Hiển thị các bài đăng có nhãn Quân sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quân sự. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 18 tháng 5, 2008

Ông thượng tá "mê" kể chuyện Bác Hồ

(VH)- Từ làm ban giám khảo cuộc thi nội bộ Vùng, rồi lại cùng hai thí sinh của mình đi thi kể chuyện tấm gương đạo đức HCM ở cấp toàn quân chủng, đó là thượng tá Nguyễn Quốc Văn- Phó chủ nhiệm chính trị Vùng A Hải Quân.

Từ Ban giám khảo trở thành thí sinh

Chuyến đi dài ngày thăm các đảo phía Đông Bắc tổ quốc của đoàn cán bộ, quân dân Vùng A Hải quân lúc nào cũng vui vẻ, rôm rả nhờ những chuyện hài hước. Người kể chuyện ngụ ngôn, người kể chuyện cười dân gian..., cả đoàn hôm nào cũng được “thưởng thức” những tiếng cười làm quên đi nỗi lo say sóng. Người thường khơi mào cho những cuộc kể chuyện là thượng tá Nguyễn Quốc Văn. Mãi về cuối chuyến đi, hỏi ra chúng tôi mới biết ông là một trong ba đại diện của Vùng A Hải quân đi thi “Báo cáo viên giỏi và kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” toàn quân chủng năm 2007.

Ngay sau khi nhận Chỉ thị của Thường vụ ĐUQS TW, từ cuối tháng 1 năm 2007 Vùng A Hải Quân đã triển khai thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chức Minh” trong toàn vùng. Tại các cuộc thi ở các đơn vị Vùng, thượng tá Nguyễn Quốc Văn không ít lần được mời làm Ban giám khảo. Anh Văn tâm sự: “Những câu chuyện về Bác Hồ mình đã biết ít nhiều. Nhưng qua những lần nghe các chiến sĩ, quân dân Hải Quân kể lại mình vẫn thấy xúc động. Sau những lần như thế, những câu chuyện về Bác cứ ngấm dần trong tôi”.

Khi toàn quân chủng tổ chức thi “Báo cáo viên giỏi và kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thượng tá Nguyễn Quốc Văn được cử đi thi cùng với thượng tá Nguyễn Chánh Hưng - Chủ nhiệm Lữ đoàn 170 và thượng uý Nguyễn Hữu Hạnh – Chính trị viên tàu HQ 209 - Hải đội 137.

Ngại lắm, nhưng đấy là nhiệm vụ cấp trên giao cho nên “vị giám khảo” Nguyễn Quốc Văn vẫn “lều chõng” lên đường đi thi. Nên nhớ, đây là 3 thí sinh được lựa chọn từ hội thi kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với 45 lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia trên toàn Vùng. Anh Văn lại là “thí sinh đặc biệt”, chỉ làm Ban giám khảo chứ chưa từng kinh qua ứng thi ở cấp cơ sở. Chẳng ngờ, những câu chuyện đầy chiêm nghiệm và cảm động của ông thượng tá mê kể chuyện Bác Hồ được Ban giám khảo ghi nhận với giải Ba toàn quân chủng.

Hai câu chuyện nhớ mãi về Bác Hồ

Đến bây giờ, thượng tá Nguyễn Quốc Văn vẫn nhớ như in hai câu chuyện mình kể về Bác Hồ. Anh Văn trầm giọng: “Một lần Bác về Phát Diệm – Ninh Bình, lãnh đạo địa phương tổ chức ăn cơm khá chu đáo. Bác dặn anh em cứ việc ăn cơm còn Bác nhờ một anh bộ đội đi mua bánh giò rồi tranh thủ thời gian, Bác ra nói chuyện với quân dân công giáo. Trên đường về Hà Nội, Bác tranh thủ ăn bánh giò trên xe...” Theo anh Văn cho biết, cuộc thi toàn quân chủng có tới 3 bàn thi, mỗi bàn 3 giám khảo.

Không chỉ là kể lại một câu chuyện về Bác Hồ mà quan trọng hơn là mỗi người phải biết diễn thuyết, liên hệ với thực tế cuộc sống ngày hôm nay. Chẳng hạn, trong câu chuyện kể trên, anh Văn rất tâm đắc ý tứ tế nhị nhưng sâu sắc của Bác Hồ, vừa có ý nhắc địa phương phải biết cần kiệm, không nên bày biện, lại vừa tỏ rõ Bác là người rất biết quý thời gian.

Câu chuyện thứ hai anh Văn kể lại nói về bệnh chuộng hình thức tưởng đã muôn năm cũ nhưng vẫn còn nóng hổi trong cuộc sống ngày nay. Chuyện này anh Văn đi thẳng vào vấn đề: “Vừa rồi tôi nghe các chiến sĩ trẻ nói chuyện với nhau, Bác Hồ là lãnh tụ thiên tài, người đời sau khó học được.

Tôi phản đề ngay, phẩm chất của Bác khó nhưng lại dễ vì gần gũi với cuộc sống, cao cả nhưng không xa lạ với từng con người... Chẳng hạn, một lần Bác về thăm HTX Hợp Thành - Nghệ An. Uỷ ban xã bố trí bàn ghế tươm tất ở một nhà gần Uỷ ban để đón Bác. Thế nhưng Bác lại vào thăm những nhà nghèo khổ. Bác nhắc các đồng chí lãnh đạo xã: “Làm cán bộ cách mạng nên chăm lo đời sống nhân dân, không nên chạy theo thành tích, hình thức”.

Nếu không có gì thay đổi, tháng 8.2008 thượng tá Nguyễn Quốc Văn sẽ tiếp tục được ngồi vào ghế Ban giám khảo cuộc thi “Bác Hồ với thanh niên, thanh niên với Bác Hồ” do Đoàn TNCS HCM Vùng A Hải quân tổ chức từ cấp Chi đoàn đến cấp Liên chi đoàn. Anh Văn bảo, lại thêm một lần ngấm dần tấm gương đạo đức của Bác. Nói rồi, ông thượng tá mê kể chuyện Bác Hồ lại đọc như in lời dặn của Bác trong một lần về thăm chiến sĩ, quân dân Hải Quân: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp. Ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Từ làm ban giám khảo cuộc thi nội bộ Vùng, rồi lại cùng hai thí sinh của mình đi thi kể chuyện tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở cấp toàn quân chủng, đó là thượng tá Nguyễn Quốc Văn – Phó chủ nhiệm chính trị Vùng A Hải Quân.

Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2008

Bộ đội nhảy dù

NHỮNG MỐC SON TRONG CUỘC ĐỜI “ANH BỘ ĐỘI NHẢY DÙ” - CỤC KHÔNG QUÂN NGÀY ẤY

BÙI DUY TRINH Đoàn cán bộ nhảy dù Cục Không quân – 1959

Cuối năm 1954 miền Bắc được giải phóng, Tổng Quân ủy đã ra nghị quyết xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam từng bước tiến lên chính quy, hiện đại có các binh, quân chủng.

Tháng 3- 1955 Tổng Quân ủy - Tổng tư lệnh đã ra quyết định thành lập Ban nghiên cứu sân bay (đồng chí Trần Quý Hai - Trưởng ban nghiên cứu sân bay đề nghị đổi là Ban nghiên cứu Không quân, nhưng Bộ Tổng tham mưu trả lời không được gọi Không quân, phải giữ bí mật).

Năm 1956 để hoạt động công khai, Chính phủ đã ra quyết định thành lập Cục Hàng không dân dụng, đồng chí Đặng Tính - Trưởng ban nghiên cứu sân bay thay đồng chí Trần Quý Hai được bổ nhiệm là Cục trưởng Cục Hàng không dân dụng. Năm 1959 đã chuyển Ban nghiên cứu sân bay thành Cục Không quân, về mặt nhân sự, tổ chức vẫn giữ nguyên như cũ, đồng chí Đặng Tính Cục trưởng Cục Hàng không dân dụng - Cục trưởng Không quân.

- Ngày 24-1- 1959 Bộ Quốc phòng nghị định số 319/ND thành lập Cục Không quân, do đồng chí Đặng Tính làm Cục trưởng, đồng chí Hoàng Thế Thiện làm Chính ủy. Sự thành lập Cục Không quân đã đánh dấu bước phát triển mới của Không quân Việt Nam.

- Ngày 1-5-1959, tại sân bay Gia Lâm, trung đoàn không quân vận tải đầu tiên của ta đã ra đời. [Trung đoàn không quân vận tải đầu tiên chính là trung đoàn 919 - Đoàn bay 919 hiện nay của HKVN]

- Ngày 31-5-1959 tại sân bay Cát Bi, lớp huấn luyện phi công trong nước đầu tiên đã khai giảng có 30 học viên.

Từ tháng 10-1954 lực lượng vào tiếp quản sân bay Gia Lâm do đồng chí Nguyễn Tiến làm trưởng đoàn cho đến năm 1959 Ban nghiên cứu sân bay chuyển thành Cục Không quân, lực lượng không quân của chúng ta hoàn toàn bí mật thân phận của mình, gia đình vợ con hỏi đến đều nói chuyển ngành ra ngoài quân đội bận bộ áo quần ka ki xanh công nhân.

Buổi đầu thành lập. Cuối năm 1958, đầu năm 1959, Cục Cán bộ - Tổng cục Chính trị đã đến trường Bổ túc văn hóa Quân đội Lạng Sơn lấy người đưa về Viện Quân y 108 Hà Nội khám tuyển được vài chục đồng chí để phát triển lực lượng cho không quân, trong đó có cả các đồng chí Trần Mạnh, Nguyễn Phúc Trạch (sau này chỉ huy trung đoàn không quân 923).

Đoàn cán bộ nhảy dù được thành lập, rút ra trong số đã tuyển chọn ở trên, và từ đội ngũ đã chiến đấu sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trên đường chính quy, hiện đại hóa, đã có thêm lực lượng mới - những "anh bộ đội ''nhảy Dù” Cục Không quân.

Ngày ấy, Tư lệnh và cơ quan Cục Hàng không còn đóng "đại bản doanh" ở khu vực sân bay Gia Lâm, đồng chí đại tá Đặng Tính là Cục trưởng và thượng tá Hoàng Thế Thiện là Chính ủy.

Ngay trong năm 1959 đoàn dù sang tập luyện tại căn cứ của sư đoàn đổ bộ đường không Trung Quốc. Đoàn gồm có 41 đồng chí lấy từ các đơn vị chiến đấu chống Pháp trên khắp các chiến trường cả nước, như các đồng chí đại úy Trần Thẩm, thượng úy Bùi Duy Trinh, chuẩn úy Vũ Minh Ngọc thuộc đại đoàn 312 (sư đoàn 312) đã tham dự chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, đại úy Đặng Nhơn là quân Nam tiến, chuẩn úy Đại từ chiến trường Trung Bộ, chuẩn úy Cao Minh Dương chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ.

Mùa hè năm 1960, đoàn dù tiến hành nhảy dù thực tập lần đầu trên vùng đất bãi Yên Lãng ven bờ Bắc sông Hồng thuộc Phúc Yên, Vĩnh Phúc. Trong suốt các năm từ 1961 đến 1967, cánh dù và cánh bay đã gắn bó với nhau cùng “bay, nhảy” trên nhiều sân bay và khắp các vùng miền của đất nước như anh em vẫn thường nói là "cuộc đời bay nhảy".

Huấn luyện nhảy dù.

Với sự giúp đỡ của các chuyên gia nhảy dù Liên Xô (5 đồng chí) đoàn dù tập trung sức lực nhằm nhanh chóng xây dựng lữ đoàn dù 305 lớn mạnh (lữ đoàn dù 305 được thành lập vào đầu năm 1961), tại khu vực Bắc Giang với các bãi nhảy lớn (Buồm - huyện Lạng Giang, Chũ - huyện Lục Ngạn).

Hàng vạn lượt nhảy dù đã được tiến hành an toàn trên các loại máy bay An-2, Li-2, IL-14 và cả trên khinh khí cầu lớn.

Năm 1962 đã thực hành nhảy dù diễn tập đội hình lớn với sự tham dự của toàn bộ đoàn dù thuộc lữ đoàndù 305 với hơn 200 bộ đội dù trên 9 máy bay Li-2 đánh chiếm đầu cầu bến vượt sông tại khu vực Bắc Ninh, Hải Dương, phối hợp bảo đảm cho các binh chủng vượt sông chiến đấu.

Ngoài huấn luyện nhảy dù cơ bản tại bãi nhảy đã chuẩn bị còn tổ chức nhảy nâng cao trình độ trên các địa hình phức tạp và thời tiết khác nhau: Nhảy dù xuống nước tại các hồ Đại Lải (Vĩnh Phúc), hồ Đầm Nậu (huyện Tam Nông, Phú Thọ), nhảy đêm xuống vùng đồi Lục Ngạn (Bắc Giang), nhảy phân đội trinh sát xuống khe, thung lũng hẹp vùng Nghĩa Lộ (Yên Bái), nhảy dù xuống rừng Hữu Lũng (Lạng Sơn).

Một sự kiện đặc biệt là mùa thu năm 1962, Bộ Quốc phòng, Cục Quân huấn đã tổ chức hai đội: Đội nhảy dù và đội mô tô để tham dự Đại hội thể thao các nước XHCN lần 2 (SKDAII - 1962) tại Tiệp Khắc.

Đội nhảy dù gồm 19 đồng chí được chọn từ lữ đoàn dù 305 (l5 đồng chí) tiểu đoàn trinh sát 174, Cục 2, Bộ Tổng tham mưu (3 đồng chí) và Câu lạc bộ thể thao Tổng cục Thể dục thể thao (l đồng chí) do đồng chí thượng úy Bùi Duy Trinh là đội trưởng. Thi đấu nhảy dù có 3 môn được tổ chức tại thành phố Brno, Tiệp Khắc từ ngày 8 - 10-9-1962. Môn thứ nhất là thi nhảy dù trúng đích từ độ cao 1500m, rơi tự do 20 giây; môn thứ 2 là nhảy dù trúng đích từ độ cao 1000m, rơi tự do 3 giây, và môn thứ 3 là nhảy dù tập thể với trang bị và chạy 20km. Mỗi môn thi với mỗi nước được cử 5 vận động viên. Đoàn Việt Nam đăng ký tham dự cả 3 môn.

Ngày thứ nhất thi đấu với môn thứ nhất có yêu cầu kỹ thuật tổng hợp nhảy dù cao hơn: Nhảy dù từ độ cao 1500m, rơi tự do 20 giây, tư thế rơi phải giữ đúng theo hướng bay, tự mở dù rồi điều khiển dù tiếp đất trúng đích là tâm chữ thập. Kết quả đội Việt Nam đoạt giải 3sau 2 đội Tiệp Khắc và Liên Xô. Hai môn thi đấu các ngày tiếp theo đội Việt Nam đều xếp hạng thứ 4. Môn thứ 3 là nhảy dù tập thể với 5 vận động viên được trang bị ba lô 10kg, vũ khí mang theo là trung liên và tiểu liên, lựu đạn, chạy qua nhiều địa hình, dọc đường phải thực hiện các nội dung bắn súng và ném lựu đạn trúng đích, mang vác thương binh về đích, cự ly chạy là 20km. Về bắn súng đội Việt Nam đạt điểm cao nhất.

Chiều ngày thứ hai, ban tổ chức kết hợp buổi lễ khai mạc ngày hội hàng không Tiệp Khắc đã trao giải thưởng nhảy dù. Trước sự chứng kiến của hàng vạn khán giả, quan khách và nhà báo Tiệp Khắc và quốc tế 5 vận động viên Việt Nam gồm các đồng chí Trình (độitrưởng), Dưỡng, Đó, Ngạc và Trường bước lên bục nhận Huy chương Đồng của môn thi đấu thứ nhất, cờ đỏ sao vàng của Việt Nam được kéo lên bay phần phật cùng cờ của hai nước bạn Tiệp Khắc và Liên Xô. Trong chiều nắng đẹp đó, tất cả các anh em đều xúc động, tự hào với cảm giác như mơ vì đã đạt được thành tích cao ngay lầnđầu Việt Nam "đọ cánh" với các đội bạn Đông âu và Liên Xô có trình độ kỹ thuật khá điêu luyện và có nhiều kinh nghiệm thi đấu nhảy dù quốc tế.

Đây cũng là phần thưởng xứng đáng cho ý chí gian khổ tập luyện của các vận động viên Việt Nam cùng với sự giúp đỡ tận tình của các bạn Tiệp Khắc. Tất cả cácvận động viên Việt Nam thi đấu với tinh thần hết sức tự tin, tự chủ, quyết tâm cao. Đây cũng là lần đầu tiên các vận động viên thể thao Việt Nam ra thi đấu quốc tế đạt được giải tập thể có huy chương.

Vào ngày Quốc khánh 2-9- 1962 bộ đội dù đã biểu diễn chào mừng và ra mắt nhân dân Thủ đô tại khu vực sân bay Gia Lâm.

Vào dịp Quốc tế lao động 1-5-1964 bộ đội đã nhảy dù chào mừng tại sân bay Cát Bi, Hải Phòng.

Hoạt động dù phục vụ chiến đấu. 1. Chiến trường Lào.

Cuối năm 1960 đầu năm 1961, khi đoàn dù đang tập luyện nâng cao tại Trung Quốc thì được lệnh về gấp. Đoàn được máy bay bạn đưa từ sân bay Vũ Hán bay về hạ cánh tại sân bay Gia Lâm, rồi ngay trong đêm đó, đoàn kỹ thuật dù bắt tay vào công việc cùng các đồng chí hậu cần, kỹ thuật Cục Không quân và tổ bay chuẩn bị cho hoạt động tiếp tế cho bộ đội Pa thét Lào.

Liên tiếp trong các năm 1961 - 1962 , đã tổ chức thả dù tiếp tế đáp ứng nhu cầu cần chi viện rất lớn cho bộ đội Pa thét Lào, quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, quân dù "Coong Le" sau đảo chính lật đổ phái phản động cực hữu thân Mỹ.

Trong hai năm 1962 - 1963 ta còn cử cán bộ dù (đồng chí Hồ Sĩ Tấn) sang huấn luyện quân dù Coong Le và thực hành nhảy dù biểu diễn trong ngày tết Lào chào mừng thắng lợi của Chính phủ hòa hợp dân tộc Lào.Trong suốt quá trình phục vụ chiến đấu chiến trường Lào đã thả hàng triệu tấn vũ khí, khí tài, lương thực an toàn đến tay các đơn vị chiến đấu.

2. Chiến trường miền Nam.

Trong cuộc nổi dậy tổng công kích tết Mậu Thân năm 1968 của quân giải phóng miền Nam vào các thành phố và đô thị lớn trên tòan miền Nam. Bộ đội dù đã hiệp đồng chặt chẽ với các tổ lái máy bay, với ý chí chiến đấu cao, trình độ kỹ thuật được nâng cao đã vượt qua mọi khó khăn, bay đêm trong thời tiết xấu, bị địch phát hiện khống chế, phải luồn lách núi, thay đổi độ cao, chuyển đổi hướng bay thả, đã tiếp tế kịp thời cho bộ đội chiến đấu khu vực Tây Thừa Thiên - Huế.

3. Chiến tranh biên giới phía Bắc 1978 – 1979

Quân chủng Không quân đã tổ chức một số chuyến bay thả vũ khí và lương thực cho một bộ phận chủ lực đang chiến đấu ở khu vực Trà Lĩnh, Đông Bắc thị xã Cao Bằng trong các tình thế luồng tiếp tế băng qua đường số 4 hiện gặp phải rất nhiều khó khăn.

4. Các hoạt động phối hợp chiến đấu khác.

Trong những năm chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, một số đơn vị dù thực hiện một phương thức mới để đánh máy bay địch là sử dụng khinh khí cầu gắn mìn định hướng. Với sự giúp đỡ của Bộ Tổng tham mưu, Viện nghiên cứu KH-KT quân sự, cơ quan Tổng cục Hậu cần, kỹ thuật, quả khinh khí cầu lớn thường chở bộ đội nhảy dù được vận dụng để chế tạo các bóng chứa khí hyđrô. Có hai loại bóng khí hyđrô: Loại 30m3 và loại 50m3 được gắn mìn định hướng, bóng được giữ bằng dây cước ny lông và thả ở độ cao trên dưới 1000m.

Khinh khí cầu được thả để tạo thành các bãi chướng ngại vật trên không giống như bãi chông mìn trên trời nhằm chống lại chiến thuật bay thấp luồn lách theo các cửa sông, dải núi rừng vào đánh lén các mục tiêu quân sự, chính trị, kinh tế như cầu giao thông quan trọng trên miền Bắc nước ta.

Hoạt động này hiệp đồng cùng với các quân binh chủng khác như ra đa, tên lửa phòng không trong việc phát hiện và chủ động đánh máy bay địch có hiệu quả hơn.

Kết quả của cách đánh máy bay bằng cách thả khinh khí cầu đã gây bất ngờ và hoảng sợ cho không quân địch. Theo một số thông tin thì có 3 máy bay phản lực Mỹ bị vướng nổ và rơi. Ngày 8-2-1967 một máy bay AD 6 bất ngờ bị lao vào bóng khinh khí cầu có gắn mìn định hướng tại bãi khinh khí cầu được thả tại huyện Yên Khánh, Ninh Bình. Chiếc máy bay này bị nổ tungvà rơi tại Cửa Đáy, Ninh Bình.

5. Một số hy sinh xương máu của bộ đội nhảy dù.

Trong đợt nhảy dù chào mừng ngày Quốc tế lao động 1-5-1964 tại sân bay Cát Bi, Hải Phòng một tai nạn đã xảy ra, toàn bộ kíp lái một máy bay An-2 thả dù cùng một đồng chí nhảy dù đã hy sinh. Cánh quạt của chiếc An-2 bay thả dù đội hình phía sau do đồng chí Tình là lái chính đã va quệt vào cánh bên phải của chiếc An-2 bay phía trước do đồng chí Cẩn là lái chính và bị gẫy văng đi. Tất cả bộ đội nhảy dù trên chiếc máy bay này đều được lệnh nhảy ra và mở dù an toàn hết. Trong máy bay còn lại 2 đồng chí chỉ huy thả dù, một đồng chí kịp thoát ra khi máy bay vừa chúi xuống, rơi tự do cách mặt đất khoảng hơn 100m, mở dù và tiếp đất an toàn (đồng chí Trinh). Đồng chí thứ 2 (đồng chí Thao) tuy có thoát ra ngoài máy bay được và dù có thấy mở nhưng đã hy sinh trong tư thế ngồi nghiêng gần sát chỗ chiếc máy bay An-2 cắm xuống đất.

Trong cuộc nổi dậy tổng công kích tết Mậu Thân 1968 trong khi tiến hành các đợt thả dù tiếp tế cho bộ đội ở chiến trường Thừa Thiên - Huế đã có 3 máy bay gồm cả kíp lái cùng anh em kỹ thuật thả dù đã mãi mãi không trở về trong nỗi nhớ thương mong đợi của đồng đội và người thân. Bảy đồng chí bộ đội dù đã hy sinh là: Đồng chí Toàn, thượng úy chính trị viên đội thả dù sân bay Gia Lâm và sáu đồng chí khác là Lưa, Huy, Ngạc, Thái, Thịnh và Thương.

Bộ đội dù phát triển và lớn mạnh.

Sau giai đoạn 1962 - 1963, Bộ Quốc phòng điều lữ đoàn dù 305, tiểu đoàn trinh sát 174 Cục 2 và một số cán bộ kỹ thuật dù (các đồng chí trung úy Phúc, chuẩn úy Huệ , Thửa , Dưỡng) . . . về Quân chủng Không quân theo yêu cầu phát triển thêm một số trung đoàn và sư đoàn bay chiến đấu.

Đến năm 1980 Quân chủng Không quân cũng đã đưa một số cán bộ sang học tập nâng cao trình độ và dự thi nhảy dù tại Hung-ga-ri. Trong các năm tiếp theo, Câu lạc bộ Hàng không của Quân chủng Không quân phối hợp với Cung thiếu nhi Hà Nội, Cung văn hóa hữu nghị Việt Xô, Cung văn hóa thể thao thanh thiếu niên Hà Nội tổ chức huấn luyện và thực hành nhảy dù cho hàng trăm học sinh, sinh viên và công nhân viên, những người yêu thích môn nhảy dù.

Ngày nay, đội ngũ bộ đội nhảy dù đã và đang được phát triển ngày càng vững mạnh kế thừa truyền thống oai hùng của bộ đội nhảy dù thời kỳ đoàn cán bộ nhảy dù Cục Không quân.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Quân chủng Không quân, chúng tôi những "anh bộ đội nhảy dù” từ thời Cục Không quân ngày ấy rất vui mừng và chúc các đồng chí "bay nhảy" hôm nay luôn phát huy truyền thống, rèn luyện bản lĩnh, kỹ thuật ngày càng tinhnhuệ, hiệp đồng chặt chẽ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Hà Nội, tháng 2 năm 2005

Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2008

Trung đoàn Bình Giã

TTCN - Sau Đồng khởi ở Nam bộ (1960), Trung ương có nghị quyết đẩy mạnh mũi đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Ở Nam bộ, cuối năm 1960 đầu 1961, các tỉnh đã có lực lượng vũ trang từ xã, huyện và tỉnh, có đại đội quân số có khi lên đến 200-300 người (Long An).

Lần lượt các khu có lực lượng cấp tiểu đoàn, miền (Nam bộ), có chủ lực miền ở cấp trung đoàn, với khung cán bộ tập kết trở về và chiến sĩ là thanh niên đồng khởi ở các tỉnh. Trung đoàn 1 lấy phiên hiệu là Q.761 (thành lập tháng 7-1961).

Theo ngày tháng ghi như trên thì chủ lực miền ra đời kịp thời với quân du kích và bộ đội địa phương, hình thành ba thứ quân ở Nam bộ. Lúc này các thứ quân còn đặt dưới sự chỉ huy của ban quân sự các cấp. Đến tháng 10-1963 mới có quyết định tổ chức bộ chỉ huy quân sự miền (Nam bộ) và bộ tư lệnh các quân khu.

Quân chủ lực miền có hai trung đoàn, ngoài trung đoàn 1 có trung đoàn 2 lấy phiên hiệu là Q.762, được tổ chức trong năm 1961 với cán bộ và chiến sĩ là bộ đội Nam bộ tập kết. Một vấn đề quan trọng lúc ấy là làm sao “loại phi pháo địch ra khỏi vòng chiến đấu” vì cái mạnh tuyệt đối của địch là hỏa lực.

Về hỏa lực Mỹ sử dụng ở VN, sử sách Mỹ có viết: “Trong chiến tranh Triều Tiên, mỗi người lính (Mỹ) dùng số lượng đạn dược bằng tám lần trong chiến tranh thế giới lần 2, còn trong chiến tranh VN, con số đó là 26 lần so với thời gian 1941-1945.

Diễn biến trận vận động tiến công Bình Giã - Xuân Sơn của eBB1/QKMĐ (từ ngày 28 đến 31-12-1964)
Việc sử dụng hỏa lực chưa từng có thay cho sức người là đặc điểm nổi bật của chiến thuật quân sự Mỹ trong chiến tranh VN”.

Chức năng chủ yếu của quân đội Mỹ là phát hiện mục tiêu cho hỏa lực phi pháo. Một tướng lục quân Mỹ kết luận: “Đừng đánh tay đôi với họ, phát hiện và tránh rồi trút lửa vào và kiểm soát sau đó”.

Quân Sài Gòn do Mỹ tổ chức, trang bị huấn luyện và cố vấn nên cách đánh của họ là cách đánh của Mỹ: sử dụng hỏa lực tối đa, tránh đánh xáp gần với quân giải phóng.

Anh em chiến sĩ đã tìm cách giải quyết là xáp vô đội hình bộ binh địch mà đánh, không cho chúng phân tuyến, hay nói cách khác là đánh gần và đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã tổng kết: “Nắm thắt lưng địch mà đánh”.

Tất nhiên ta cũng có nhiều cách để hạn chế phi pháo địch trong chiến đấu như: pháo kích trận địa pháo địch (gọi là kềm pháo); bắn máy bay bằng trọng liên 12,7 vì không có cao xạ; phòng ngự có công sự và chiến hào; trận địa giả...

Nhưng cách “bám thắt lưng địch mà đánh” là cách hay nhất để bảo vệ bộ binh của ta, buộc bộ binh của địch phải xáp chiến, không thể bỏ chạy hoặc phân tuyến được.

Phải công nhận rằng đây là cách đánh sáng tạo của chiến sĩ xuất phát từ tư tưởng tấn công tiêu diệt địch, bảo vệ mình để tiêu diệt địch.

Trận Bình Giã

Từ trái sang: Bùi Thanh Vân (trung đoàn phó trung đoàn 1), Tạ Minh Khâm (trung đoàn trưởng trung đoàn 2), Nguyễn Văn Tòng (chính ủy trung đoàn 1) và Nguyễn Thới Bưng (trung đoàn phó trung đoàn 2)

Sau chiến thắng An Nhơn Tây (Củ Chi), tháng 11-1964, trung đoàn rời Củ Chi hành quân về phía đông nam Sài Gòn, vùng Bà Rịa và Long Khánh, để cùng với trung đoàn 2 và các đơn vị bạn tham gia chiến dịch. Trung đoàn lên đường với trang bị vũ khí cũ đã có khi thành lập, nhưng với khả năng chiến đấu khá hơn trước, cụ thể là đã quen chiến đấu toàn trung đoàn và đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn, chiến đoàn địch ngoài trời.

Bộ chỉ huy chiến dịch căn cứ vào sở trường của trung đoàn đã giao nhiệm vụ cho trung đoàn đánh địch ngoài trời, đập tan chiến thuật trực thăng vận của địch.

Kế hoạch trận đánh của chiến dịch ở Bình Giã là đơn vị bạn tấn công chiếm lĩnh ấp chiến lược Bình Giã, đẩy lùi lực lượng bảo an đến giải tỏa, buộc địch phải đưa các tiểu đoàn cơ động đến. Trung đoàn 1 có nhiệm vụ bố trí tiêu diệt tiểu đoàn cơ động địch đến giải tỏa ấp chiến lược bằng trực thăng vận.

Xung quanh ấp Bình Giã có hai bãi địch có thể đổ bộ trực thăng. Trung đoàn có thể bố trí kiềm chế một bãi để buộc chúng đổ bộ xuống bãi đông nam ấp Bình Giã để ta bố trí toàn trung đoàn tấn công. Địch đã rơi đúng kế hoạch của ta. Khi đội hình trực thăng bị bắn thiệt hại nặng ở bãi một phải quay đầu bỏ chạy, sau một thời gian chấn chỉnh, địch chở một tiểu đoàn biệt động quân đổ bộ xuống bãi đông nam, nơi trung đoàn đã phục kích. Chờ địch yên tâm đổ hết quân xuống đất, toàn trung đoàn vận động bao vây, áp sát địch, nổ súng tấn công quyết liệt. Hỏa lực địch chỉ bắn vào đất trống xa tuyến bộ binh ta. Đối đầu với những chiến sĩ đồng khởi có quyết tâm cao, tiểu đoàn địch chỉ chống cự yếu ớt trong một tiếng thì bị diệt gần hết. Ngoạn mục là mũi tiến công tiêu diệt ban chỉ huy tiểu đoàn địch của tiểu đội đồng chí Lê Văn Đáp. Tiểu đội trưởng chia tiểu đội thành hai tổ thay nhau tổ kiềm chế, tổ tiến tới đến khi diệt tiểu đoàn trưởng địch, bắt sống hai cố vấn Mỹ, kết thúc trận đánh.

Đến năm 2005, trung đoàn Bình Giã (sư đoàn 9) được 45 tuổi, đã xuyên qua hai thế kỷ với thành tích kháng chiến chống Mỹ vẻ vang, thành tích chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và cứu nhân dân Campuchia thoát nạn diệt chủng. Trung đoàn đã được tuyên dương anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Lần đầu tiên trung đoàn diệt gọn tiểu đoàn biệt động quân địch, diệt chỉ huy, bắt sống cố vấn Mỹ. Đó là ngày 29-12-1964.

Sau đó trung đoàn còn phục kích tại trận địa cũ để đánh tiếp bọn tiếp viện. Đến ngày 30-12-1964 địch không đến, trung đoàn được lệnh thu quân.

Khoảng 17 giờ cùng ngày (30-12-1964) một trực thăng quần trên không trận địa nhiều vòng rồi sà sát xuống quan sát. Đại đội trưởng cao xạ đề nghị bắn. Trung đoàn trưởng ra lệnh bắn. Một loạt đạn 12,7 ly nổ giòn, trực thăng bốc cháy và rơi vào Sở cao su Quảng Giáo, phía đông nam ấp Bình Giã.

9g sáng 31-12-1964, ngày cuối năm, toàn trung đoàn đã hành quân về nơi trú quân, đang ngủ để lấy sức cho cuộc chiến đấu tiếp sau. Trung đoàn trưởng và các tiểu đoàn trưởng lên đường đi nghiên cứu chiến trường để đánh tiếp.

Toàn trung đoàn đang ngủ say thì 12 giờ trinh sát báo cáo biệt kích vào chỗ máy bay rơi đã bị anh em trinh sát đánh nên bỏ chạy.

14g, tác chiến báo cáo: tham mưu chiến dịch thông báo tiểu đoàn thủy quân lục chiến số 4 vào ấp chiến lược Bình Giã.

14g30 có tin địch hành quân vào chỗ máy bay rơi để tìm các cố vấn Mỹ. Tham mưu trưởng trung đoàn, anh Bùi Thanh Vân (Út Liêm), trao đổi với tôi nên triển khai trung đoàn đánh bọn này. Theo kế hoạch, tiểu đoàn 1 chặn đầu, tiểu đoàn 2 bọc hậu khóa đuôi và tiểu đoàn 3 đánh xuyên hông. Gọi tiểu đoàn nhưng tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 3 còn quân số khoảng 100, tiểu đoàn 2 có trên 300 cán bộ chiến sĩ. Tiểu đoàn 2 xuất kích mà như đi hội. Khoảng 16g45 thì súng nổ. Chiến sĩ ta và lính địch thấy nhau rất rõ. Mỗi bên đều dựa vào cây cao su để tấn công; bộ binh đánh với bộ binh, còn trực thăng và tiếp sau là pháo địch bắn vào ven rừng nhưng không có ai ở đó. Trận đánh diễn ra rất ác liệt vì thủy quân lục chiến là đơn vị thiện chiến của quân đội Sài Gòn. Nhưng vòng vây của chúng ta dần khép lại. Theo kế hoạch hiệp đồng và đã thực hiện “hiệp đồng theo tiếng súng”, một đơn vị nhỏ của quân ta đã thọc vào phía sau địch ngay bộ phận chỉ huy tiểu đoàn. Tiểu đoàn trưởng thủy quân lục chiến bị bắn gục, cố vấn Mỹ bị thương, bị bắt sống, trận đánh kết thúc vào lúc 18g15 ngày 31-12-1964. Theo tin cuối cùng, tiểu đoàn này chạy thoát trên 10 tên.

Hồi ký của Westmoreland Tường trình của một quân nhân có viết: “...Trong cuộc chiến đấu đó, các tiểu đoàn biệt động quân và thủy quân lục chiến gần như bị tiêu diệt sạch...”. Như vậy trong ba ngày chiến đấu xung quanh ấp chiến lược Bình Giã, trung đoàn 1 đã tiêu diệt sạch hai tiểu đoàn địch, bắt sống ba cố vấn Mỹ. Hai trận liên tiếp này đánh dấu sự trưởng thành của một trung đoàn chủ lực miền, xứng đáng là một quả đấm của lực lượng quân giải phóng miền Nam.

Trước đó, ngày 9-12-1964 trung đoàn 2 phát huy truyền thống “đánh là dứt điểm” đã đánh tiêu diệt hoàn toàn một chi đoàn xe M113 (14 chiếc) trên đường hành quân giải tỏa ấp chiến lược Bình Giã.

Vì chiến dịch diễn biến xung quanh ấp chiến lược Bình Giã nên chiến dịch mang tên là “Chiến dịch Bình Giã” và trung đoàn được danh dự mang tên trung đoàn Bình Giã.

Sau chiến dịch Bình Giã, trung đoàn lại lập công xuất sắc trong chiến dịch Đồng Xoài, Dầu Tiếng và trong nhiều chiến dịch đánh quân Mỹ xâm lược.

NGUYỄN VĂN TÒNG Nguyên chính ủy trung đoàn Bình Giã (1964-1965), nguyên giám đốc Sở VH-TT TP.HCM

Thứ Hai, 17 tháng 3, 2008

Khả năng hiện đại hóa quốc phòng của Việt Nam

Điểm nổi bật của đợt hiện đại hóa quốc phòng lần này là sự gia tăng rất đáng kể cả về số lượng lẫn chất lượng của các loại chiến xa, tàu chiến, tàu ngầm, chiến đấu cơ, máy bay vận tải và tàu đổ bộ loại lớn. Phần lớn các chiến cụ này đều nhập từ nước ngoài, nhưng về tàu chiến, tàu đổ bộ và các loại súng ống khác thì một số đã được sản xuất tại chỗ. Sau đây là một vài số liệu tóm lược về các loại trang thiết bị quân sự nhập từ năm 2000 đến 2006 (The World Defence Almanach 2006 và Jane's Fighting Ships 2006-2007). Điều đáng để ý là từ năm 2000 Việt Nam bắt đầu dồn sức trang bị cho hải quân và không quân để có thể đối đầu với các loại vũ khí hiện đại của các nước lớn. Việt Nam đã mua rất nhiều chiến thuyền mới của Nga như 10 tàu phóng ngư lôi, 2 tuần dương hãm 1.900 tấn, v.v. Ngoài ra Việt Nam còn mua thếm các loại máy bay chiến đấu của Nga như 22 chiến đấu cơ Su-22M, 12 chiến đấu cơ Su-27, 8 oanh tạc cơ Su-30 MK, 10 máy bay tuần tiểu NV-28. Như vậy tầm hoạt động của hải quân và không quân Việt Nam có thể triển khai từ Đài Loan đến Vịnh Thái Lan, có khả năng trinh sát thường xuyên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Thêm vào đó lực lượng phòng không cũng được trang bị thêm các dàn hỏa tiễn địa đối không S-300 PMU1 có khả năng nghênh kích phi cơ địch từ xa 100 km. Từ trước đa số các vũ khí trang bị cho quân đội Việt Nam đều mua từ Nga hoặc Trung Quốc, nhưng gần đây nguồn cung cấp này đã được đa dạng hóa. Năm 2006, bộ binh Việt Nam được trang bị thêm 150 chiến xa T-72 của Serbia-Montenegro, không quân được trang bị thêm 22 oanh tạc cơ Su-22M4 của Ba Lan. Nếu chịu khó quan sát, lần này Việt Nam không đặt mua vũ khí của Trung Quốc mặc dù Trung Quốc tìm đủ cách để bán rẻ, hay trả bằng nguyên nhiên liệu. Một dữ kiện khác nữa là chính quyền cộng sản Việt Nam chấp nhận ký kết với các quốc gia không thuộc phe cộng sản cũ là khối Commonwealth (Anh, Úc, Tân Tây Lan, Canada) và Nhật qua trung gian của Singapore để sử dụng Cam Ranh để hiện đại hóa quân đội, hay chấp nhận tham gia các cuộc diễn tập quân sự chung trên biển cả.
oanh tạc cơ Su-30 MK
Một yếu tố tích cực khác nữa là từ năm 2004 Việt Nam chấp nhận công bố sách trắng về quốc phòng, qua đó người ta nhận xét trong nhiều năm liên tiếp Việt Nam đã chi mỗi năm 1,15 tỉ USD cho quốc phòng, khoảng 2,5% GDP. Theo The World Fact Book 2002-2005, chi phí quốc phòng thực sự của Việt Nam trong khoảng thời gian đó là 12,95 tỉ USD, riêng năm1998 chỉ 6,5 triệu USD. Sở nghiên cứu chiến lược của Anh (IISS) trong Military Balance cho biết chi phí quốc phòng thực sự của Việt Nam trong năm 2004 là 3,17 tỉ USD, khoảng 6,9% GDP, túc gấp ba lần con số của sách trắng quốc phòng của Việt Nam. Trong cuộc chạy đua vũ trang giữa các quốc gia trong vùng Đông Á và Đông Nam Á này, những quốc gia còn nghèo khó như Việt Nam đã rất mệt nhọc. Nhưng dù sao chấp nhận gia tăng kinh phí quốc phòng với những điều kiện khó khăn để hiện đại hóa quân đội vẫn là một tín hiệu tốt. Càng tốt hơn là chính quyền Việt Nam đang cố gắng tìm các nguốn cung cấp vũ khí khác với khối cộng sản cũ. Sự độc lập nào cũng có một giá phải trả. Nguyễn Minh (Tokyo)

Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2008

Quân sự Việt Nam sau Chiến tranh Lạnh

Tại hội thảo Vietnam Update ở Singapore tháng 11-2004 vừa qua Giáo sư Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Úc đã trình bày bài viết của mình có tựa đề "Vietnam’s Foreign Relations: The Strategic Defence Dimension" (Quan hệ Đối Ngoại của Việt Nam, Thước đo có tính Quốc phòng Chiến lược).

Trong bài viết, ông Carl Thayer phân tích các hình thức hợp tác quốc phòng của Việt Nam với các nước trong các thập niên gần đây.

BBC đã phỏng vấn Giáo sư Carl Thayer về các điểm ông đề cập trong bài viết này.

Giáo sư Carl Thayer: Việc Liên Xô sụp đổ bất ngờ khiến Việt Nam ở vào thế bị động. Các khoản viện trợ quân sự ngưng toàn bộ và ngay lập tức Việt Nam phải dùng ngoại tệ mạnh để mua thiết bị quốc phòng của Liên Xô. Vào thời điểm đó Việt Nam cũng đối diện các mối đe dọa từ Trung Quốc tại khu vực biển Đông. Với giai đoạn đầu của chính sách Đổi mới về kinh tế, Việt Nam bắt đầu đi tìm các đối tác mới trên thế giới. Thế nhưng rồi Việt Nam lại thấy cần phải quay lại với đối tác cũ. Đối tác chính vẫn là Nga và đối tác lớn kế tiếp là Ukraina, hay Belarus và các nước Đông Âu. Kinh tế của Việt Nam trong những năm vừa qua tiếp tục phát triển và Việt Nam hiện nay chi tương đối nhiều cho quân sự. Thế nhưng về cơ bản thì quân đội nhân dân Việt Nam thiếu các phương tiện và thiết bị quân sự qui mô. Vũ khí cũng đã và đang cũ dần và thiếu phụ tùng thay thế. Và hiện nay Việt Nam đang hiện đại hóa kho vũ khí của mình.

BBC: Giới quan sát nói rằng 60%-70% kho vũ khí của Việt Nam đã bị lỗi thời. Vậy sự lựa chọn của Việt Nam là gì?

Giáo sư Carl Thayer: Vào thời điểm Liên Xô sụp đổ, Việt Nam đã thực hiện việc điều chỉnh về qui mô và có tính chiến lược về quốc phòng. Họ phải bớt chi cho quốc phòng. Vào năm 1987 có tới 1.2 triệu lính trong các đơn vị chính qui và cho tới nay chỉ có chưa tới 500 ngàn lính. Rồi họ cũng phải làm tất cả mọi thứ trong giai đoạn khó khăn như việc đại tu thiết bị và bảo dưỡng hết sức cẩn thận để phục vụ cho các trung đoàn hay đơn vị ở vị trí sẵn sàng chiến đấu. Khi chúng ta nói đến vũ khí lỗi thời, chẳng hạn như xe tăng, thì xe tăng mà Việt Nam còn có từ trước có thể là cũ nhưng thiết bị ngắm bắn và bộ điều khiển bắn vẫn còn hoạt động khá tốt. Trong chiến tranh vùng vịnh lần thứ nhất, các chuyên gia quân sự của Việt Nam đã quan sát tỷ mỉ những diễn biến trên chiến trường và thấy rằng không có sự lựa chọn nào tốt hơn là phải hiện đại hóa quân sự. Họ từng bước mua thiết bị quốc phòng. Chi tiêu cho quốc phòng của Việt Nam còn thua xa các nước tại khu vực Đông Nam Á.

BBC: Ông có thể nói rõ thêm về việc hiện đại hóa quốc phòng của Việt Nam?

Tàu chiến và máy bay chiến đấu là hạ tầng qui mô của quân sự hiện đại
Tàu chiến và máy bay chiến đấu là hạ tầng qui mô của quân sự hiện đại

Giáo sư Carl Thayer: Ngoài việc mua sắm tàu chiến, máy bay, ..thì việc hiện đại hóa có thể hiểu rằng họ tham gia cùng sản xuất, tức là có việc chuyển giao công nghệ. Có hai yếu tố cần lưu ý. Thứ nhất là tàu chiến và chiến đấu cơ là hạ tầng quốc phòng. Thứ hai các thiết bị đưa lên máy bay chiến đấu hay tàu chiến để tăng khả năng công phá của chúng. Chẳng hạn như không lực của Việt Nam với phản lực MiG21. MiG21 là chiến đấu cơ thế hệ cũ, thế nhưng có thể nâng cấp thiết bị điện từ thông qua hợp tác với Israel, Ấn độ, Nga hay Ukraina. Tức là có thể gửi các thiết bị đó sang những nước này để nâng cấp rồi lại mang về Việt Nam.

BBC: Ông nói về các đối tác quân sự truyền thống của Việt Nam như Nga hay Ukraina. Theo ông những thay đổi về chính trị tại những nơi như Ukraina có tạo những ảnh hưởng trong quan hệ về hợp tác quân sự với Việt Nam hay không?

Giáo sư Carl Thayer: Tất nhiên là có. Nếu ta nhìn một bức tranh lớn hơn tại Đông Âu thì việc chủ nghĩa xã hội sụp đổ tại đây. Chúng ta thấy có những thay đổi về dân chủ và quốc hội các nước này đã thông qua luật hạn chế bán một số thiết bị cho những nước vi phạm nhân quyền. Cộng hòa Czech là một trong những nước như vậy. Và Hungary không có liên hệ quân sự với Việt Nam. Về góc độ hợp tác giữa Ukraina và Việt Nam, hầu hết các thiết bị Việt Nam mua của Ukraina được xem là chủ yếu dùng cho mục đích quốc phòng chứ không phải làm thay đổi cán cân quyền lực. Tức là không được dùng để đàn áp các nhóm trong nước như các nhóm cỗ vũ cho dân chủ hay các nhóm đấu tranh cho tự do tôn giáo. Do đó nếu có những sức ép tại Ukraina nhằm hạn chế hợp tác quân sự với Việt Nam vì các lý do về nhân quyền thì người ta có thể biện luận rằng không có thiết bị hay vũ khí nào mà Việt Nam mua của Ukraina tạo ra những ảnh hưởng về thực trạng nhân quyền tại Việt Nam trong khi Việt Nam tự bảo vệ mình. Thế nhưng những đối tác giàu tiềm năng như tôi vừa đề cập là Cộng hòa Czech và Hungary đã cấm bán thiết bị quân sự và vũ khí cho Việt Nam.

BBC: Ông đề cập rằng việc chấm dứt xung đột Campuchia đã mở ra giai đoạn hợp tác quân sự mới cho Việt Nam. Điều này có nghĩa là xung đột tại Campuchia đã đẩy Việt Nam vào thế bất lợi về góc độ nâng cấp thiết bị quốc phòng và hợp tác với các nước trong khu vực?

Trung Quốc đầu tư nhiều cho quân sự trong những năm qua
Trung Quốc đầu tư nhiều cho quân sự trong những năm qua

Giáo sư Carl Thayer: Xung đột Campuchia đã đẩy Việt Nam vào thế bất lợi. Việt Nam bị cô lập và nhiều nước không muốn quan hệ với Việt Nam. Thế nhưng cho tới khi Việt Nam đồng ý rút quân khỏi Campuchia và tỏ ý đi đến một thỏa thuận chính trị tại Campuchia thì Thái Lan là nước đã khởi đầu trong khối ASEAN. Thủ tướng Thái lúc đó tuyên bố rằng muốn thấy chiến trường trở thành thương trường. Tức là lúc đó Việt Nam đã có quan hệ đối ngoại trở lại với Thái Lan trước khi Việt Nam trước khi Việt Nam chính thức rút quân khỏi Campuchia. Nó cũng đánh dấu việc các nước láng giềng khác bắt đầu quan hệ lại với Việt Nam.

BBC: Nếu chúng ta nhìn vào số các đoàn quân sự các cấp của Việt Nam ra nước ngoài cũng như các phái đoàn quân sự nước ngoài viếng thăm Việt Nam thì số các đoàn của các nước trong vùng là khá cao. Điều đó chứng tỏ quan hệ với các nước láng giềng là khá quan trọng?

Giáo sư Carl Thayer: Có nhiều dạng trao đổi quân sự giữa Việt Nam và các nước trong vùng. Giữa Thái Lan và Việt Nam thì việc bàn luận chủ yếu là những biến cố tại vùng lãnh hải giữa Thái Lan và Việt Nam. Nơi đây có các ngư dân của nước này đánh bắt cá trong vùng nước của nước kia và rồi có cả tàu hải quân tham gia bắt ngư dân và gây ra các tranh chấp. Chúng ta thấy hai phía tổ chức tuần tiễu chung tại khu vực là khoảng 9 lần. Thế nhưng trong khi hai bên tỏ ý muốn giải quyết vẫn đề này thì những nghi ngại vẫn tồn tại. Quan hệ quân sự giữa hai nước cũng có những điểm khá lạ, chẳng hạn như trước đây tôi được biết rằng phía Thái Lan nói có thể cung cấp cho Việt Nam các thiết bị thay thế mà họ mua được của Trung Quốc. Và để đổi lại thì Thái Lan muốn Việt Nam trao cho Thái Lan các thiết bị mà Việt Nam giữ được của Hoa Kỳ hồi năm 1975. Theo tôi thì đề nghị này không được thực hiện. Quan hệ quân sự của Việt Nam với Lào là quan hệ gần gũi nhất. Lào là nước duy nhất Việt Nam hỗ trợ và đào tạo quân sự. Quan hệ quân sự với Campuchia rất ít. Sự hiện diện của Việt Nam tại Campuchia tạo ra bất bình do đó Việt Nam cũng không muốn đao to búa lớn tại đây. Nước láng giềng nữa là Trung Quốc. Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ. Họ chủ yếu cử các phái đoàn chính trị sang thăm lẫn nhau để nói về hệ tư tưởng. Nói về việc đảng làm sao kiểm soát được quân đội. Và vai trò của quân đội trong việc xây dựng kinh tế. Thế nhưng về quan hệ quốc phòng giữa hai nước theo nghĩa hẹp thì Việt Nam và Trung Quốc không trao đổi và hợp tác gì.

BBC: Ngoài việc Việt Nam hiện đại hóa quân sự thì chúng ta thấy việc trao đổi các chuyến viếng thăm của phái đoàn quân sự của Việt Nam với các nước và ngược lại. Hoạt động đó được xem là ngoại giao quốc phòng đúng không?

Giáo sư Carl Thayer: Trong quá khứ Việt Nam là thành viên của khối Sô Viết và thấm nhuần tư tưởng là Chủ nghĩa Xã hội bị Chủ nghĩa Đế quốc tấn công và lựa chọn đi theo chiến lược quân sự của Liên Xô cũ, theo hiệp ước Warsaw và Việt Nam quan hệ với Ấn độ và Cuba. Vào đầu thập niên 1990, tức là sau khi Việt Nam rút khỏi Campuchia, Việt Nam được xem là một nước “bình thường”. Hòa nhập với các nước trong vùng. Và các liên hệ giữa bộ quốc phòng các nước đôi khi cũng qua bộ ngoại giao. Tức là từ lúc Việt Nam có quan hệ quân sự với dưới 20 nước thì nay đã có liên hệ quốc phòng với hơn 60 nước. Việt Nam cử 24 tùy viên quân sự sang các nước và có 34 nước cử tùy viên quân sự sang Việt Nam. Chúng ta thấy Việt Nam có khẩu hiệu quen thuộc đó là kết hợp giữa phát triển kinh tế với quốc phòng. Kết hợp giữa quốc phòng với ngoại giao. Và kết hợp quốc phòng với an ninh. Do đó với khuôn khổ này thì Bộ Quốc Phòng đang đóng vai trò rất năng động. Ngoài liên hệ với các đối tác truyền thống thì nay chúng ta thấy có cả các đối tác rất mới như Brazil, Nam Phi, Bỉ, …

Trường Sa vẫn chưa có được giải pháp toàn diện
Trường Sa vẫn chưa có được giải pháp toàn diện

BBC: Trong nghiên cứu của mình ông cũng nói rằng Việt Nam áp dụng chiến lược cân bằng các quan hệ hoặc đôi khi đi theo nước lớn hoặc đi theo đa số nhằm đảm bảo vị thế của mình. Thế nhưng điều đó được thể hiện thế nào trong tranh chấp tại quần đảo Trường Sa?

Giáo sư Carl Thayer: Chúng ta đang nói tới sức mạnh của Trung Quốc với hình bóng quân sự bao trùm lên khu vực Biển Đông. Có một số học giả cũng bàn luận về sự lựa chọn của Việt Nam xích gần lại với Trung Quốc để khỏi bị ảnh hưởng xấu. Đối sách cân bằng theo các nhà hoạch định chiến lược của Hoa Kỳ là việc thúc giục Việt Nam dựa vào Hoa Kỳ bởi họ đều chia sẻ lợi ích chung là khống chế Trung Quốc. Thế nhưng các phân tích gia quân sự của Việt Nam nói rằng lịch sử của Việt Nam với cường quốc phương bắc cũng không cho thấy chính sách theo nước lớn là có lợi.Trong khi đó lịch sử của Việt Nam dựa vào thế mạnh quân sự của Liên Xô cũ quá mức cũng cho thấy những điểm bất lợi. Do đó trong bài viết của mình tôi đề cập việc Việt Nam sử dụng nhiều cách tiếp cận nhằm có các giải pháp thay thế hoặc dự phòng. Tức là một mặt thì vẫn xây dựng quan hệ hữu hảo và hợp tác với Trung Quốc. Mặc khác thì Việt Nam cũng triển khai tàu chiến và không lực tại khu vực như mối răn đe đối với Trung Quốc. Nếu đọc kỹ Sách Trắng ra năm 2004 thì chúng ta thấy Việt Nam có những quan ngại lớn tại khu vực họ gọi là Biển Đông tuy những quan ngại này không lớn như nói hồi năm 1988 khi Việt Nam dùng thuật ngữ điểm nóng. Tôi nói chuyện với nhiều tuỳ viên quân sự của Việt Nam tại các nước. Trong các cuộc nói chuyện riêng tư, họ luôn băn khoăn không biết Trung Quốc sẽ làm gì tại biển Đông. Và hiếm khi thấy một tuỳ viên quân sự Việt Nam nào lại bình luận về những điểm tích cực đối với Trung Quốc trong khu vực Biển Đông.

BBC: Điều đó có nghĩa là tranh chấp tại Biển Đông sẽ vẫn còn là vấn đề trong tương lai chứ không có giải pháp nào hay thỏa thuận nào?

Giáo sư Carl Thayer: Việt Nam không đứng lẻ loi. Một khi Việt Nam là thành viên của ASEAN thì tranh chấp tại đây là vấn đề của cả ASEAN. ASEAN và Trung Quốc đã mất nhiều năm đàm phán cố gắng có được bộ luật ứng xử. Rốt cùng thì họ có được một đích ngắn hơn mục đích đề ra. Tức là chỉ có được tuyên bố của các bên theo đó các bên nói duy trì hiện trạng và không dùng vũ lực chống lại lẫn nhau. Sách Trắng của Việt Nam cũng như các nước ASEAN luôn nói rằng tuyên bố này chỉ là bước khởi đầu của bộ luật ứng xử thôi, thế nhưng Trung Quốc phản đối vì họ cho là bộ luật ứng xử sẽ có bản chất ràng buộc về pháp lý kìm hãm hành động của Trung Quốc. Một mặt thì Việt Nam đưa du khách ra theo các tour du lịch, mặc khác thì Trung Quốc và Philippine tuyên bố cùng thăm dò dầu khí, theo luật quốc tế thì các hoạt động cho mục đích kinh tế trên khu vực đó sẽ là cơ sở để nói đó là lãnh thổ và chủ quyền. Do đó có những căng thẳng và tức tối nào đó. Thế nhưng bộ máy quân sự đang lớn dần của Trung Quốc có nghĩa rằng cuối cùng thì biển Đông sẽ trở thành cái hồ của Trung Quốc do vị thế và sức mạnh quân sự nổi trội của Trung Quốc. Việt Nam có thể có khả năng răn đe về quân sự nhưng không có khả năng chiếm giữ. Nước duy nhất có thể đối trọng được với Trung Quốc là Hoa Kỳ.