chuyển thành lời thoại một cách rất nhẹ nhàng. Nhưng bà ta là một tên tuổi quá nổi tiếng, tôi không muốn làm việc với một tác giả mà thừa biết rằng, rất khó có thể cùng cộng tác làm việc”. May sao, “cuối cùng, tôi nhận lời, bởi vì L’amant là câu chuyện rất đặc biệt. Một câu chuyện nhỏ về một tình yêu lớn, nó giúp tôi được hòa mình vào bản sonate lãng mạn trên nền bản giao hưởng – Đông Dương thời thuộc địa”.

Để hoàn thiện kịch bản, Annaud nhờ cậy nhà biên kịch Gérard Brach – người mà theo lời Annaud – một nhà biên kịch hiếm hoi trên thế giới, có thể viết lời cho hình ảnh một cách tuyệt vời, có khả năng hình dung được những gì sẽ được thấy trên phim và kịch bản do ông viết gần như một bộ phim hoàn chỉnh. Brach cố gắng giữ lại cấu trúc và giọng điệu văn chương nguyên thủy của nguyên tác tiểu thuyết. Không ai trong số các nhân vật chính có tên, họ chỉ được gọi là “Cô gái” và “Người đàn ông” trong danh sách giới thiệu nhân vật.

Những bất ngờ đầu tiên từ Việt Nam
Để đưa toàn bộ câu chuyện trở lại với quá khứ xa xưa khoảng gần 70 năm, nhà sản xuất Claude Berri đã huy động được một khoản kinh phí khó tin đối với một bộ phim Pháp lúc ấy: 30 triệu USD! (đến nay đó vẫn là một trong những khoản kinh phí đầu tư lớn nhất trong lịch sử điện ảnh Pháp). Berri quyết định phim sẽ nói tiếng Anh để dễ phát hành trên thế giới.

Năm 1989, đạo diễn Annaud cùng đoàn tiền trạm sang Việt Nam chọn cảnh. Khá thất vọng với cơ sở hạ tầng đặc biệt là khách sạn quá thiếu tiện nghi, ông thử chuyển sang Malaysia, Thái Lan và Philippines – những nước từng được sử dụng làm bối cảnh Việt Nam trong những bộ phim chiến tranh của phương Tây – tiện nghi thì có đấy, nhưng cái quan trọng nhất là chất Đông Dương thuộc địa huyền bí và kiến trúc thời Pháp thuộc lại gần như không có. Một năm sau, ông trở lại sự lựa chọn ban đầu, vì cảm thấy không nước nào khác có thể thay thế Sài Gòn và các tỉnh miền Tây. Và ông thực sự rất thú vị khi được trở thành người châu Âu đầu tiên sau nhiều năm chiến tranh, đến tìm hiểu và khám phá lại Đông Dương huyền bí. Ông rất ngạc nhiên khi những dấu tích của chiến tranh vẫn còn hiện diện ở khắp nơi, nhưng đặc biệt là những công trình do Pháp xây dựng vẫn còn tồn tại, nhiều công trình vẫn còn nguyên vẹn, hiện được các cơ quan nhà nước được sử dụng và bảo quản kỹ càng. Theo Annaud, Sài Gòn là một thành phố lạ thường, ở đây giống như một bảo tàng sống về kiến trúc thuộc địa cuối thế kỷ 19.

Đạo diễn Annaud và nhóm tiền trạm đã rất xúc động khi được tận mắt lại ngôi trường cấp III Lycée Chasseloup-Laubat (trường Lê Quý Đôn hiện nay) của nhân vật “Cô gái” trong tiểu thuyết (thời đó cô tên là Donadieu, sau này đổi thành Duras) và những nơi mà bà cùng “Người tình” đã từng sống. Ông còn cố công tìm hiểu và may mắn được trò chuyện với một người Việt năm xưa đã từng biết cô Donadieu: cụ Vương Hồng Sển – học giả uyên thâm về Nam bộ – nghe ông kể lại những kỷ niệm về Donadieu và người tình Hoa kiều tên Huỳnh Thủy Lê.

Tìm “Cô gái” và “Người tình ” trên khắp thế giới!


Lời mở đầu của tiểu thuyết và kịch bản: “Tôi mới 15 tuổi rưỡi”. Có nghĩa là bộ phim cần phải tìm một diễn viên lớn tuổi hơn, nhưng gương mặt phải trẻ như 15 tuổi rưỡi! Thứ nhất, nếu đúng tuổi đó khó mà tìm được người có khả năng diễn xuất. Thứ hai, phim có chủ đề nhạy cảm không phù hợp với lứa tuổi vị thành niên. Một thử thách không nhỏ với ban phụ trách tuyển diễn viên. Họ đã lùng sục trong rất nhiều tạp chí của thiếu nhi và thiếu niên trên khắp thế giới. Thậm chí còn đặt mua cả tạp chí của Nhật Bản, Đức, Italia... Như vậy, chỉ riêng vài chữ “Tôi mới 15 tuổi rưỡi” đã tốn kém của đoàn phim khá nhiều tiền!

Hàng loạt thông báo tuyển diễn viên được rao trên nhiều nước. Đơn và ảnh xin tham gia nhiều đến mức người ta phải đóng vào bao tải để gửi về cho ban tuyển chọn. Đạo diễn Annaud cho biết: “Tôi đã duyệt khoảng 100 người, nhưng mỗi người phụ trách tuyển diễn viên của tôi thì phải duyệt đến hàng nghìn! Có 7 người đảm nhận việc đó, nghĩa là có khoảng 7000 cô gái đã được quay thử. Tôi xem trên băng hình khoảng 300 người đã được chọn lọc, sau đó phải gặp trực tiếp từng người”.

Công việc càng lúc càng bế tắc trong nhiều tháng ròng, cuối cùng Annaud cảm thấy kiệt sức và quyết định sẽ lựa chọn cô gái nào bước vào ngày hôm đó. Đó là cô gái người Anh mảnh dẻ sống ở ngoại ô Paris, vẻ bề ngoài không có gì đặc biệt, không khá hơn những người khác mà có thể còn trống rỗng hơn! Nhưng bù lại cô ấy có những rung động khác người.

Tên cô là Jane March, do chính vợ Annaud phát hiện trên một tạp chí tuổi teen. Cô nhút nhát rụt rè không biết phải làm gì, và đó chính là điều lý thú bởi Donadieu khi 15 tuổi rưỡi cũng không biết phải làm gì. Trong lần gặp đầu tiên, Annaud nhìn Jane và tự hỏi cô ấy giống Duras ở điểm nào.

Khi xem ảnh của bà Duras lúc 17 tuổi trên bìa của 1 cuốn Người tình xuất bản tại Mỹ, ông yêu cầu Jane chải tóc ngược về sau, và cả ban tuyển chọn đã thực sự sửng sốt. Jane và Duras giống nhau một cách kỳ lạ! Sau nhiều lần chụp ảnh, hóa trang và diễn thử, Jane March đã chính thức được chọn.

Việc chọn vai diễn “Người tình” Hoa kiều phức tạp hơn Annaud và ban tuyển chọn nghĩ. Họ phải rao tìm ở Mỹ và Hongkong. Đa số phong cách của các diễn viên châu Á ở đó đã bị phương Tây hóa, số còn lại thì phù hợp nhưng lại không nói được tiếng Anh. Nhưng Annaud vẫn kiên trì tìm kiếm, vì ông cho rằng bộ phim The Last Emperor của Bertolucci cũng vấp phải vấn đề tương tự nhưng cuối cùng rồi họ cũng tìm được người mình cần.

Trong số những ứng cử viên mà Annaud chấm, có một người không muốn nhận vai vì anh ta cảm thấy mình nói tiếng Anh không đủ khá. Nhưng khi biết là đoàn phim vẫn chưa chọn ai, anh ta mới đánh bạo đến gõ cửa phòng đạo diễn. Annaud ra mở cửa và lập tức trước mắt ông là chàng thanh niên quí tộc Hoa kiều mà cả đoàn cất công tìm kiếm. Đó là nam diễn viên Hongkong Lương Gia Huy.

Ngay lập tức đạo diễn Annaud đã đưa anh về Paris để thử vai cùng với Jane March. Điều mà ông cần nhất là sự kết hợp của hai diễn viên. Khi họ diễn chung trên giường, ông muốn thấy cơ thể họ phản ứng với nhau như thế nào. Annaud rất xúc động khi ngay lần đầu tiên, cả hai đã diễn rất ăn ý với nhau.

Những sự chuẩn bị cần thiết cuối cùng

Bốn tháng trước khi quay, Annaud họp đoàn làm phim lại để giải thích cặn kẽ những ý tưởng của ông và những khó khăn mà các kỹ thuật viên sẽ gặp phải khi chuẩn bị đến Việt Nam: “Chúng ta cần chuẩn bị kỹ càng cho những khó khăn sẽ gặp phải ở Việt Nam: Đó là rắc rối về khí hậu mà các bạn không thể tưởng tượng được. Người châu Âu chúng ta khó có thể hình dung được phải làm việc dưới cái nóng 35 độ C, trong điều kiện không có gió và độ ẩm xấp xỉ 100%! Ngay cả buổi tối, trời mát hơn nhưng vẫn không có gió. Tôi hi vọng là chúng ta sẽ chịu đựng được và mọi người không lăn ra ốm cùng một lúc. Việc bị ốm là không thể tránh khỏi, nhưng tôi mong rằng điều đó sẽ không làm tôi bực bội, bởi vì cáu giận là một việc rất không hay khi đứng trước người Việt Nam. Đừng quên rằng họ là những người vừa trải qua một nửa thế kỷ đấu tranh để bảo vệ nhân phẩm của mình”.

Phim khởi quay vào ngày 14/01/1991, khi ấy Jane March mới bước vào tuổi 18 được hai tháng.

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2008

Ông Mỹ "ma xó" ở Việt Nam

Nhà sử học Mỹ Jason Picard.
(LĐCT) - Gặp Jason Picard lần nào cũng thấy anh mang theo một balô nặng chịch, chất đầy sách nghiên cứu về lịch sử, văn học Việt Nam. Picard luôn gây ấn tượng mạnh, bởi vốn kiến thức sâu sắc và am tường đối với cuộc sống địa phương.

Nhưng, ngoài thời gian ngồi tại Thư viện Quốc gia, Viện Sử học, Viện Văn học, Picard còn niềm đam mê lớn nữa là la cà với cuộc sống phố phường VN, nơi có các quán cơm bụi, bún đậu mắm tôm, càphê vỉa hè... Chả thế mà bạn bè Picard thường đùa gọi anh là "ma xó" ở Việt Nam.

Điều gì đã đưa anh đến với VN vậy?
- Hầu hết những nhà nghiên cứu Mỹ sang VN đều có lý do khởi nguồn là nỗi ám ảnh về chiến tranh. Tôi cũng không ngoại lệ. Nhưng với những người Mỹ chỉ tiếp cận VN qua "hạt cơ bản" này, hình ảnh VN chỉ là một đất nước chiến tranh, nghèo khổ. Họ không biết gì về lịch sử VN trước năm 1954 hoặc 1945. Họ không biết về Truyện Kiều, về lịch sử hào hùng thời Lý, Trần, Lê...

Mang theo "hạt cơ bản" về chiến tranh, anh ấn tượng gì về VN ở lần đầu tiếp xúc?
- Tôi đến VN lần đầu tiên khi đi du lịch vào năm 1995. Cảm giác đầu tiên là sợ. Tôi không biết người dân VN sẽ nhìn mình thế nào. Họ có ghét mình không? Vì khi đó, tôi không biết tiếng Việt, không hiểu người dân địa phương nói gì. Tôi chỉ biết về chiến tranh, về hậu quả của nó với VN. Khi tôi gặp một người VN bị cụt chân, tôi sẽ nghĩ ngay họ là nạn nhân của bom mìn Mỹ. Một sự ám ảnh.

Đó là lý do khiến anh nghiên cứu về lịch sử VN?
- Theo tôi, bất cứ người Mỹ nào sinh ra sau chiến tranh, có trình độ và giáo dục, sang VN đều mang theo cảm giác đau khổ vì hành động của nước Mỹ. Nhiều người Mỹ thường sống với nỗi hối hận rất lớn về quá khứ. VN là một quốc gia riêng, một xã hội riêng, có một lịch sử hào hùng, trước khi nước Mỹ mang tới chiến tranh.
Nhưng sau hành trình đến VN lần đầu tiên năm 1995, tôi biết lịch sử VN không chỉ dừng ở lát cắt chiến tranh, mà còn có một lịch sử hào hùng và tiếp nối hàng nghìn năm nay. Đó là động lực khiến tôi nghiên cứu về lịch sử VN.

Năm 1997, anh sang VN để dạy học tại Tây Ninh. Anh tự tìm kiếm cơ hội sang VN, hay do được sắp đặt?
- Khi đó tôi đang làm việc tại Nhật Bản thì được biết tổ chức tình nguyện viên quốc tế của Mỹ (VIA) tìm giáo viên sang VN dạy tiếng Anh tại Hà Nội, Thái Nguyên và Tây Ninh. Tôi đăng ký và chọn Tây Ninh, bởi tôi rất mê lịch sử của địa phương này.

Hai năm ở Tây Ninh đọng lại cho anh những kỷ niệm gì?
- Tôi quý mến và biết ơn người dân địa phương vô cùng. Người dân Tây Ninh đã dạy cho tôi rất nhiều về văn hoá, tập tục, ẩm thực, cuộc sống và tư tưởng phóng khoáng. Họ đã dạy cho tôi những từ tiếng Việt đầu tiên. Họ đã đặt tên tôi là Sơn. Tôi đã mê ăn canh cá lóc, các món bánh tráng và nghiện ẩm thực cay, ngọt kiểu miền Nam cũng nhờ năm tháng sống ở đây.
Tất nhiên, là người Mỹ đầu tiên sống ở Tây Ninh sau chiến tranh, nên tôi cũng thường xuyên bị áp lực. Vì, nhiều người không tin tôi mang theo thiện chí thực sự của một người Mỹ yêu hoà bình. Nhưng tôi rất hiểu, sự nghi ngờ đó là hậu quả từ cuộc chiến mà Mỹ đã mang đến VN.

Anh có thể kể kỷ niệm nhớ nhất khi ở Tây Ninh?
- Gần 2 năm sống ở Tây Ninh là quãng thời gian tôi không bao giờ quên. Người dân đối đãi với tôi như người nhà vậy. Biết tôi cô đơn, do là người nước ngoài duy nhất ở Tây Ninh thời điểm đó, nên các sinh viên và bạn bè VN thường đưa tôi về nhà ăn cơm. Tôi nhớ một lần được một người bạn mời về nhà.
Trước khi bước vào, mẹ của bạn giữ tôi ở cửa và nói: "Bác xin lỗi, nhưng mong cháu đừng chê nhà bác nghèo nàn quá nhé". Tôi, một người nước ngoài, một người Mỹ, được quan tâm mời đến nhà. Vậy mà chủ nhà lại xin lỗi, chỉ vì họ ngại tôi không quen sự đạm bạc. Tôi đã khóc, vì cảm động, vì sự hồn hậu và tốt bụng của người dân VN.
Nhìn người thanh niên Mỹ đang kể về cuộc sống nơi miệt rừng của VN với đôi mắt rưng rưng, như những kỷ niệm yêu dấu nhất, tôi thật sự bị thuyết phục. Tôi đã được gặp và nói chuyện với rất nhiều bạn bè nước ngoài ở VN, nhưng có lẽ, Picard là người đầu tiên khiến tôi xúc động đến vậy trước tình cảm chân thành của anh với cuộc sống dân dã ở VN.

"Cú sốc văn hoá ngược"
Sau thời gian sống tại Tây Ninh, Picard rời đến TP Hồ Chí Minh và Hà Nội để tiếp tục dạy tiếng Anh. Ba năm ở VN, nói tiếng Việt, ăn cơm Việt, đã khiến Picard hoà nhập vào cuộc sống địa phương như một người VN thực thụ. Đến năm 2001, Picard quyết định quay trở về Mỹ, học cao học về ngoại giao tại Đại học Columbia danh tiếng ở New York. Không ngờ, đây lại là thời kỳ khó khăn nhất của Picard, bởi cú sốc văn hoá ngược.
- Tôi đã choáng váng khi trở về với cuộc sống ở Mỹ. Mọi thứ đều trở nên xa lạ. Bạn bè và gia đình đều không thể hiểu tâm tư tình cảm và lối sống của tôi sau nhiều năm xa cách. Tôi bỗng trở nên lẻ loi, đơn độc. Rất dễ hiểu khi bạn ra nước ngoài, và bị sốc văn hoá. Nhưng sẽ không có ai thông cảm, khi trở về quê hương mình mà lại sốc. Cú sốc ngược, nặng nề hơn nhiều.
Khi vụ khủng bố 11.9.2001 xảy ra, tôi vừa về New York được 2-3 tuần. Tôi bị suy sụp. Tôi đã nghĩ đến chuyện tự sát. Nhưng đồng thời, vụ 11.9 khiến tôi có cơ hội chín chắn hơn để suy nghĩ về điều tôi thực sự mong muốn. Điều gì là quan trọng nhất với mình.

Vậy, khi đó anh muốn gì?
- Tôi hiểu tôi không thể tiếp tục theo học tại ĐH Columbia. Đó là một đại học danh tiếng tại Mỹ, nhất là khoa ngoại giao, nhưng mục đích của các sinh viên chủ yếu là trao đổi thông tin và tìm kiếm các mối liên hệ cho nghề nghiệp sau này, chứ không phải để lĩnh hội kiến thức. Còn tôi, tôi muốn tìm hiểu về thế giới. Tôi muốn biết thêm về VN. Và tôi đã quyết định rời đến Đại học Cornell theo học lịch sử Á Châu.

Nhưng anh đã có một thời gian dài theo đuổi văn học VN kia mà?
- Tôi muốn nghiên cứu văn học VN để hiểu thêm về lịch sử. Tôi muốn trở thành Giáo sư sử học về VN, còn văn học là niềm đam mê. Qua các tác phẩm kinh điển của Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao... tôi hiểu về lịch sử VN giai đoạn 1930-1945.
Tôi nghĩ, văn học là công cụ hữu hiệu nhất để tiếp cận xã hội, nhất là tại Châu Á, nơi có truyền thống đóng cửa bảo nhau. Những nhà văn có tiếng trong thế kỷ XX ở VN đều là những người hiểu biết rất sâu về lịch sử. Nhiều nhà văn này tôi đã được gặp ngoài đời, nhờ thời gian làm thực tập sinh tại Viện Văn học VN (2003-2004).

"Jason, con xin lỗi KC ngay!"

Picard trên đường phố Hà Nội.

- Một buổi chiều năm 1997, khi ở thăm Hà Nội, tôi quyết định đi xe đạp ra ngoại thành để tập thể dục và ngắm phong cảnh. Sau 90 phút đạp xe lang thang, tôi rẽ vào một quán bình dân trông như một cái lều.
Mọi người nhìn tôi chằm chằm như một kẻ vừa từ hành tinh khác. Tôi ngồi xuống chiếc bàn, chỉ tay vào các mâm bên cạnh, muốn nói: "Tôi sẽ ăn những thứ như họ". Năm phút sau, bà chủ quán khệ nệ bưng ra một chiếc mâm có rau, bún, thịt và một thứ bột loãng màu tím, và chai rượu. Tôi không hề biết thứ thịt này cùng loại bột tím loãng ấy.
Dĩ nhiên, về sau tôi mới biết rằng thứ nước bột màu tím kia là mắm tôm, và như thành ngữ nói "nhăn như khỉ gặp mắm tôm", thì tôi lúc đó cũng có cử chỉ tương tự khi cái mùi ấy qua mũi tôi, thứ mùi khiến cho tâm trí tôi đảo lộn. Ngay khi lưỡi tôi chạm tới miếng thịt thì tôi biết bữa ăn này sẽ rất khó khăn.
Nhìn thấy tôi vụng về, hai người đàn ông rời bàn ăn của họ và ngồi xuống với tôi. Họ chỉ dẫn cách ăn đúng là như thế nào. Tôi gắp bún, rau, thịt và mắm tôm vào bát. Bất ngờ, tôi không những thấy mắm tôm chẳng khó ăn, mà còn làm cho miếng thịt bí ẩn này đưa được vào miệng tôi. au đó, một người bạn, biết chuyện mới thốt lên: "Trời ơi. Anh ăn thịt chó à!". Tôi đứng lặng người.
Khi trở về Mỹ, tôi đã kể cho bố mẹ về kinh nghiệm lần đầu ăn thịt chó. Mẹ tôi, khi đó, đang ngồi trên sàn nhà ngay cạnh con chó nhà tôi, nó tên là KC. Sau một phút bối rối, mẹ bảo với giọng kiên quyết: "Jason, con xin lỗi KC ngay!".

Bí quyết nào khiến anh hoà nhập đến vậy với cuộc sống dân dã VN?
- Nhiều bạn bè bảo tôi là ma xó ở VN. Vì tôi thích cuộc sống bình dân ở VN. Bạn cũng đừng ngạc nhiên khi gặp tôi trong quán cơm bụi nhé. Đồ ăn ngon, mà lại rẻ. Tôi có quán cơm ruột ở đường Quang Trung đấy. Tôi thích mắm tôm. Sáng nay tôi ăn phở vỉa hè, rồi uống càphê cũng vỉa hè. Tuyệt. Chịu khó hoà nhập với người địa phương là thành ma xó ngay ấy mà.

Có điều gì ở VN mà anh không thích?
- Tôi là người nhạy cảm, nên điều khó thích nghi nhất là tin đồn ở VN. Ví dụ như trong các mối quan hệ, cứ có những lời đồn thổi rằng đàn ông phương Tây như tôi rất lăng nhăng. Tôi đã 37 tuổi rồi, và rất muốn lấy vợ. Nhưng do tin đồn nên cũng mệt lắm.

Đàn ông Mỹ như anh cũng chịu sức ép lập gia đình ư?
- Tại sao không? Nhưng đó là sức ép từ bản thân. Tôi rất yêu bố mẹ mình và bố mẹ tôi thì muốn được thấy con hạnh phúc, muốn có cháu bế. Còn ở VN, đôi khi sức ép lập gia đình là từ xã hội, chứ không phải do họ muốn.

Còn công việc chính của anh hiện nay là gì?
- Hiện nay tôi đang nghiên cứu về lịch sử hiện đại Việt Nam giai đoạn từ 1954-1955 đến nay. Tôi luôn nhận được sự hợp tác chặt chẽ của các giáo sư tại Viện Sử học Việt Nam. Tôi cũng đã đi đến Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng và sắp tới là Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng bằng Sông Cửu Long, Thanh Hoá, Nghệ An để tìm hiểu về đề tài này.
Còn tại Mỹ, thầy hướng dẫn luận án cho tôi là Peter Zinnoman, Phó Giáo sư khoa Lịch sử Đông Nam Á tại trường đại học Berkeley (California) kiêm Tổng biên tập của Tạp chí Việt Nam học tại Mỹ.
Tôi có một mong ước lớn là ngày nào đó sẽ được viết về một cuốn tiểu thuyết lịch sử về Việt Nam. Nhưng đó hiện nay chỉ là ước mơ thôi. Hiện tôi đang dịch một số truyện ngắn của các nhà văn Việt Nam sang tiếng Anh.

Xin cảm ơn anh.

Tô Phương Thủy Lao Động Cuối tuần

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2008

Sự “nổi loạn” đáng được đón nhận!

Phân tích về ngôn ngữ thời nay, PGS Hà Quang Năng, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam đã dí dỏm đưa ra dẫn chứng như vậy. Cũng theo PGS Hà Quang Năng, không chỉ giới trẻ “loạn ngôn” mà giới truyền thông cũng đang góp phần làm ngôn ngữ Việt Nam… nổi loạn. Nhưng đó là một sự “nổi loạn” cũng dễ thương và đáng được đón nhận.

Gì gỉ gì gi, cài gì cũng “siêu”, “tặc”!

PGS Hà Quang Năng

Xin ông có thể dẫn chứng cụ thể về việc giới truyền thông đang khiến ngôn ngữ Việt Nam “loạn”?

Chẳng hạn như với từ gốc Hán-Việt là từ “tặc” và từ “siêu”, đã xuất hiện khoảng 180 từ đi kèm với những từ này trong đời sống ngôn ngữ. Ngoài những từ cũ là nghịch tặc, phản tặc, ác tặc, không tặc, hải tặc… đã xuất hiện một loạt “tặc” mới rất buồn cười như “mông tặc” (những kẻ dùng kim tiêm đi đâm mông phụ nữ như hiện tượng từng xuất hiện ở TPHCM), khoan tặc (quảng cáo khoan cắt bê tông tuỳ tiện làm mất mĩ quan đô thị), thổ tặc, lộ tặc (kẻ ăn chặn người đi đường để kiếm tiền)…

Rồi thì sa tặc, thiếc tặc, khoáng tặc, nghêu tặc, rác tặc, cẩu tặc…!

Rồi siêu thì siêu trọng, siêu trứng, siêu nạc, siêu sạch

Lạ quá “đào bồi”, “điều nghiên” và “khẳng quyết”!

Quả thật là rất linh hoạt và “sáng tạo”. Ngoài “siêu” và “tặc” thì ngôn ngữ Việt Nam còn đang có thêm những tiết tấu bất ngờ nào nữa không, thưa ông?

Người Việt hiện đã triệt để sử dụng các phương thức cấu tạo từ tiếng Việt để tạo ra những từ vựng mới. Hàng loạt từ ghép đẳng lập (từ ghép hội nghĩa, ghép hợp nghĩa, đẳng nghĩa) đã xuất hiện với nội dung khái quát nhằm diễn đạt các sự vật, hoạt động theo khái niệm mới như bỉ tiện, bi phẫn, chụp giựt

Đáng chú ý là nhiều từ ghép hợp nghĩa tạo nên những từ rất lạ như: bí nhiệm (bí ẩn và nhiệm mầu), điều nghiên (điều tra và nghiên cứu), giảng huấn (giảng dạy và huấn luyện), khẳng quyết (khẳng định và quả quyết), đào bồi (đào tạo và bồi dưỡng)…!

Là một nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã hàng chục năm nay, cảm nghĩ của ông trước sự ngày một “sáng tạo” của ngôn ngữ Việt?

Theo tôi, trong sự phát triển của xã hội luôn nảy sinh những hiện tượng, đối tượng, khái niệm, quan hệ mới, xảy ra những biến đổi phát triển của những sự kiện, đối tượng khái niệm đã có. Ngôn ngữ đã phát huy tối đa đặc điểm tiết kiệm của mình trong việc gọi tên, biểu thị những khái niệm, những đối tượng tồn tại và phát triển của xã hội.

Tất nhiên, trong sự thay đổi đó có tồn tại những mặt này mặt khác nhưng cùng với sự phát triển của xã hội thì ngôn ngữ cũng biến đổi và phát triển để thực hiện tốt hơn, hoàn thiện hơn vai trò là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, đồng thời là công cụ tư duy đắc lực của con người.

Xu hướng làm giàu vốn từ vựng của ngôn ngữ

Tức là theo ông nên có một cái nhìn độ lượng và sẵn sàng dung nạp những từ ngữ “lạ” đang xuất hiện ngày càng nhiều như là một sự phát triển tất yếu của xã hội?

Đúng vậy! Sự biến đổi và phát triển nghĩa của các đơn vị từ vựng đã có để tăng cường khả năng biểu thị của chúng; là một xu hướng làm giàu vốn từ vựng của ngôn ngữ. Từ vựng là một bộ phận cần phát triển nhanh nhất để có chức năng là tấm gương phản chiếu một cách trực tiếp đời sống xã hội, sự biến đổi và phát triển của xã hội.

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, sự bùng nổ thông tin và các phương tiện thông tin đại chúng, tính năng động, nhậy bén trong tư duy, trong nhận thức của mỗi người đã làm nên những kỳ tích, làm cho đất nước ta thay đổi từng ngày.

Môi trường, hoàn cảnh đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự phát triển không ngừng của ngôn ngữ, đặc biệt là sự xuất hiện của một số lượng lớn các từ ngữ mới nhằm biểu thị những sự vật, hiện tượng mới, những biểu hiện tâm lý, tình cảm, hành động, những nhận thức ngày càng sâu sắc, càng phong phú của con người thời đại mới.

Xã hội phát triển rất nhiều sự vật, hiện tượng mới cần được đặt tên, cần được đưa vào ngôn ngữ. Tại sao chúng ta lại phải từ chối những từ ngữ “sáng tạo” đó?

Theo báo Dân Trí

Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2008

Người nói lý ở Lao Chải

Lý A Cứ người Lao Chải (bản già, lâu đời của người Mông ở Sa Pa, Lào Cai). Tuy không phải là già nhất bản nhưng Lý luôn được người trong bản tôn trọng, bởi anh ta biết nói lý và là người có cái lý cứng nhất.

Cái gai đã nhọn thì nhọn từ bé. Mẹ Lý kể khi mới 5 tuổi, Lý đã biết những điều tự nhiên như tuổi mười lăm. Một lần nghe thấy em đòi mẹ gãi lưng, Lý liếc xéo sang bảo: "Lưng mình ngứa thì phải tự biết gãi chứ. Thế mẹ đi vắng thì mày gọi ai?". Lớn lên Lý ít nói. Lý thường bảo:

"Nói thì không khó gì, nhưng nói để nghe được thì phải nghĩ. Lúc đó lời nói rất quý, không thể nói bừa bãi được, lúc cần nói mới nói". Bởi thế khi nghe người Tà Chải (bản lớn) khoe bản mình đông đúc mạnh hơn bản khác, hoặc người Xín Chải (bản mới) bảo bản mình mới lập, đẹp không bản nào bằng, Lý chỉ rim mắt lặng im như không thấy gì. Sau đó Lý mới lẩm bẩm "đúng là lời của trẻ con, cái lý không cao hơn ngọn cỏ".

Không ai bảo nhưng từ lâu Lý đã biết con ngựa hay đi đầu hơi cúi mới có sức vươn đường xa. Cái lý hay không phải nhiều lời, không cần nói trước. Cái lý đúng phải mạnh như mật gấu làm tan ngay chỗ đau, phải tốt như mật ong núi làm trẻ con dứt ngay cơn đau họng.

Cái lý cứng làm đối phương phải chết tức thời như người lỡ ăn phải lá ngón, như cá gặp nước lá cơi. Muốn được như thế thì khi lập lý phải nhẹ như gió, ngọt như nước, phải biết hạ thấp đầu như ngựa chuẩn bị leo dốc, để cái lý nó đi cho êm. Chuyện nói lý là để được việc chứ đâu phải khoe lời thả giọng. Bởi vậy từ lâu trong mâm rượu, ngoài bãi chợ Lý hay ngồi lặng lẽ bỏ ngoài tai những lời nói lý huyên thuyên.

Lý bảo cái lý có mùi rượu dù có đúng cũng không ai buồn nghe. Cung cách sống ấy của Lý khiến nhiều người nể trọng. Cũng vì thế mà nhiều vụ việc của người Lao Chải Lý đều được mời tham gia giải quyết, và thường là được việc. Mới đây thôi, khi con đường du lịch đi qua cạnh bản được nâng cấp phẳng phiu, xe đi êm ro đến mức tiến sát tận sau lưng mình mà còn không biết. Bởi thế mới có chuyện con gà mái mải bới mồi cho con bên đường bị xe cán chết mà còn không biết tại sao.

Chủ nhà ra chặn xe nhờ Lý A Cứ ra nói lý bắt đền. Lý đến nơi chẳng nói gì chuyện phạt mà lại thân thiện tiến đến gần, sờ vào xe khen xe bóng đẹp. Thấy thế chủ nhà bắt đầu lo hỏng việc, còn lái xe hy vọng không phải móc ví chịu phạt. Lúc này Lý mới lên tiếng "chiếc xe này chắc chạy êm lắm, tốt lắm đây". Lái xe gật đầu. "Bởi thế con gà mới không biết đường mà tránh". Lái xe lại gật đầu. "Thế thì cái xe có lỗi rồi còn gì?". Đến đây Lý chậm rãi "xưa chưa có đường có xe, gà của bản không bao giờ chết, nay có đường xe đến làm gà chết chả lỗi của mày thì của ai?". Cái lý cứng như thế, lái xe còn cãi vào đâu được.

Những năm tuổi trẻ Lý cũng đã từng cắp sách tới trường. Nhưng vì khó ở cái chữ phổ thông mà gần mười năm Lý chưa qua lớp sáu. Nhưng có ai hỏi thì Lý lại bảo "học lại dễ hơn, lên lớp làm gì!". Đến khi trên mở trường nghệ thuật, nghe thấy lạ, Lý háo hức đòi đi để học cái mới. Lúc này Lý mới lớp 5 thôi nhưng vẫn được tuyển. Với cấp trên, lúc ấy người Lao Chải chịu đi học cho là tốt lắm rồi.

Lý về trường phải theo bổ túc văn-sử cho hết lớp 7 để đủ tiêu chuẩn vào trường trung cấp. Một anh cùng lớp có văn hóa lớp mười giúp Lý học bổ túc. Lý bảo "không phải việc của nó mà nó giúp mình, thế nó là người tốt". Nghỉ hè xuống, Lý đem tam thất biếu anh, có điếu thuốc cũng chia sẻ cùng anh, quý hóa lắm. Nhưng với thầy giáo thì lại khác.

Gần ngày thi tốt nghiệp, Lý lo lắng bảo thầy chủ nhiệm "lần này thi em mà không đỗ là lỗi ở thầy, tại vì thầy có trách nhiệm dạy mà em không hiểu, thế là thầy không làm tròn nhiệm vụ!". Thầy giáo quá ngạc nhiên, không biết nói thế nào. Tuy nhiên năm ấy Lý cũng đủ điểm ra trường. Lý bảo dù mình học có kém nhưng cái lý đúng thì phải được đỗ thôi.

Về huyện công tác được vài năm. Một hôm Lý sắp xếp hòm quần áo rồi lặng lẽ lên gặp trưởng phòng xin thôi việc về quê với lý lẽ rất đơn giản "mình không thắc mắc gì, tại nhà mình không có người làm, mình phải về thôi". Dừng một lát, Lý nói tiếp "mình cũng biết việc nhà nước quan trọng, nhưng mình không làm đã có người khác làm, còn việc nhà mình không làm thì không ai làm cho". Thế là Lý về.

Ngày đầu về, Lý đi chơi với bạn bè uống rượu say bò ra đường. Có người đi qua thấy thế bảo "thằng Lý đấy, nó đi học làm cán bộ rồi nay lại bỏ về bản, bây giờ say rượu trông thật xấu". Lý A Cứ đang nửa mơ nửa thức vùng dậy cãi "ai nói thế, tôi là người tốt, ra chợ mỗi bạn mời một bát rượu tôi mới được say đấy, chứ xấu bụng thì ai mời nào, bao giờ mà được say!".

Lý về bản làm việc cần cù. Những lúc thiếu đói trong bản có người kêu ca chính quyền, muốn Lý đồng tình. Nhà Lý cũng có lúc như thế, nhưng Lý bảo "đó là tại mình kém, tại sao người ta đủ mà mình lại thiếu, tại sao lại lấy cái thiếu cái kém của mình ra làm thành lỗi của chính quyền. Muốn đủ thì phải làm việc thôi". Nhà Lý có vườn lê to.

Những năm được mùa, quả lê cũng là nguồn thu nhập khá. Lý đem lê ra chợ bán, cứ hào một quả, đếm đủ lấy tiền. Người mua sau thấy còn quả nhỏ, mặc cả sáu bảy xu thì Lý vặn lại "muốn rẻ sao không đi sớm mà mua, giờ còn nói gì!". Ngày Lý A Cứ mua cái xe Minskơ để tập chạy xe ôm, cả Lao Chải phục lắm. Ra người bản mình cũng tài lắm chứ đâu, chỉ biết đi bộ, cưỡi ngựa.

Xe dắt về mới nổ máy để chạy cho êm thôi đã có nhiều người tỏ ý muốn A Cứ cho được ngồi sau xe một lần, chắc sướng lắm vì nó có vẻ khỏe hơn con ngựa, nhanh hơn con ngựa. Lý cười: cứ đợi đấy khắc biết. Đến buổi chiều, người ta thấy Lý tập tễnh đi bộ về bản, mặt xây xát xưng vù. Ai hỏi Lý cũng không chịu nói. Về sau mới biết Lý tập xe đâm vào đống quẩy tấu của người xuống chợ.

Xe bị hỏng, còn Lý lăn trên đống quẩy tấu nên không bị trọng thương. Mọi người kéo đến vây quanh bắt đền, Lý cãi: "Tưởng ta đi xe giỏi lắm à? Thấy xe sao không tránh. Xe còn hỏng đây này, ta chưa bắt đền thì thôi còn nói gì nào?". Sau này Lý bảo đổ xe là tại mình thôi, tại mình non tay lái. Lúc ấy cãi là nói bừa để tự cứu mình thôi. Thế mà cũng thoát. Có người bảo Lý, sao biết sai còn cãi cố, thì Lý bảo "thế việc của mình, mình không biết tự bênh thì ai bênh mình nào?".

Chi bộ Lao Chải có 5 đảng viên do Vàng Chẩu Din làm bí thư nhiều năm. Mới đây đại hội, các đảng viên bàn nên cất nhắc lớp trẻ. Thấy ý kiến đã thống nhất, Chẩu Din vui lòng thôi bí thư. Ông bảo "bớt việc chi bộ thì thêm việc nhà cũng tốt". Nhưng cũng từ hôm ấy, Chẩu Din không đi họp chi bộ nữa. "Không đi nữa đâu! Mình đã làm bố rồi thì không làm con nữa"- Chẩu Din nói. Người bảo phải, người bảo không đúng lý.

Tranh luận mãi không hồi kết mọi người bèn đi tìm Lý A Cứ hỏi xem như thế là đúng hay sai. Nghĩ một lúc, Lý bảo "ông Chẩu Din sai, việc chi bộ có phải việc nhà ông đâu mà ông đem cái lý ở trong nhà ra nói". Lúc ấy Chẩu Din mới chịu. Chuyện Lý A Cứ còn dài, còn nhiều nữa. Cái lý của A Cứ nhọn sắc như dao lá lúa, cũng có lúc tù như cái gai bị gẫy.

Nhưng Lý A Cứ cũng không chịu thua ai. Cũng bởi Lý chỉ mở miệng khi bị chạm tới chứ ít khi đem cái lý đi dạy đời. Lý bảo: Trên đời này, cái lý thì ai chẳng có, sao phải bắt người ta theo cái lý của mình. Chỉ khi người ta chạm đến mình thì mình mới buộc phải nói lý thôi!

D.N Theo báo Thanh Niên

Thứ Hai, 1 tháng 9, 2008

Quốc khánh và câu chuyện lá cờ

Nhân ngày Quốc Khánh 2-9. Mình xin gửi đến các bạn một bức thư của một du học sinh Việt Nam du học ở Newzeland, một nơi cách quê hương 5 múi giờ... Chúc các bạn vui lễ Quốc Khánh vui vẻ.

Ngày hôm ấy tan học nhưng vẫn còn sớm, tôi quyết định không về nhà mà ghé qua một hội chợ ngay bên cạnh trường. Một hội chợ bình thường và không có gì khác lắm so với ở Việt Nam mình, cũng nhạc sập sình cũng hàng quán người qua kẻ lại , chỉ khác cái là trời lạnh đến mức người ta chỉ còn sức nhìn hàng chứ không còn sức hạ quyết tâm ...lấy cắp gì.

Câu chuyện của chúng ta xảy ra ở một gian hàng nhỏ bán đồ quốc tế từ nhiều nước khác, ở một góc hội chợ, khá ít người lui tới. Trong góc gian hàng có bán cờ. Đủ loaị cờ các nước. Kinh doanh cờ có lẽ đồng nghĩa với chuyện trưng ra mà không mong muốn bán được đắt như tôm tươi . Chắc chúng ta ai cũng biết ở Việt Nam cờ bán đắt nhất khi có dịp đá banh quốc tế mà đội tuyển Việt Nam có mặt.

Lúc đó tôi không để ý lắm tới mấy cái cờ mà xem hàng ở ngoài. Một cậu bé chừng 12, 13 tuổi bước vào, mua cái cờ Việt Nam duy nhất ở đó. Ông bán hàng rán nín cười, nói rằng ngày Quốc khánh ở đây chỉ có cờ NewZeland là hợp lệ thôi. Cậu bé trả lời :"Ông không thể biết được là dân tộc tôi đã đổ bao nhiêu máu để bảo vệ cái màu đỏ này đâu. Và tôi không muốn nó nằm lăn lóc ở một cái sạp ngoài chợ như thế này". Ông bán hàng nín thinh im lặng thối tiền cho cậu bé. Cậu ôm lá cờ trên tay sải bước ra ngoài.

Lần đầu tiên trong 15 năm là người Việt Nam tôi thấy cái màu đỏ trên lá cờ nó đẹp như thế. Cái màu đỏ lấp lánh trong những tia nắng vàng hiếm hoi trong thời tiết 4 độ C, được cẩn thận nâng niu không để chạm đất trên tay một cậu bé sinh ra ở thời bình như tôi và như hàng chục ngàn học sinh khác. Lần đầu tiên tôi thấy một hơi ấm thật sự, xuất phát từ chính dân tộc mình mà đáng ra mình phải tự hào và trân trọng. Lúc đó tôi muốn chạy theo bắt chuyện với cậu bé do thấy một đồng hương ở xứ người , nhưng tự cảm thấy xấu hổ quá nên chỉ biết đứng đó lặng đi nhìn theo cái màu đỏ thắm của Tổ Quốc tung bay nhè nhẹ trên vai cậu bé, sáng lên trong nắng.

Ngày xưa khi máu của ông cha chúng ta đổ xuống, khi những con mắt nhắm lại mà không được nhìn thấy Tổ Quốc tự do tôi nghĩ là họ không mong muốn một thế hệ mà họ đã kì vọng , một tuần nhìn lên lá cờ một lần một cách vô cảm và hát bài Quốc Ca mà không thèm quan tâm đến lời bài hát có cái gì. Họ mong muốn những giây phút như khi một cậu bé cầm lá cờ Tổ Quốc bước ra khỏi sạp bán hàng đầy tự hào và trân trọng dù là ở nửa bên kia của Trái Đất.

Mười năm ở Việt Nam tôi luôn được dạy về cái hào hùng và oanh liệt của lịch sử dân tộc, luôn được dạy về những nỗi đau, những sự hy sinh, những điều phải tôn kính trân trọng phải tự hào ... nhưng chưa lúc nào cái kiến thức đó được đi vào đầu hay được sử dụng tới. Và các bạn ạ, một lần nữa, không phải mất bao nhiêu năm tháng ngồi ghế nhà trường và bao nhiêu trang giấy sách giáo khoa , chỉ trong vòng một khoảnh khắc đó thôi tôi mới thấm thía cái câu cuộc sống mới là nhà trường, nơi mà bài học đi thẳng vào trái tim.

Bùi Như Mai (Thể thao và Văn hóa )

Thứ Sáu, 16 tháng 5, 2008

Uy tín của tướng Võ Nguyên Giáp

Đối với người phương Tây, Võ Nguyên Giáp có lẽ là một hiện tượng đặc biệt trong quân sự thế giới. Ông là vị tướng châu Á được các sử gia và nhà bình luận quân sự phương Tây nhắc đến nhiều nhất từ sau Thế chiến II.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Người ta nhắc đến ông không phải vì ông là đồng minh của các lực lượng quân sự phương Tây mà là người đã đánh bại hai thế lực quân sự hùng cường nhất thế giới vào thời điểm ông là người chỉ huy quân sự.

Một vinh hạnh không kém là ông được sự quí trọng của hai vị tướng tài ba của quân đội Pháp và Mỹ, đối thủ của ông. Đó là Raoul Salan, tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương 1951-1953, và William Westmoreland, người chỉ quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam từ 1968 đến 1972.

Nhìn từ sử sách

Không biết đã có bao nhiêu sách báo và tài liệu quân sự viết về Võ Nguyên Giáp, hay chính ông viết ra và được dịch sang các thứ tiếng nước ngoài, phổ biến rộng rãi trong các tiệm sách và thư viện.

Những sách viết về Võ Nguyên Giáp, được xuất bản tại Pháp, phần lớn do những nhà văn, nhà báo không nhiều thì ít có liên quan đến phong trào cộng sản.

Tướng Giáp tỏ ra có một tài năng vĩ đại trong việc nhìn nhận mặt mạnh nhất của kẻ thù để khai thác nó như mặt yếu nhất
Jonn Colvin trong cuốn 'Giap Volcano under Snow'

Những tác giả này đã hết lời ca ngợi Võ Nguyên Giáp và so sánh ông với những thiên tài quân sự nổi tiếng trên thế giới như với Thomas Edward Lawrence, được biết nhiều dưới tên Lawrence d'Arabie, người đã chinh phục cả lục địa phía đông châu Phi, hay với Ernesto Che Guevara, nhà cách mạng cộng sản Trung Mỹ rất được giới trẻ thiên tả châu Âu ngưỡng mộ.

Nhiều người còn ví thiên tài quân sự của Võ Nguyên Giáp với Karl von Clausewitz, nhà chiến lược quân sự người Phổ đầu thế kỷ 19.

Các sử gia và dư luận phương Tây nể trọng tướng Võ Nguyên Giáp vì ông là vị tướng "không tốt nghiệp một trường võ bị nào và không bắt đầu sự nghiệp quân sự bằng một chức vụ sĩ quan" đã đánh bại quân đội Pháp tại Điện Biên Phủ (1954) và gây khó khăn cho quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam trong suốt thời kỳ 1964-1972, tức thời điểm quân đội Hoa Kỳ có mặt đông đảo nhất tại miền Nam Việt Nam.

Đường tới Điện Biên

Trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất, các sử gia Pháp thường xuyên nhắc nhở đến Võ Nguyên Giáp trong giai đoạn 1946, khi quân Pháp vừa trở lại Việt Nam và đã có những cuộc gặp gỡ với ban tham mưu của Hồ Chí Minh. Tất cả đều lấy làm tiếc cuộc thương lượng với phe Việt Minh, do đảng cộng sản Việt Nam chỉ đạo, khiến đã xảy ra cuộc chiến khốc liệt tại Đông Dương từ 1946 đến 1954. Thật ra lúc đó chính quyền thuộc địa Pháp không đánh giá cao khả năng quân sự của phe Việt Minh thời đó.

Vào thời điểm 1946, lực lượng quân sự của phe Việt Minh do Võ Nguyên Giáp chỉ huy chỉ có khoảng 40 chi đội với trên dưới 50.000 dân quân du kích, thiếu trang bị và huấn luyện. Phải chờ đến 1949, phe Việt Minh mới có được bốn đại đội bộ binh được trang bị súng máy và súng cối. Lực lượng quân sự của Võ Nguyên Giáp chỉ được trang bị dồi dào từ sau 1950, khi phe cộng sản Trung Quốc do Mao Trạch Đông lãnh đạo đánh bại phe Quốc Dân Đảng, do Tưởng Giới Thạch cầm đầu, và chiếm Hoa lục.

Chiến thắng Điện Biên ngày 7.05.1954 đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương

Kể từ sau 1949, khi phe Việt Minh bắt đầu gây nhiều thiệt hại cho quân đội viễn chinh Pháp trên Đường số 4 và khu Việt Bắc, tên tuổi Võ Nguyên Giáp mới được nhắc nhở đến nhiều. Những vị tướng tài ba của Pháp như Revers, Navarre với những lực lượng quân sự chuyên nghiệp được trang bị đầy đủ như Lực lượng Viễn chinh, Lê Dương, Nhảy Dù... (Corps Expéditionnaire, Légion Étrangère, Bataillons Étrangers Parachutistes) đã không ngăn chặn được sự bành trướng của những người lính nông dân do Võ Nguyên Giáp cầm đầu.

Sau này giới quân sự Pháp thường nhắc nhở tới những mưu chước dụ dỗ quân đội của Võ Nguyên Giáp vào bẫy để tiêu diệt như tại Đông Khê, Đường số 4, nhưng không được. Ngược lại, chính quân đội Pháp chịu nhiều thiệt hại và đã phải rút lui khỏi các địa điểm chiến lược trên vùng Trung Du.

Trước sự lớn mạnh của phe Việt Minh, giới quân sự Pháp quyết định mở ra một địa bàn chiến lược khác tại khu lòng chảo Điện Biên Phủ để dụ quân Việt Minh vào tròng để tiêu diệt. Ý đồ này đã được các chiến lược gia và tướng lãnh Pháp nghiên cứu tỉ mỉ. Cũng nên biết vào thời điểm này phe Việt Minh đã chiếm gần như toàn bộ khu vực Trung và Nam Lào, nếu ngăn chặn được đường tiếp tế của phe Việt Minh tại Điện Biên Phủ thì Pháp sẽ triệt hạ dễ dàng lực lượng Việt Minh tại Lào. Với nhận định như thế, bộ chỉ huy quân đội Pháp tại Đông Dương dồn nỗ lực củng cố địa bàn Điện Biên Phủ.

Tại đây, với hỏa lực sẵn có quân Pháp có thể làm chủ được trên không và tiếp tế bằng đường bộ. Cũng nên biết khu lòng chảo Điện Biên Phủ nằm sát biên giới Lào với nhiều đồi núi thấp, do đó dễ quan sát một vùng rộng lớn chung quanh. Quân đội Pháp đã xây dựng tại đây một hệ thống địa hào chằng chịt và kiên cố có thể cầm cự với quân Việt Minh trong một thời gian dài khi bị bao vây. Nói chung, giới quân sự Pháp rất tin tưởng vào sự phòng thủ chiến lược của Điện Biên Phủ, họ hy vọng có thể tiêu diệt quân Việt Minh dễ dàng khi bị tấn công. Nhưng ước muốn là một chuyện thực hiện được hay không là chuyện khác. Sau này giới quân sự và chiến lược gia Pháp đã viết rất nhiều sách và tài liệu nghiên cứu sự thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ, tên của Võ Nguyên Giáp cũng được nhắc tới như một đối thủ nguy hiểm, cần triệt hạ. Tác giả những bài viết này đều không ngờ khả năng điều động lực lượng dân công của Việt Minh trong trận Điện Biên Phủ.

Các chiến lược gia Pháp không ngờ phe Việt Minh đã có sáng kiến tháo gỡ từng bộ phận rời của những khẩu đại bác và súng ống hạng nặng và sử dụng một lực lượng dân công hùng hậu để vận chuyển bằng các phương tiện thô sơ như xe thồ (xe đạp), xe bò, gồng gánh các loại vũ khí và đạn dược, ngày đêm băng rừng, băng suối, băng núi để mang lên các đỉnh đồi chung quanh Điện Biên Phủ, lắp ráp và tấn công quân Pháp. Điều này vượt ngoài tưởng tượng của những chiến lược gia quân sự Pháp, và họ đã tốn rất nhiều giấy mực để diễn tả sự kinh ngạc này, với tất cả sự thán phục.

Cuộc bao vây đã chỉ kéo dài trong ba tháng, từ 13-3 đến 7-5-1954. Quân đội Pháp cùng với bộ chỉ huy tiền phương tại Điện Biên Phủ, do đại tá de Castries cầm đầu, đã đầu hàng vô điều kiện. Võ Nguyên Giáp đã được dư luận Pháp nhìn nhận như người đã đánh bại quân đội Pháp tại Đông Dương.

Không trách Việt Minh

Điều không ngờ là người Pháp chấp nhận sự thất trận này một cách vui vẻ, họ không thù oán gì quân đội Việt Minh mà chỉ trách móc các cấp lãnh đạo chính trị và quân sự của họ đã không sáng suốt. Riêng các tướng Salan, de Castries và rất nhiều tướng tá khác đều hết lời ca ngợi và kính phục Võ Nguyên Giáp. Đây là một trường hợp hi hữu trong lịch sử quân sự của Pháp nói riêng và của cả châu Âu nói chung. Hầu như các cấp lãnh đạo quân sự của châu Âu đều có cùng nhận định như các đồng nghiệp Pháp.

Họ kính nể quyết tâm và khả năng huy động sức người trong trận Điện Biên Phủ của Võ Nguyên Giáp trong suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất. Nếu Võ Nguyên Giáp là một người sinh trưởng tại các quốc gia phương Tây thì ông đã đón nhận tất cả những vinh hạng của một vị anh hùng, một vị tướng tài ba. Rất tiếc ông là người Việt Nam, và hơn nữa là một đảng viên cộng sản, nên tất cả những vinh dự này đã không được thể hiện đúng mức.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi đã nghỉ hưu đôi khi có những phát biểu ôn hòa về các vấn đề của Việt Nam
Sau sự thất trận này, dư luận Pháp đã không thù oán gì Việt Nam mà ngược lại vẫn còn giữ rất nhiều cảm tình với dân tộc Việt Nam và đất nước Việt Nam, lý do là vì con người và đất nước Việt Nam rất hiếu khách và không oán thù người đô hộ sau khi chiến tranh chấm dứt.

Người Pháp có lý do để đề cao yếu tố này, vì trong suốt thời gian chiến tranh, từ 1946 đến tháng 7-1954, không một phụ nữ hay trẻ em người Pháp nào bị bắt làm con tin hay bị sát hại để trả thù báo oán. Đây chính là điều mà dư luận Pháp nói riêng và phương Tây nói chung quí mến dân tộc Việt Nam. Trong chiến tranh thì chém giết nhau không nương tay, nhưng chỉ với những người trực tiếp cầm súng, khi hết chiến tranh thì có thể trở thành bạn bè một cách dễ dàng.

Thứ Hai, 28 tháng 4, 2008

Ký ức Hoàng Sa

Mới rồi, tôi đến Đài thiên văn Phủ Liễn (Kiến An, Hải Phòng), được gặp ông Đậu - một cán bộ khí tượng thuỷ văn kỳ cựu. Trong lúc trò chuyện, ông cho tôi biết hiện còn một người, có lẽ là duy nhất ở nước ta sống đến ngày nay, từng làm việc trên quần đảo Hoàng Sa (tên gọi khác là Paracels). Đó là cụ Nguyễn Đình Dư, sinh năm 1916, quê ở Nghi Hoà, Nghi Lộc, Nghệ An. Giờ muốn tìm cụ, cần qua người cháu ruột là ông Nguyễn Đình Miên - Thanh tra của Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn.

Trở về Hà Nội, tôi lòng vòng đi tìm ông Miên ngay. May mắn là khi đến nhà, ông Miên cũng vừa đón cụ Dư là chú ruột từ nhà người con gái cả về chơi. Cụ Dư tóc bạc phơ cắt ngắn, da đỏ au, đôi mắt tinh anh, đang ngồi trên giường, buông thõng một chân. Tôi ngại cụ lẫn, nói nhỏ với ông Miên, muốn ông ngồi bên để làm rõ thêm câu chuyện. Ông cười bảo, trí nhớ cụ rất tốt, khỏi cần. Cụ cứ rì rầm kể, giọng xứ Nghệ nhỏ nhẹ, có lúc còn cao hứng đọc một lèo hết cả bài thơ dài mấy chục câu do cụ sáng tác từ hồi công tác ở Nha Khí tượng, mà chẳng thiếu, chẳng nhịu từ nào ...

Giáp mặt với chúa đảo

... Năm 1936, tôi đậu Prime Trường Cao Xuân Dục, Vinh, bỏ nhà vào Nam kiếm sống. Mãi đến 1939 mới xin được chân thư ký công nhật ở Sở Thuỷ nông Sài Gòn. Một hôm có ông Nguyễn Xiển là kỹ sư khoa học bên Sở Khí tượng sang xin số liệu. Chúng tôi có quen biết nhau từ trước, do ông là bạn học với người con bà cô tôi bên Pháp. Ông Xiển thấy tôi nói tiếng Pháp lưu loát, liền bảo bên sở của ông đang thiếu người, sang đấy mà xin việc.

Từ năm 1937, Pháp đã xây trên quần đảo Paracels một trạm quan trắc, nằm trong mạng lưới khí tượng toàn Đông Dương. Đang tuổi đôi mươi muốn bay nhảy, biết ngoài ấy cần người, thế là tôi học thêm vài tháng nghề quan trắc thời tiết. Vào đầu năm 1941, tôi được lệnh lên đường. Anh Cáp là bạn thân cùng quê, đang trong Tổ chức Hướng đạo sinh Sài Gòn, tính tình sôi nổi cũng thích sóng gió đại dương, xin được cùng đi với tôi. Từ Sài Gòn ra Tourane (tên gọi ngày ấy của thành phố Đà Nẵng), rồi con tàu nhỏ rẽ sóng ra khơi, sau một ngày đêm, chúng tôi đã cặp đảo Patle thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Quần đảo Hoàng Sa gồm khoảng 30 đảo san hô lớn nhỏ, có đảo chỉ nổi lên khi thuỷ triều cạn ròng. Có 3 đảo lớn Patle, Robert và Boisee là có người ở. Dân đất liền ra đây làm việc theo thời hạn, cứ mỗi tháng lại có tàu ra tiếp tế lương thực, thực phẩm. Tàu chúng tôi cặp vào mạn một cầu tàu đang xây dở trên đảo Patle. Đảo Patle hình trái trứng, đường kính lớn nhất khoảng 700 mét và cao hơn mặt biển lúc lặng sóng là 6 mét. Cư dân trên đảo thời tôi ở gồm 30 lính khố xanh, 30 phu tạp dịch, 1 nhân viên phát tín hiệu vô tuyến, 1 nhân viên khí tượng và 1 phiên dịch. Năm ấy, tôi ra thay người phụ trách khí tượng tên là Trần. Anh này lúc đi đã mang theo một phụ nữ trẻ, nhưng đành phải cho "bồ" về trước, vì trên đảo toàn cánh đàn ông không tiện chút nào.

Chúa đảo đầu tiên tôi gặp tên là Moutshine, là một người Pháp lai, tính tình rất thô bạo hay đánh đập chửi bới lính và phu. Tôi đụng ông ta ngay ngày đầu chân ướt chân ráo ở đảo. Chả là, máy gió tự ghi của trạm khí tượng bị hỏng bộ phận cảm ứng, tôi liền nảy ra sáng kiến tháo cái cầu vai Hướng đạo sinh ba màu xanh, vàng, đỏ của Cáp, kết thành một dải dài cắm lên sân thượng để xem hướng gió. Thấy vậy, Moutshine liền phùng mang, trợn mắt bắt tôi hạ xuống ngay. Tôi không chịu, hắn quát: "Anh đừng quên, ta là chúa đảo". Tôi cũng chơi rắn: "Ông cũng đừng quên, tôi là đại diện cho Sở Khí tượng Đông Dương ở đây!". Hắn hậm hực bỏ đi. Biết thế nào hắn cũng báo về đất liền kể xấu, tôi đánh ngay một bức điện tường trình với "sếp" về tình huống cái máy gió bị hỏng, phải tạm khắc phục như vậy và đã bị chúa đảo gây khó dễ.

Ai ngờ bức điện lại được Giám đốc Khí tượng Đông Dương quan tâm, báo ngay sang Sở Hiến binh. Thế là, một tháng sau, Moutshine có lệnh phải trở về trước thời hạn. Cả đảo ai cũng mừng thầm vì Moutshine vốn được mệnh danh là "bạo chúa". Thay hắn là một người Pháp tính tình nhã nhặn, vui vẻ. Ông ta từng hoạt động trong đoàn Hướng đạo sinh, nên càng dễ hoà hợp với tôi và Cáp.

Thấy nhiều lính và phu đảo hết giờ làm việc là vùi đầu vào đánh bạc, tôi đề xuất với chúa đảo mới, tổ chức cho anh em buổi chiều chơi thể thao, buổi tối sinh hoạt văn nghệ. Chúa đảo đồng ý ngay và giao cho đội khố xanh đứng ra làm việc này. Thế là từ đó trên đảo dẹp được nạn cờ bạc sát phạt nhau. Buổi chiều, lính và phu chia ra hai đội đấu bóng đá ngay sát mép nước, còn tối tối thường vang lên tiếng hát, lời ca cây nhà lá vườn. Tôi biết hầu hết người lao động ở đây mù chữ, liền ngỏ ý muốn dạy thêm cho họ, không ngờ được sự hưởng ứng rất nhiệt tình. Thế là hàng tuần lại có thêm những buổi học văn hoá.

Những thú vui ...

Tôi còn có cái thú là cùng Cáp dành thì giờ rảnh rỗi đi khắp đảo Patle và hai đảo bên cạnh, tìm hiểu lịch sử và thiên nhiên vùng quần đảo. Vào khoảng giữa những năm 30 của thế kỷ XX, người Nhật đã đưa quân ra chiếm quần đảo Paracels nhằm khống chế Đông Dương. Pháp biết mưu thâm của Nhật, liền có đối sách là mượn danh Chính phủ Nam triều đòi lại chủ quyền.

Đầu năm 1937, một sĩ quan Pháp dẫn 50 lính khố xanh đổ bộ lên đảo tuyên bố là thừa lệnh Hoàng đế An Nam tiếp quản Paracels. Phía Nhật không chịu, hai bên định choảng nhau. Điện tới tấp vào đất liền xin chỉ thị, cuối cùng đi đến một thoả thuận: An Nam giữ một phần ba diện tích làm đồn trú bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, phần còn lại cho người Nhật mượn để khai thác phân chim trên đảo (gọi là phốt phát), lính Nhật thì phải rút hết.

Tôi còn được nghe kể, cũng năm 1937 phu đảo Patle đã đào được một bộ xương đàn ông còn đeo cái bài ngà. Đấy là viên quan triều đình Huế trông coi đảo, lâm bệnh nặng, có nguyện vọng an táng tại đây. Đảo có một cái hố đường kính tới 4 mét, không có nước, bên hố có hai cây dừa khô bật gốc và một cái miếu thờ thổ công thổ địa. Người ta bảo đây là cái giếng hứng nước mưa được đào từ thời xa xưa, còn dừa thì do lính đồn trú nhà Nguyễn trồng, gặp cơn bão lớn đã thổi tung gốc. Tôi và Cáp cũng đã nhiều lần sang đảo Robert, nơi có nhiều cây cối nhất và là nơi chăn nuôi bò, lợn, dê, cừu cung cấp thực phẩm tươi sống cho toàn quần đảo.

Đảo này có một cái chòi cao ngất ngưởng, trên đó lính canh ban ngày thì đánh tín hiệu bằng cờ, ban đêm bằng đèn cho đảo Patle. Đảo Boisee ở xa nhất, cách Patle ngót 100 cây số về phía bắc, lớn gấp ba lần đảo Patle. Ngày ấy mấy hòn đảo có người ở đều có rừng, mọc mỗi một loài cây lá to gọi là cây phốt phát. Cây phốt phát nom bề ngoài nó rất yếu ớt, thân khẳng khiu như cây sắn, gỗ lại xốp. Chim biển đậu trắng trên ngọn cây và lớp phân chim từ bao đời tích lại dày tới nửa mét. Mỗi tháng tàu ra tiếp tế, khi trở về người ta không quên chất lên tàu khoảng 200 bao phân chim. Nghe nói, mỗi chuyến như thế chi phí tới 4.000 đồng Đông Dương, chủ tàu mang về mỗi bao phân phốt phát bán được khoảng dăm đồng bạc.

Tôi trở lại Hoàng Sa một lần nữa vào cuối năm 1944, giữa lúc tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến động. Phe Đồng minh ào ạt tấn công phe trục phátxít. Rồi đầu năm 1945 Nhật nhảy vào hất cẳng Pháp ở nước ta, tiếp đến Anh thay mặt Đồng minh vào Nam Bộ giải giáp vũ khí quân Nhật.

Tôi ở trên đảo đã 11 tháng, quá gần hai lần thời hạn quy định. Những ngày tháng tám lịch sử diễn ra trên đất nước ta mà chúng tôi vẫn còn chơ vơ giữa biển khơi. Mấy tháng không có tàu tiếp tế lương thực, có lúc đã phải bắt cá, cua cáy ăn độn cho qua ngày. Trông ngóng mãi rồi cũng có tàu ra, ai ngờ đó là chuyến tàu tiếp tế cuối cùng cho Hoàng Sa thời thuộc Pháp. Người thay tôi tên là Chi, quê gốc Hà Nội.

Về đất liền, tôi được cuốn ngay vào phong trào cách mạng sục sôi. Tôi vào đội du kích quận Tân Bình. Đến ngày Toàn quốc kháng chiến cuối 1946, tình cờ tôi gặp lại Chi người kế nhiệm trên đảo Patle mấy tháng trước. Anh cho biết về một biến cố bất ngờ. Đảo lúc đó bị cô lập, bởi tàu phe Đồng minh kiểm soát trên biển rất gắt gao. Không thể ngồi chờ chết, anh em quyết định đẵn cây đóng bè vượt biển. Chúa đảo ngăn cản, liền bị trói gô ném lên bè. Ông ta van xin mang theo chiếc valy hành lý. Một người chạy vào lấy đại ra một chiếc, về sau mới biết valy tiền bạc của chúa đảo thì để lại, chiếc này toàn đựng toàn đồ nghề và vỏ sò vỏ ốc. May mắn thế nào mà chiếc bè mỏng manh ấy lại vượt được hàng trăm kilômét trùng dương, cặp bến an toàn.

***

Kể xong câu chuyện, cụ Dư bỗng ngồi thừ một lúc, đôi mắt dường như đọng chút nỗi buồn nào đó và nhìn ra xa. Tôi hỏi: "Cụ nhớ Hoàng Sa phải không ạ?". "Quên sao được" - giọng cụ trầm trầm - Hoàng Sa cũng như Trường Sa là phên giậu ngoài biển Đông của đất nước. Con cháu đời đời phải gìn giữ. Năm trước tôi đã viết xong tập "Ký ức Hoàng Sa". Tiếc là để ở nhà, không thì đưa anh xem thử. Ký ức Hoàng Sa - mới ngày nào, mà đã 60 năm trôi qua ..

Quần đảo Hoàng Sa: Lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam

Cách đây đúng 30 năm, giữa lúc nhân dân Việt Nam đang tập trung nỗ lực vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quần đảo Hoàng Sa, lúc này đang do chính quyền Sài Gòn quản lý, đã vì một số lý do nằm ngoài tầm kiểm soát của ta. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn luôn khẳng định Hoàng Sa là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của mình. Bởi vì chủ quyền ấy đã được minh chứng bằng thời gian và lịch sử của nhiều thế kỷ những cư dân và nhà nước Việt Nam đã quản lý và khai thác vùng lãnh thổ trên biển Đông này.

Sự xác lập chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa (cũng như với Trường Sa) được minh chứng không chỉ bằng những tài liệu do người nước ngoài ghi chép như sách Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán viết năm 1696, hay của nhiều tác giả Tây phương như Le Poivre (1749), J.Chaigneau (1816-1819), Teberd (1833), Gutzlaff (1849)...; cũng như những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể liên quan đến hoạt động của các "đội Hoàng Sa" xưa ở cửa biển Sa Kỳ và đảo Lý Sơn (cù lao Ré) nay, mà còn được ghi lại trên nhiều thư tịch trong đó có những văn bản mang tính chất nhà nước của Việt Nam.

Cho dù có một thực tế là, vì nhiều lý do khác nhau, các nguồn tư liệu thành văn của Việt Nam bị mất mát, thì cho đến nay chúng ta vẫn có bằng chứng về chủ quyền của nhà nước Đại Việt (gồm cả Đàng Ngoài của các Chúa Trịnh và Đàng Trong của các Chúa Nguyễn đều lấy danh nghĩa tôn phò nhà Lê) qua Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ Bản Đồ (soạn năm Chính Hoà thứ 7-1686) và sách Phủ Biên Tạp Lục của bác học Lê Quý Đôn (1776).

Tấm bản đồ trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư được vẽ theo bút pháp đương thời với chú rất rõ ràng: "Giữa biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) dài tới 400 dặm... Họ Nguyễn mỗi năm vào cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn...".

Còn bản đồ vẽ trong Toản Tập An Nam Lộ thì ghi chú rất rõ địa danh Bãi Cát Vàng trên biển khơi phía trước của những địa danh trên đất liền như các cửa biển Đại Chiêm, Sa Kỳ, Mỹ Á, phủ Quảng Nghĩa và các huyện Bình Sơn, Chương Nghĩa, Mộ Hoa.

Với sách Phủ Biên Tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn (1776), Hoàng Sa được mô tả kỹ hơn. Năm 1775, Lê Quý Đôn được Chúa Trịnh cử vào vùng đất Phú Xuân nhận chức Hiệp trấn để lo việc bình định hai trấn mới thu hồi được từ Chúa Nguyễn là Thuận Hoá và Quảng Nam.

Sách dành nhiều trang để mô tả về "Đội Hoàng Sa" và "Bắc Hải" của Chúa Nguyễn tổ chức cho dân vùng Tứ Chính, Quảng Ngãi tổ chức thường kỳ việc đến Hoàng Sa để thu lượm các sản vật đem về đất liền. Những tư liệu thu thập tại địa phương xã An Vĩnh (cù lao Ré) còn nói tới "đội Quế hương" cũng là một hình thức tổ chức do dân lập, xin phép nhà nước được ra khai thác ở Hoàng Sa.

Sang thời Nguyễn, kể từ đầu thế kỷ XIX, trong điều kiện nước Việt Nam (dưới triều Gia Long) và Đại Nam (kể từ triều Minh Mạng) đã chấm dứt tình trạng cát cứ và phân tranh, thống nhất quốc gia thì việc quản lý lãnh thổ được ghi chép đầy đủ và lưu trữ tốt hơn. Tấm bản đồ được lập thời Minh Mạng Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ vẽ rất rõ cả một dải lãnh thổ gồm những đảo trên biển Đông được ghi chú là "Vạn Lý Trường Sa" (tên gọi chung cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo quan niệm đương thời).

Hai bộ sách địa lý quan trọng của triều Nguyễn là phần Dư Địa Chí trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833) đều đề cập tới Hoàng Sa trong phần viết về phủ Tư Nghĩa và đều nhất quán với những nội dung của các tài liệu trước, trong đó có hoạt động của các "đội Hoàng Sa".

Bộ chính sử Đại Nam Thực Lục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn liên tục cho đến thập kỷ đầu của thế kỷ XX đều nhiều lần ghi lại các sự kiện liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa như một bộ phận của lãnh thổ quốc gia. Ngay trong phần Tiền Biên, chép về các tiên triều, bộ niên sử này cũng nêu lại những sự kiện từ thời các Chúa Nguyễn.

Một thống kê cho thấy trên bộ sử này, phần chính biên ghi chép cho đến thời điểm in khắc (1848) đã có 11 đoạn ghi chép sự kiện liên quan đến những quần đảo này. Nội dung là việc nhà nước điều cho thuỷ quân và đội Hoàng Sa ra đảo để "xem xét đo đạc thuỷ trình" (quyển 50, 52... đời Gia Long); cử người ra Hoàng Sa "dựng miếu, lập bia, trồng cây", "vẽ bản đồ về hình thế", "cắm bài gỗ dựng dấu mốc chủ quyền" (quyển số 104, 122, 154, 165 đời Minh Mạng).

Ngoài ra còn có các bộ Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (1851) là một bộ điển chế của triều Nguyễn cũng ghi rõ những công việc nhà nước Đại Nam đã thực thi trên lãnh thổ Hoàng Sa. Đặc biệt quý giá là những châu bản của các vị vua triều Nguyễn có liên quan đến Hoàng Sa. Giá trị của những văn bản gốc này là sự thể hiện quyền lực của người đứng đầu quốc gia đối với vùng lãnh thổ này qua lời phê duyệt của nhà vua.

Ví như, phê vào phúc tấu của Bộ Công ngày 12.2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836), nhà vua viết: "Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước (ta), rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ "Năm Bính Thân Minh Mạng thứ 17, họ tên cai đội thuỷ quân phụng mệnh đi đo đạc, cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu"; hay các châu phê về việc thưởng phạt người có công tội khi thực thi trách nhiệm ở Hoàng Sa, đo đạc, vẽ bản đồ v.v...

Cần phải nói lại một lần nữa là trong suốt nhiều thế kỷ liên tục trước đây các tài liệu thư tịch của nhà nước Việt Nam kế thừa nhau và những chứng tích như cầu tàu, trạm khí tượng, hải đăng... của Việt Nam (trước đây do người Pháp sử dụng, khai thác và chính quyền Sài Gòn cũ quản lý) vẫn còn đó, thể hiện chủ quyền lịch sử và thực tiễn đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa.

Giáo sư sử học Dương Trung Quốc
Theo Lao Động


Quần đảo Hoàng Sa

Là một quần đảo san hô nằm trong khoảng vĩ độ 15045'''' Bắc, kinh độ 1110 đến 1130 Đông, án ngữ ngang cửa vào vịnh Bắc Bộ, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi, VN)hơn 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc)khoảng 140 hải lý.


Quần đảo gồm trên 30 hòn đảo, đá, cồn san hô, bãi cát nằm trên một vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng 100 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý, chiếm diện tích biển khoảng 16.000km2. Tổng diện tích phần nổi của đảo Hoàng Sa 10km2.


Lớn nhất là đảo Phú Lâm, rộng khoảng 1,5km2. Các đảo còn lại diện tích nhỏ hơn nhiều

Trường Sa

Từ cuối năm 1986, một tàu dưới dạng đánh cá, không số của nước ngoài đến vùng biển Đông, đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu biển xuống phía Nam, tăng số lần tàu chiến, tàu vận tải hoạt động trinh sát, thăm dò ở khu vực Trường Sa. Đặc biệt là từ ngày 24 đến 30 tháng 12 năm 1986, máy bay và tàu chiến của nước ngoài tiến hành các hoạt động trinh sát từ đảo Song Tử Tây đến khu vực đảo Thuyền Chài, gây nên tình hình căng thẳng về tranh chấp chủ quyền vùng biển của Việt Nam.

Ngày 31 tháng 12 năm 1986, một nước trong khu vực Đông Nam Á đưa lực lượng chiếm bãi Kỳ Vân, uy hiếp các đảo khác gần đảo Thuyền Chài. Đầu năm 1987, nước ngoài đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao và tăng cường đưa tàu chiến đi lại gần khu vực đảo Thuyền Chài. Tiếp đó, trong năm 1987, tàu Hải Dương 4 và một số tàu của nước ngoài tiến hành trinh sát phần lớn các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, trong đó có cả những đảo ta đang giữ; đặt bia kỷ niệm ở đảo Ma-i-xi-ti, huy động tàu qua lại khu vực các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa, Trường Sa Đông, Song Tử Tây, có lúc chỉ cách ta khoảng một hải lý; đồng thời tăng cường các hoạt động trinh sát, xâm nhập, khai thác trái phép tài nguyên vào sâu vùng nội thủy của ta. Tàu nước ngoài đưa lực lượng chiếm giữ hai đảo Kỳ Vân và Kiệu Ngựa ở phía nam quần đảo Trường Sa. Có nước tăng cường lực lượng củng cố các đảo đang chiếm giữ và đưa thêm lực lượng đến vận chuyển xây dựng kiên cố ở Song Tử Tây, Loại Ta và một số đảo khác, gây tình hình căng thẳng ở khu vực quần đảo Trường Sa.

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị và Đảng ủy Quân sự Trung ương đã chỉ thị cho Quân chủng Hải quân đưa lực lượng ra củng cố, giữ vững các đảo đang chốt giữ, tăng cường thế phòng thủ các đảo theo từng cụm, từng khu vực, bảo đảm khi có chiến sự xảy ra có thể chi viện hỗ trợ kịp thời giữ vững đảo; đưa lực lượng đóng giữ một số bãi ngầm mới trong khu vực quần đảo Trường Sa. Tiếp đó, Bộ Chính trị, Đảng ủy quân sự Trung ương ra nghị quyết về việc quyết tâm bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trước mắt là quần đảo Trường Sa, là nhiệm vụ khẩn trương, quyết liệt, lâu dài, là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; khôngchỉ riêng của lực lượng vũ trang, mà các cấp, các ngành, địa phương có liên quan cũng phải đóng góp tích cực.

Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra chỉ thị giao nhiệm vụ cho Quân chủng Hải quân phải bảo vệ các đảo của ta, đặc biệt là không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ quần đảo Trường Sa, bao gồm cả việc củng cố và xây dựng thêm các công trình chiến đấu và bảo đảm trong sinh hoạt; đồng thời đưa lực lượng ra đóng các bãi đá cạn. Trước mắt đưa lực lượng ra đóng giữ Đá Tây, Chữ Thập, Đá Lớn, Tiên Nữ; khai thác và phát huy mọi khả năng của các lực lượng vũ trang, các ngành, các địa phương để chi viện từ bờ ra đảo xa. Nếu tàu nước ngoài xâm phạm đảo, hoặc dùng vũ lực uy hiếp thì đánh trả và tỉnh táo, không bị khiêu khích

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ngày 12 tháng 1 năm 1987, Đảng ủy Quân chủng họp đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ trong năm 1986 và đề ra nhiệm vụ công tác năm 1987. Nhận định về tình hình trên biển, Đảng ủy Quân chủng nêu rõ: Tất cả các khu vực biển tình hình vẫn căng thẳng phức tạp, vẫn diễn ra các hoạt động xâm nhập, trinh sát của tàu nước ngoài tranh chấp chủ quyền tài nguyên, gây tình hình căng thẳng, có thể dẫn đến xung đột vũ trang đánh chiếm, hoặc tập kích vào các đảo, căn cứ trên đất liền, nhất là quần đảo Trường Sa. Toàn quân chủng phải đề cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, đối phó hiệu quả mọi tình huống, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn xâm phạm trái phép, bảo vệ chủ quyền vùng biển và hải đảo của Tố quốc.

Ngày 24 tháng 10 năm 1987, Tư lệnh Hải quân ra mệnh lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cho lực lượng bảo vệ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, tránh âm mưu khiêu khích của tàu nước ngoài; đồng thời chỉ thị cho các Lữ đoàn 125 chuẩn bị tàu, pông-tông sẵn sàng đưa lực lượng ra Trường Sa, chuyển các tàu của Lữ đoàn 172 vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu, cơ động ra phía trước và Trung đoàn 83 chuẩn bị lực lượng, phương tiện, sẵn sàng cơ động đến xây dựng đảo.

Những tháng cuối năm 1987, Quân chủng điều chuyển một số tàu thuộc các Lữ đoàn 146, 125 đưa bộ đội đến tăng cường lực lượng đóng giữ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Ngày 28 tháng 10, tàu 613 đưa một phân đội chiến đấu thuộc Lữ đoàn 146, một trung đội công binh, do đồng chí Nguyễn Trung Cảng, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy ra đóng giữ đảo Đá Tây. Do sóng to gió lớn, gặp khó khăn trong xây dựng công sự chốt giữ, nên sau một thời gian, tàu 613 chở bộ đội về Cam Ranh. Ngày 2 tháng 12 năm 1987, tàu HQ 604 thuộc Lữ đoàn 125 đưa bộ đội cùng vật liệu đến xây nhà cấp 3 ở đảo Đá Tây. Sau một thời gian lao động khẩn trương, cán bộ, chiến sĩ đã hoàn thành khu nhà ở, nhà trực, tổ chức canh gác, bảo vệ đảo.

Cùng thời gian này, Quân chủng tăng cường lực lượng xây dựng thế trận phòng thủ trên các đảo và vùng biển phía Nam. Quân chủng tăng cường thêm phương tiện choVùng 4 hải quân, bảo vệ vị trí neo đậu cho tàu thuyền tại khu vực giàn khoan. Hàng ngày, thường duy trì 2 tàu bảo vệ khu vực khai thác dầu khí, xua đuổi tàu lạ, bảo vệ an toàn cho công tác thăm dò khai thác dầu khí. Thực hiện kế hoạch phối hợp hiệp đồng trong hoạt động bảo vệ biển đảo ở khu vực phía Nam do Bộ Tổng Tham mưu đề ra, Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ đạo; Sở chỉ huy Quân chủng hiệp đồng với Quân chủng Không quân tổ chức nhiều chuyến bay biển quan sát, nắm tình hình hiệp đồng với Đặc khuVũng Tàu - Côn Đảo, Quân khu 7 xây dựng và thực hiện kế hoạch bảo vệ khai thác dầu khí. Hoạt động tuần tiễu ở khu vực giàn khoan của Hải quân lúc cao nhất có 6 tàu của Lữ đoàn 171 và Hải đoàn 129. Một số tàu đánh cá đến hoạt động trái phép ở khu vực thềm lục địa, hoặc tàu lạ xuất hiện đã bị hải quân ta ngăn chặn, xua đuổi, bảo vệ an toàn khu vực tài nguyên thuộc chủ quyền vùng biển của Việt Nam.

Theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến trên biển và khu vực quần đảo Trường Sa, ngày 9 tháng 1 năm 1988, Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Hải quân nước ngoài sẽ tiến hành các hoạt động quân sự tranh chấp chủ quyền hải đảo chiếm một số bãi san hô nổi hoặc chìm khi nước lên, xen kẽ với các đảo của ta. Các nước ngoài có thể tranh chấp thêm các đảo kể cả khi có xung đột với nhau. Cũng có nước có thể chiếm đóng một số đảo nằm giữa Kỳ Vân và Ri-gân. Cuộc tranh chấp các đảo đang trở thành nguy cơ trực tiếp đe dọa Việt Nam và các nước trong khu vực. Ở Bắc Bộ, nước ngoài có thể triển khai thêm khu vực khai thác dầu khí, sử dụng không quân và hải quân bảo vệ gây tình hình căng thẳng ở khu vực này. Ở vịnh Thái Lan, Hải quân Mỹ thường xuyên qua lại có thể hỗ trợ cho hải quân Thái Lan mở rộng hoạt động, gây mất ổn định, uy hiếp chủ quyền vùng biển, hải đảo của ta ở phía Nam.

Trên cơ sở nhận định, đánh giá tình hình, Đảng ủy Quân chủng đề ra chủ trương: Tranh thủ thời gian, triệt để triển khai lực lượng đóng giữ trên các đảo. Không để nước ngoài thực hiện ý đồ cho lực lượng đóng xen kẽ với ta, hoàn thành việc đóng giữ các đảo trong ba năm (1988-1990). Trong năm 1988, triển khai lực lượng đóng giữ phải hết sức bí mật, đóng đảo nào, bảo đảm phòng thủ tốt trên đảo đó. Đồng thời tăng cường số lần hoạt động tuần tiễu, bảo vệ vịnh Bắc Bộ, vùng biển Tây Nam. Bảo vệ vùng biển, hải đảo trong biển Đông trở thành vấn đề chiến lược của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó Hải quân nhân dân là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân bảo vệ chủ quyền vùng biển, hải đảo của Tổ quốc. Đảng ủy Quân chủng xác định: "Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và cũng là vinh dự của Quân chủng".

Thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy Quân chủng, Bộ Tư lệnh Hải quân lệnh cho lực lượng tàu, bộ đội công binh và lực lượng của cơ quan chuyển vào Cam Ranh, sẵn sàng đưa bộ đội ra đóng giữ đảo. Bộ Tư lệnh Hải quân chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của trên, sáng tạo, bình tĩnh, dũng cảm và kiên quyết phối hợp với các lực lượng khác đấu tranh cả về chính trị, ngoại giao, quân sự, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển hải đảo và thềm lục địa của Tổ quốc, không để chiến tranh lan rộng ra khắp quần đảo, chỉ đạo cơ quan Bộ Tham mưu, các cục Chính trị, Hậu cần, Kỹ thuật và các đơn vị làm tốt công tác tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, chỉ đạo và thực hiện tốt việc di chuyển cơ quan, Sở chỉ huy Quân chủng, củng cố duy trì nền nếp công tác của bộ phận còn lại ở phía Bắc (Sở chỉ huy hậu phương),chỉ đạo triển khai tăng cường thông tin liên lạc ở Cam Ranh, thành phố Hồ Chí Minh, quần đảo Trường Sa, chú trọng mạng thông tin hiệp đồng quân binh chủng, chỉ đạo bảo đảm hàng hải, thả phao tiêu đánh dấu luồng lạch ở Trường Sa, chỉ đạo công tác vật tư tài chính công binh bảo đảm hoàn thành kế hoạch xây dựng công trình, công sự chiến đấu, thiết bị chiến trường ở quần đảo Trường Sa, chỉ đạo công tác tuyển quân, nắm chắc số, chất lượng phương tiện chiến đấu, đề xuất xin và đóng mới phương tiện và bảo đảm quân số cho lực lượng tàu chiến đấu, lực lượng đóng quân trên đảo; chỉ đạo tăng cường công tác nắm địch, tăng thêm phương tiện, lực lượng nắm địch, chỉ đạo công tác tuyển quân và huấn luyện chiến đấu.

Ngày 22 tháng 1 năm 1988, nước ngoài đưa 4 tàu gồm: hộ vệ tên lửa, tuần dương, tàu dầu, tàu đổ bộ và một số tàu khác đến chiếm đóng đảo Chữ Thập. Tiếp đó, nước ngoài đưa một lực lượng lớn gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 khu trục tên lửa, 4 tàu bảo đảm đậu xung quanh đảo, khống chế không cho tàu thuyền các nước qua lại để bảo vệ đảo Chữ Thập. Hải quân nước ngoài còn tổ chức ba cụm tuyến hoạt động gồm: Cụm phía sau lấy Hoàng Sa làm căn cứ thường xuyên có tàu hộ vệ pháo, hộ vệ tên lửa, khu trục tên lửa, tuần dương, các tàu ngầm và tàu hộ tống nhằm ngăn cản, uy hiếp lực lượng tàu hải quân ta hoạt động ở vịnh Bắc Bộ, gây khó khăn cho ta trong việc triển khai hoạt động bảo vệ vùng biển phía Nam; cụm ngăn chặn lực lượng hải quân ta ở đông bán đảo Cam Ranh, Cù Lao Thu và cụm Chữ Thập âm mưu khống chế ta ở khu vực Trường Sa, nếu có thời cơ phát triển lực lượng xuống khu vực phía Nam.

Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Hải quân, ngày 23 tháng 1 năm 1988, tàu 613 thuộc Vùng 4 hải quân chở lực lượng và vật liệu ra đảo Tiên Nữ. Sau hai ngày vật lộn với sóng to, gió lớn, tàu đến Tiên Nữ. Phương châm xây dựng là làm đến đâu chắc đến đó. Đầu tháng 2 năm 1988, cán bộ, chiến sĩ trên đảo hoàn thành nhà ở cấp 3, nơi sinh hoạt, bếp ăn và triển khai phương án sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đảo.

Ngày 27 tháng 1 năm 1988, tàu HQ-611 và tàu HQ-712, do đồng chí Công Phán, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 làm biên đội trưởng, đồng chí Nguyễn Thế Dân, Phó tham mưu trưởng Vùng 4 hải quân làm biên đội phó, chỉ huy 1 đại đội công binh và 2 khung đảo của Lữ đoàn 146 đến đóng giữ đảo Chữ Thập. Ngày 29 tháng 1, tàu bị hỏng máy phải dừng lại sửa chữa, đồng chí Nguyễn Thế Dân chuyển sang tàu HQ-07 thuộc Lữ đoàn 171 đi làm nhiệm vụ bảo vệ đảo Đá Lớn. Đồng chí Công Phán ở lại, sau khi tàu sửa chữa xong tiếp tục chỉ huy biên đội tiến về phía đảo Chữ Thập. Sáng ngày 30 tháng 1, khi cách đảo 5 hải lý, thì phát hiện 4 tàu chiến đấu của nước ngoài, gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo ra ngăn cản, có lúc chỉ cách 300m, không cho tiếp cận đảo, tàu đành phải quay về Trường Sa Đông, không thực hiện được việc đóng giữ đảo Chữ Thập như kế hoạch đề ra.

Ngày 4 tháng 2 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Nước ngoài đã cho quân đóng trên đảo Chữ Thập, trước mắt ta chưa đóng xen kẽ vì họ ngăn chặn ta từ xa. Họ có thể mở rộng phạm vi chiếm đóng sang các đảo Châu Viên, Đá Đông, Đá Nam, Tốc Tan và đóng xen kẽ những bãi đá ta đang đóng giữ. Do đó, ta phải nhanh chóng đưa lực lượng ra đóng giữ Đá Lát, Đá Lớn, Châu Viên. Thực hiện Nghị quyết của Thường vụ Đảng ủy Quân chủng, Tư lệnh Hải quân điện cho biên đội tàu 611 và 712 đang neo đậu ở đảo Trường Sa Đông đưa bộ đội đến đóng giữ đảo Đá Lớn trước 3 giờ ngày 5 tháng 2 năm 1988. Tình hình nhiệm vụ của Quân chủng ở quần đảo trường Sa khẩn trương, cấp bách. Được sự đồng ý của trên, Quân chủng thành lập Sở chỉ huy tiền phương tại Cam Ranh, do đồng chí Giáp Văn Cương làm Tư lệnh kiêm tư lệnh Vùng 4. Các cơ quan: tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật đều tổ chức các bộ phận tiền phương của ngành để kịp thời giải quyết mọi mặt theo yêu cầu đóng giữ, bảo vệ Trường Sa và DKI. Cục Kỹ thuật đã chỉ đạo các nhà máy, xưởng trạm, kho tàng lập các tổ đội sửa chữa động thường trực tại các khu vực Cam Ranh, Nha Trang, Đà Nẵng, Vũng Tàu và bám theo tàu thuyền các đơn vị để sửa chữa, bảo đảm kỹ thuật cho các hoạt động đóng giữ, bảo vệ các đảo và căn cứ.

Chấp hành mệnh lệnh của Tư lệnh Hải quân, tàu 611 và tàu 712 đưa lực lượng công binh và bộ đội của Lữ đoàn 146 đến đảo Đá Lát. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Công Phán, bộ đội phân chia lực lượng thành 3 tổ chiến đấu canh gác; đồng thời tổ chức lực lượng làm nhà cấp 3. Đến ngày 20 tháng 2, lực lượng công binh được sự hỗ trợ của lực lượng đóng giữ đảo hoàn thành nhà và bàn giao cho lực lượng bảo vệ đảo.

Trong khi đó, ở hướng Đá Lớn, ngày 13 tháng 2, thực hiện nhiệm vụ Tư lệnh Hải quân giao, Lữ đoàn 125 cho tàu 505 kéo tàu LCU 556 cùng bộ phận làm nhà cao chân đóng giữ đảo Đá Lớn. trong khi ta đang tiến về phía đảo, thì phát hiện tàu khu trục và hai tàu hộ vệ tên lửa của nước ngoài cũng tiến về phía Đá Lớn. Khi ta cách Đá Lớn khoảng 4 hải lý, tàu nước ngoài thả thủy lôi ngăn cản, uy hiếp ta. Trước tình hình đó, ban chỉ huy tàu 505 họp nhận định: nước ngoài chưa biết ý đồ của ta đưa lực lượng ra đóng giữ đảo, việc thị uy không liên quan đến hành trình, ta cứ cho tàu chạy theo hướng đã định. Tàu 505 bình tĩnh, khôn khéo đưa tàu LCU 556 tiếp tục tiến về phía bắc đảo. Ngày 20 tháng 2, sau khi quan sát thăm dò luồng, tàu 556 tiến vào phía nam đảo an toàn. Cùng thời gian này, tàu Đại lãnh của công ty trục vớt cứu hộ Sài Gòn kéo tàu HQ-582 và pông-tông Đ02 đi Đá Lớn. Ngày 27 tháng 2, tàu xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 1 tháng 3, pông-tông Đ02 vào đến vị trí phía bắc đảo Đá Lớn. Cán bộ, chiến sĩ trên pông-tông Đ02 và lực lượng trên tàu LCU đã đến triển khai lực lượng, xây dựng thế trận phòng thủ bảo vệ đảo Đá Lớn.

Tháng 2 năm 1988, nước ngoài tăng thêm 4 tàu hộ vệ tên lửa, hộ vệ pháo xuống hoạt động ở khu vực quần đảo Trường Sa, gây tình hình hết sức căng thẳng. Ngày 18 tháng 2, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp đề ra chủ trương: "Ta phải kiên quyết đóng nhanh, đóng đồng thời tất cả các đảo đã có kế hoạch. Nếu cần có thể dùng mọi loại tàu để ủi bãi, không làm như vậy sẽ không kịp ngăn chặn nước ngoài tiếp tục mở rộng phạm vi chiếm đóng thêm".

Lúc này nhiệm vụ đóng giữ đảo của cán bộ, chiến sĩ các Lữ đoàn 146, 125 và Trung đoàn công binh 83 ngày càngtrở nên quyết liệt. trung tuần tháng 2 năm 1988, thực hiện mệnh lệnh của Sở chỉ huy Quân chủng, Lữ đoàn 125 đưa pông-tông 7 ra giữ Tốc Tan. Trong khi đó, tại Đá Đông, một đảo chìm rộng giữ vị trí quan trọng trong quần đảo, Sở chỉ huy Quân chủng lệnh cho tàu 661 đưa lực lượng ra cắm cờ, canh gác; đồng thời lệnh cho tàu 605 chở vật liệu, bộ đội chốt giữ đảo của Lữ đoàn 146 và lực lượng công binh của Trung đoàn 83 ra xây dựng, bảo vệ. Trong bối cảnh hải quân nước ngoài có thể khiêu khích ngăn chặn, song các tàu của ta đã bình tĩnh vượt qua sóng gió đưa bộ đội và vật liệu đến đảo an toàn. Nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tàu, đảo, công binh, công việc triển khai xây dựng nhà, công sự đã hoàn thành theo đúng kế hoạch, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật. Ta triển khai lực lượng bảo vệ đảo. Các tàu 605, 604 tiếp tục ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài Đá Đông. Như vậy đến tháng 3 năm 1988, lực lượng Hải quân ta đã triển khai xây dựng xong thế trận phòng thủ trên các đảo Đá Lát, Đá Đông, Tốc Tan, Tiên Nữ và Đá Lớn, đưa tổng số đảo đóng giữ của ta lên 16, trong đó gồm 9 đảo nổi, 7 đảo chìm.

Trong những tháng đầu năm 1988, nước ngoài cho quân chiếm đóng một số bãi đá thuộc khu vực quần đảo Trường Sa. Trước tình hình đó, ngày 4 tháng 3 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Nước ngoài đã cho quân chiếm giữ Chữ Thập, Châu viên, Ga ven, Xu Bi, Huy Gơ. Ta xây dựng thế trận phòng thủ ở các đảo Tiên Nữ, Đá Lát, Đá Lớn, Đá Đông, Tốc Tan, bước đầu ngăn chặn được hành động mở rộng phạm vi chiếm đóng của hải quân nước ngoài ra các đảo lân cận. Song đối phương có thể chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và đông kinh tuyến 115 độ

Căn cứ vào tình hình xung quanh khu vực Trường Sa, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng xác định: Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu để hải quân nước ngoài chiếm giữ sẽ khống chế đường qua lại của ta tiếp tế, bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa. Vì vậy, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng hạ quyết tâm đóng giữ các đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, khẩn trương, bởi trong cùng một lúc hải quân ta phải triển khai đóng giữ cả 3 đảo trong điều kiện phương tiện, trang bị của ta cũ, thô sơ, lực lượng hạn chế. Thường vụ Đảng ủy Quân chủng giao cho Lữ đoàn 125 cử lực lượng thực hiện nhiệm vụ này.

Trong khi đó, hải quân nước ngoài sau khi chiếm giữ trái phép Chữ Thập, Châu viên, Huy Gơ, Ga Ven và Xu Bi cũng đang ý đồ chiếm giữ ba đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao nhằm gây thanh thế ở khu vực Trường Sa và trên biển Đông. Đầu tháng 3 năm 1988, nước ngoài huy động lực lượng của 2 hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên có từ 9 đến 12 tàu chiến gồm: khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ; tàu hỗ trợ gồm 3 tàu vận tải LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và một pông-tông lớn. Việc nước ngoài đưa một lực lượng lớn tàu chiến, tàu vận tải đến hoạt động đã gây nên tình hình căng thẳng ở khu vực quần đảoTrường Sa.

Trước tình hình đó, ngày 31 tháng 3 năm 1988, Tư lệnh Hải quân lệnh cho Vùng 4, Lữ đoàn 125, Lữ đoàn 146; các hải đội 131, 132, 134 của Lữ đoàn 172 chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao; đồng thời lệnh cho Vùng 1, Vùng 3 và Lữ đoàn 125 ở Hải phòng chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường. Bộ Tư lệnh Hải quân điều động 41 tàu thuyền và phương tiện nổi của Lữ đoàn 125, Cục Kinh tế, Vùng 1, Vùng 3, Vùng 5, Trường sĩ quan Hải quân, Nhà máy Ba Son, X51 tiếp nhận 3 tàu của nhà nước, 3 tàu của Tổng cục Hậu cần và 2 tàu của Quân khu 5 đến phối thuộc hoạt động khi cần thiết.

Thực hiện quyết tâm của Thường vụ Đảng ủy Quân chủng, ngày 12 tháng 3 năm 1988 tàu 605 (Lữ đoàn 125) do đồng chí Lê Lệnh Sơn làm thuyền trưởng được lệnh từ Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao trước 6 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1988. Sau 29 giờ hành quân bí mật, khẩn trương vượt qua sóng to, gió lớn, tàu 605 đến Len Đao lúc 5 giờ ngày 14 tháng 3 và cắm cờ Tổ quốc trên đảo, khẳng định chủ quyền và quyết tâm bảo vệ đảo của bộ đội ta.

Thực hiện nhiệm vụ đóng giữ các đảo Gạc Ma và Cô Lin, 9 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1988, tàu HQ-604 do đồng chí Vũ Phi Trừ làm thuyền trưởng và tàu HQ-505 do đồng chí Vũ Huy Lễ làm thuyền trưởng được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin. Phối hợp với hai tàu 604 và 505 có 2 phân đội công binh (70 người) thuộc Trung đoàn 83, bốn tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146, do đồng chí Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (Bộ Tổng Tham mưu). Sau khi hai tàu của ta thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của nước ngoài từ Huy Gơ chạy về phía Gạc Ma, có lúc cách ta 500m. 17 giờ ngày 13 tháng 3, tàu nước ngoài áp sát tàu 604 ta và dùng loa gọi sang khiêu khích. Bị tàu nước ngoài uy hiếp, cán bộ, chiến sĩ hai tàu 604 và 505 động viên nhau giữ vững quyết tâm không để mắc mưu, kiên trì neo giữ quanh đảo. Tàu chiến đấu của nước ngoài cùng 1 tàu hộ vệ, 2 tàu vận tải thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma.

Trước tình hình căng thẳng do hải quân nước ngoài gây ra, lúc 21 giờ ngày 13 tháng 3, Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị cho các đồng chí Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma, Cô Lin. Tiếp đó, Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị: Khẩn trương thả xuồng máy, xuồng nhôm, chuyển vật liệu làm nhà lên đảo ngay trong đêm ngày 13 tháng 3. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Hải quân, tàu 604 cùng lực lượng công binh Trung đoàn 83 chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma, tiếp đó, lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ, cắm cờ Tổ quốc và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo.

Lúc này, nước ngoài điều thêm 2 tàu hộ vệ trang bị pháo 100mm đến hỗ trợ tàu có từ trước khiêu khích đe dọa ta rút khỏi đảo Gạc Ma. Ban chỉ huy tàu 604 họp nhận định tàu nước ngoài có thể dùng vũ lực can thiệp và quyết định chỉ huy bộ đội bình tĩnh xử trí, thống nhất thực hiện theo phương án tác chiến đề ra, quyết tâm bảo vệ Gạc Ma.

6 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1988, đối phương thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo tiến về phía cờ ta đang tung bay. Dựa vào thế đông quân, đối phương tiến vào giật cờ ta. Lập tức, thiếu úy Trần Văn Phương, hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội anh dũng giành lại cờ. Binh lính của đối phương đã dùng lưỡi lê đâm và bắn nguyễn Văn Lanh bị thương. Thiếu úy Trần Văn Phương xông vào cứu, bị đối phương bắn, đã anh dũng hy sinh. Trước lúc hy sinh, Trần Văn Phương đã hô: "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân”. Sự hy sinh anh dũng của Trần Văn Phương đã nêu tấm gương sáng cho các đơn vị noi theo, quyết tâm chiến đấu, bảo vệ hải đảo của Tố quốc.

Không uy hiếp được bộ đội ta rút khỏi đảo, 7 giờ 30 phút ngày 14 tháng 3, đồi phương dùng hai tàu bắn pháo 100mm vào tàu 604, làm tàu ta bị hỏng nặng. Đối phương cho quân xông về phía tàu ta. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ đã bình tĩnh chỉ huy bộ đội trên tàu sử dụng các loại súng AK, RPĐ, B40, B41 đánh trả quyết liệt, buộc binh lính đối phương phải nhảy xuống biển trở về tàu của họ. Trận đánh diễn ra mỗi lúc quyết liệt. Các đồng chí Trần Đức Thông, Vũ Phi Trừ vừa chỉ huy bộ đội chiến đấu, vừa tổ chức băng bó, cứu chữa thương binh và hỗ trợ các chiến sĩ bảo vệ cờ. Đối phương tiếp tục nã đạn, làm tàu ta bị thủng nhiều lỗ và hỏng nặng chìm dần xuống biển. Đồng chí Vũ Phi Trừ, thuyền trưởng; đồng chí Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 cùng một số cán bộ, chiến sĩ tàu đã anh dũng hy sinh cùng tàu 604 ở khu vực đảo Gạc Ma.

Tại đảo Cô Lin, 6 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1988, tàu HQ-505 đã cắm 2 lá cờ trên đảo. Khi tàu 604 của ta bị chìm, đồng chí Vũ Huy Lễ, thuyền trưởng tàu 505 ra lệnh nhổ neo cho tàu ủi bãi. Phát hiện tàu 505 của ta đang cơ động lên bãi, hai tàu của đối phương quay sang tiến công tàu 505. Bất chấp hiểm nguy, tàu 505 chạy hết tốc độ, trườn lên được hai phần ba thân tàu thì bốc cháy. 8 giờ 15 phút ngày 14 tháng 3, bộ đội tàu 505 vừa triển khai lực lượng dập lửa cứu tàu, bảo vệ đảo, vừa đưa xuồng đến cứu vớt cán bộ, chiến sĩ tàu 604 bị chìm. Tàu HQ-505 bị bốc cháy. Cán bộ, chiến sĩ của tàu dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, bảo vệ chủ quyền đảo Cô Lin.

Ở hướng đảo Len Đao, 8 giờ 20 phút ngày 14 tháng 3, tàu của đối phương bắn mãnh liệt vào tàu HQ-605 của ta. Tàu 605 bị bốc cháy và chìm lúc 6 giờ ngày 15 tháng 3. Cán bộ, chiến sĩ của tàu dìu nhau bơi về đảo Sinh Tồn an toàn.

Như vậy, trước tình hình hải quân nước ngoài gây ra những vụ khiêu khích quân sự ở xung quanh khu vực Quần đảo Trường Sa, Bộ Tư lệnh Hải quân đã chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị dũng cảm chiến đấu bảo vệ Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao; đồng thời triển khai lực lượng đóng giữ các đảo khác, giữ vững chủ quyền quần đảo, vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Trong trận chiến đấu ngày 14 tháng 3 năm 1988, ta bị tổn thất: 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 đồng chí hy sinh, 11 đồng chí bị thương, 70 đồng chí bị mất tích. [1. Sau này, đối phương trao trả ta 9 đồng chí, còn 61 người mất tích.]

Mặc dù so sánh lực lượng chênh lệch, phương tiện, vũ khí hạn chế, cán bộ và chiến sĩ hải quân đã chiến đấu dũng cảm, bảo vệ chủ quyền hải đảo của Tổ quốc. Các đơn vị hải quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Bộ Chính trị, Đảng ủy quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng giao phó. Với chiến công oanh liệt, tàu HQ-505 được Nhà nướctuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Các đồng chí Vũ Phi Trừ, Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Nguyễn Văn Lanh, Trần Văn Phương được truy tặng và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hàng chục tập thể và cá nhân được tặng thưởng huân chương Quân công, huân chương chiến công các loại.

Ngày 7 tháng 5 năm 1988, tại lễ kỷ niệm 33 năm ngày thành lập Hải quân nhân dân, Đại tướng Lê Đức Anh, ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến thăm cán bộ, chiến sĩ trên quần đảo Trường Sa. Đại tướng biểu dương: "Hải quân đã tích cực, kiên trì thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng về bảo vệ quần đảo Trường Sa. Mặc dù có nhiều khó khăn, song đã nỗ lực thực hiện nhiệm vụ được giao".Tại cuộc mít tinh ở đảo Trường Sa, Đại tướng phát biểu nhấn mạnh: "Nhân kỷ niệm ngày thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam trên đảo chính của quần đảo Trường Sa, có mặt đông đủ các Tổng cục, các quân chủng, đại biểu tỉnh Phú Khánh (nay là Phú Yên, Khánh Hoà), chúng ta xin thề trước hương hồn của Tổ tiên ta, trước hương hồn của cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, xin hứa trước đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau: Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu của chúng ta, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta". [1. Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955-1995) - Biên niên sự kiện, Sđd, tr. 251

Nhằm tăng cường khả năng xây dựng, bảo vệ Quần đảo Trường Sa - DK1, từ năm 1987 Quân chủng được Bộ Tổng Tham mưu điều chuyển bổ sung hàng chục xe tăng T54, K63-85, hàng chục khẩu súng pháo (chủ yếu là ĐKZ, pháo 85mm và 37mm), tiếp nhận hàng chục tấn vũ khí, đạn. Năm 1988, Nhà nước, Bộ Quốc phòng tiếp tục tăng cường vũ khí trang bị kỹ thuật cho Hải quân như pháo D30, 122mm, 23mm, tên lửa phòng không, súng phóng lựu AGF... để Quân chủng trang bị cho các đảo. Nhà nước điều các tàu Sông Thao, Hạ Long 01, Bạch Đằng 18 cho Hải quân. Liên Xô viện trợ cho ta 1 tàu kéo 3000CV, 1 tàu nước 1300CV, 6200m xích neo, 38 neo lớn... Chính phủ đã quyết định cấp cho Quân chủng 1.150 tấn thép, 20 tấn tôn múi, 1.450 tấn xi măng, 700 m3 gỗ tròn, 3,5 tấn que hàn, 4 xe Kpan, 1 xe xúc, 2 xe cần cẩu (quyết định số 26). Tiếp theo Chính phủ quyết định cấp cho Quân chủng 4.000 tấn thép, 50 tấn tôn mạ, 20 tấn cát, thép, 178 tấn que hàn, 1.080 tấn xi măng (M500), 5.000 tấn xi măng (M300),1 500 tấn xăng dầu, 200 bộ săm lốp, 1.262m3 gỗ, 2.500m vải bạt,... cùng một số vật tư khác để Quân chủng đẩy mạnh công tác đóng 10 pông-tông, làm 12 nhà cấp 2 cho các đảo chìm. Chính phủ còn huy động 6 pông-tông của Bộ Giao thông vận tải, giao cho Bộ Giao thông vận tải thiết kế xây dựng cầu tàu ở đảo Trường Sa, lắp pin mặt trời cho các điểm đảo cùng một số bộ vi-đê-ô cát-xét (video casset) cho bộ đội ở đảo. Cùng với các quyết định của trên, Chính phủ, Bộ Quốc phòng giao cho Quân chủng Hải quân ký hợp đồng với các nhà máy đóng tàu: Bạch Đằng, Hạ Long để đóng tàu vận tải 1.000 tấn - 980CV, những tàu này trang bị cho Lữ đoàn 125. Được tăng cường vũ khí trang bị kỹ thuật, nhất là tàu thuyền, súng pháo,... khả năng sức mạnh chiến đấu của hải quân được củng cố. Đây là cơ sở bảo đảm cho Quân chủng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đóng giữ, bảo vệ quần đảo Trường Sa - DK1. Hoạt động của Quân chủng đã thu hút được sự quan tâm của quân và dân cả nước đều vì Trường Sa, hết lòng chi viện sức người, sức của cho Trường Sa.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và Chỉ thị của Ban Bí Thư Trung ương Đảng, theo đề nghị của Bộ Tư lệnh Hải quân, từ tháng 6 năm 1988, các tỉnh Quảng Nam -Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Quảng Ninh, Bình. Trị - Thiên, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hải phòng và Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo, mỗi địa phương đảm nhận làm nhà cấp 1 ở đảo. Theo kế hoạch, tháng 8 năm 1988, các tỉnh Bình - Trị - Thiên, Nghĩa Bình, Quảng Nam - Đà Nẵng đã hoàn thành xây nhà ở các đảo Đá Nam, Đá Lớn, Tốc Tan. Các địa phương khác do triển khai chậm bị ảnh hưởng thời tiết nên hoàn thành chậm. Bộ Tư lệnh công binh phải triển khai làm 8 khung nhà cấp 2, cử cán bộ kỹ thuật, lực lượng thi công ra xây dựng ở hai đảo Đá Tây và Đá Thị. Còn hai đảo Cô Lin và Len Đao, do Quân chủng Hải quân đảm nhiệm xây dựng nhà cấp 2 khung nhà sắt do Bộ Tư lệnh công binh thiết kế. Đến cuối tháng 8 năm 1988, ta đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng các loại nhà cấp 1, 2, 3, nâng tổng số lên 21 đảo và bãi đá ngầm với 32 điểm đóng giữ, hình thành 5 cụm đảo; đồng thời tập trung củng cố cơ sở bảo đảm ở các đảo trung tâm của từng cụm gồm: Song Tử, Nam Yết, Trường Sa, Phan Vinh, Thuyền Chài. Các đảo được tăng cường quân số, hỏa lực, công trình phòng thủ, tạo thành thế chiến đấu liên hoàn từng cụm đảo trong thế trận phòng thủ chung, góp phần bảo vệ sự toàn vẹn chủ quyền vùng biển, thềm lục địa và vùng kinh tế đặc quyền của Tổ quốc.

Để tăng cường khả năng phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu thực hiện ý định, chủ trương của Bộ Quốc phòng, tháng 9 năm 1988 Quân chủng hiệp đồng với Quân chủng phòng không - Không quân và lực lượng vũ trang Quân khu 5 luyện tập trên vùng biển từ Khánh Hòa đến BìnhThuận. Qua diễn tập (có bắn đạn thật) đã đúc rút được nhiều vấn đề quan trọng về chiến thuật, kỹ thuật. Cũng qua thực hiện nhiệm vụ, Xưởng Ba Son, X51 được Nhà nước tặng thưởng huân chương chiến công hạng nhất, Z753 được tặng thưởng huân chương chiến công hạng nhì do lập được nhiều thành tích xuất sắc trong bảo vệ Trường Sa và DK1. Trong khi tập trung cho nhiệm vụ bảo vệ Trường Sa và DK1, ngành kỹ thuật vẫn tiếp tục chỉ đạo Xưởng Ba Son và X51 sửa chữa đốc nổi 1.000 tấn, các tàu 206M, LCU, LCM-8, LCM-6, PCF cho Hải quân Cam-pu-chia.

Tháng 11 năm 1988, tổng kết 13 năm giúp bạn Lào, Hải quân nhân dân Việt Nam đã đóng 4 tàu vận tải, lắp máy cho 5 tàu vỏ gỗ, bảo đảm kỹ thuật và viện trợ 14 tàu PBR, 33 tấn phụ tùng, sửa chữa 97 tàu, trang bị 56 máy công cụ, khôi phục Xưởng Chi-nai-mô, đào tạo 56 thợ kỹ thuật, Cục Kỹ thuật Hải quân được Nhà nước Lào tặng thưởng Huân chương ít-xa-la hạng nhì.

Trong khi ta đang củng cố, xây dựng thế trận phòng thủ trên các đảo thuộc Quần đảo Trường Sa, hải quân nước ngoài tiếp tục có những hoạt động trên vùng biển Đông. Ngày 5 tháng 7 năm 1988, Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Sau những hành động khiêu khích quân sự vừa qua, nước ngoài sẽ tiếp tục có những âm mưu cô lập hạn chế hoạt động của ta để mở rộng quyền kiểm soát, khống chế vùng biển Đông. Đúng như dự đoán của ta, trên vùng biển và xung quanh khu vực quần đảo Trường Sa, nước ngoài thường xuyên duy trì từ 10-15 tàu, trong đó có 4-6 tàu chiến. Đầu tháng 9 năm 1988, hải quân nước ngoài đưa tàu trinh sát bằng vô tuyến điện xuống trinh sát 21 đảo ta đang đóng giữ, uy hiếp chiếm lại khi thời cơ thuận lợi và tuyên truyền về chiến lược biển và kinh tế biển, tập trung vào dầu khí thuộc khu vực thềm lục địa phía Nam của Việt Nam.

Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng tại khu vực thềm lục địa phía Đông Nam thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cụm kinh tế, khoa học, dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế đất nước và giao nhiệm vụ cho Quân chủng Hải quân bảo vệ. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngày 26 tháng 10 năm 1988, đồng chí Phó đô đốc Giáp Văn Cương, Tư lệnh Hải quân giao nhiệm vụ cho Lữ đoàn 171 làm nhiệm vụ bảo vệ thềm lục địa phía Đông Nam (DK1). Đây là vùng có ý nghĩa chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng - an ninh của đất nước.

Chấp hành chỉ thị của Tư lệnh Hải quân, ngày 6 tháng 11 năm 1988, một biên đội hai tàu HQ-713 và HQ-688 thuộc Lữ đoàn 171, do các đồng chí Phạm Văn Thư, Nguyễn Hồng Thưởng chỉ huy rời cảng ra khơi. Sau hơn mười ngày hành quân trên biển, hai tàu đã đến vị trí tiến hành đo đạc khảo sát, đánh dấu, xác định vị trí thả neo làm nhà trên vùng biển rộng 60.000 km2. Trên cơ sở đó, ngày 26 tháng 11, Sở chỉ huy Quân chủng lệnh cho hai tàu HQ-713 và HQ-668 (Hải đoàn l71), do trung tá Hoàng Kim Nông, Phó Lữ đoàn trưởng về chính trị chỉ huy và hai tàu HQ-727, HQ-723 (Lữ đoàn 129), do trung tá Trần Xuân Vọng, Hải đoàn trưởng chỉ huy trực sẵn sàng chiến đấu ở DK1. Ngày 28 tháng 11 năm 1988, bốn lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên bốn điểm ở khu vực DK1 khẳng định chủ quyền vùng biển của Tổ quốc. Tại đây, các tàu bố trí lực lượng canh gác, bảo vệ chủ quyền tài nguyên của đất nước.

Trong trận chiến đấu ngày 14/3/1988, ta bị tổn thất : 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 đ/c hy sinh, 11 đ/c bị thương, 70 đ/c bị mất tích (sau này TQ trao trả ta 9 đ/c, 61 người mất tích).

Mặc dù so sánh lực lượng chênh lệch, phương tiện, vũ khí hạn chế, cán bộ và chiến sĩ hải quân đã chiến đấu dũng cảm, bảo vệ chủ quyền hải đảo của Tổ quốc.

Trích "Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam 1955-2005"

Vụ này hậu quả xảy ra do ta không lường đến mức độ khốc liệt mà phía TQ sẵn sàng gây ra, do bị ru ngủ trong hoàn cảnh chiến sự biên giới phía Bắc đang bước vào hòa hoãn. Do vậy nhiệm vụ không có các tàu chiến yểm trợ kịp thời mà chỉ dùng các tàu vận tải như vẫn dùng ở vùng quần đảo. Thiệt hại quá đau đớn và bất ngờ.

Sau chiến dịch CQ-88 này bị thiệt hại và mất đảo, các chiến dịch CQ-89 và CQ-90 đã thực hiện tốt nhiệm vụ chiếm, bám trụ và xây dựng hàng loạt các trạm hải quân trên các đảo chìm trong vùng. Tình hình luôn căng thẳng giữa 2 bên từ đó đến nay, tuy nhiên với sự tăng cường lực lượng của ta, phía TQ đến thời điểm này chưa gây hấn thêm 1 vụ nào. Trong thời gian đó, ta đã nhiều lần nổ súng cảnh cáo và nổ súng cả vào các tàu của Philippin xâm nhập vùng chủ quyền.

Quân đội ta vẫn luôn giữ được bản lĩnh vươn lên qua thất bại, hy vọng sẽ tiến chiếm hầu hết các vùng tranh chấp chưa có quân đóng trong thời gian vài năm tới.

Anh hùng Trần Văn Phương

Bài thơ trên có nhắc đến thiếu úy Trần Văn Phương. Đó là Anh Hùng LLVT,chiến sĩ Hải Quân hy sinh trong trận bảo vệ bãi Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa trước cuộc tấn công xâm lược của quân Trung Quốc vào lúc 07 giờ sáng ngày 14/03/1988.

Sinh quán Quảng Trạch,Quảng Bình.Vào bộ đội năm 1983,ra bảo vệ đảo Sinh Tồn từ 02/1984.Sau khi đi học trường quân chính,được phong thiếu úy ,trung đội trưởng trung đội 1.đại đội 7,tiểu đoàn 862 ,lữ đoàn Trường Sa.

19 giờ ngày 11/03/1988 anh xuống tàu HQ 604 rời cảng ra đảo Gạc Ma.Trước khi xuống tàu,nắm chặt tay trung úy trung đội 1 Lê Văn Thoan,người cùng xã, nói:”Hoàn thành nhiệm vụ trong chiến dịch CQ 88 (chủ quyền 88) này ,mình sẽ cùng với cậu về phép thăm nhà.Nhà mình bị bão đổ năm ngoái,vẫn chưa làm xong…”

Thiếu úy Trần Văn Phương

Sáng ngày 14/03 từ tàu 604 đang thả neo tại bãi Gac Ma,Trần Đức Thông ,cán bộ chỉ huy phát hiện thấy bốn chiếc tàu lớn của Trung Quốc đang tiến lại gần.Ban chỉ huy quyết định một tổ ba người gồm thiếu úy Trần Văn Phương và hai chiến sỹ Nguyễn Văn Tư,Nguyễn Văn Lanh được phân công bảo vệ lá cờ của ta cắm trên bãi.

Phía đối phương lộ rõ âm mưu muốn lấn chiếm đảo:với 2 xuồng chở 8 lính có vũ khí lao thẳng về phía ta.Trần Đức Thông ra lệnh cho các chiến sỹ từ tàu 604 tiến vào bảo vệ bãi,để hình thành tuyến phòng thủ,không cho địch tiến lên.Mặc cho địch hăm doạ,chiến sỹ ta tuyên bố “Đây là lãnh thổ của Việt Nam,các tàu của Trung Quốc phải rời ngay!” Nhưng đối phương hung hăng dùng 4 ca nô chở khoảng 100 lính trang bị đày đủ vũ khí,máy VTĐ,đổ bộ lên bãi Gạc Ma…Cùng lúc đó,tàu chiến 502 của Trung Quốc có trang bị tên lửa và pháo 100 milimét và các tàu khác đã xả súng lớn bắn chìm và cháy các tàu chở hàng 604,605 và 505 của ta.Những thủy thủ thoát ra khỏi các tàu chìm ,bơi lênh đênh trên biển bị đối phương xả súng bắn và dùng câu liêm móc lên tàu.

TQ thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo tiến về phía cờ ta đang tung bay. dựa vào thế đông quân, TQ tiến vào giật cờ ta. Lập tức, thiếu úy Trần Văn Phương, hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội anh dũng giành lại cờ. Binh lính của TQ đã dùng lưỡi lê đâm và bắn Nguyễn Văn Lanh bị thương. Thiếu úy Trần Văn Phương xông vào cứu, bị TQ bắn đã anh dũng hy sinh. Trước lúc hy sinh, Trần Văn Phương đã hô : " Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân ". Sự hy sinh anh dũng của Trần Văn Phương đã nêu tấm gương sang cho các đơn vị noi theo, quyết tâm chiến đấu, bảo vệ hải đảo của Tổ quốc.[...]

Chiều ngày 14/03 trên bãi chỉ còn một chiếc xuồng và 40 chiến sỹ sống sót sau cuộc bắn phá dã man của quân Trung Quốc.Thượng úy Nguyễn Văn Chương và trung úy Nguyễn Sỹ Minh tổ chức đưa thương binh và chiến sĩ về tàu 505 –sau khi bị bắn cháy,nằm trên bãi Cô lin.Thi hài Phương ,Tư cùng các thương binh nặng được đặt trên xuồng.Số người còn sức,một tay bám thành xuồng,một tay làm mái chèo đưa xuồng lết trên mặt nước để tới bãi Cô lin.