Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2008

XUẤT KHẨU DÂN CHỦ THEO KIỂU MỸ

Thuyết của kẻ mạnh
Cuộc chiến tại I-rắc là tâm điểm cho các
ứng cử viên Tổng thống công kích lẫn nhau

Vừa qua, Hạ viện Mỹ đã xem xét và thông qua điều luật về thúc đẩy dân chủ với khoản tài chính 110 triệu USD cho hai năm 2008 - 2009, nhằm trợ giúp cho các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức và phong trào xã hội tại những quốc gia mà Mỹ cho rằng, quyền con người và nền dân chủ tại đó không được tôn trọng. Một số nghị sỹ quốc hội còn chỉ rõ những việc cụ thể cần phải thực hiện, trước khi họ bỏ phiếu thông qua điều luật nói trên, theo đó các đại sứ, trưởng các Cơ quan Đại diện của Mỹ ở nước ngoài cần phải tích cực hơn trong việc tiếp xúc với những nhân vật “đấu tranh vì dân chủ”, với các tổ chức phi chính phủ, tổ chức xã hội, tầng lớp sinh viên, lĩnh vực thông tin đại chúng, để tuyên truyền về chính sách đối ngoại của Mỹ, đặc biệt là thảo luận những vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền. Các nghị sỹ nói trên còn yêu cầu cơ quan hành pháp không chỉ có những khuyến khích về tài chính, mà cần thiết phải chú ý đề bạt, cất nhắc đối với những nhân viên, công chức ngoại giao tích cực hoạt động tuyên truyền về dân chủ và quyền con người.

Thực hiện yêu cầu trên của Quốc hội, Bộ Ngoại giao Mỹ đã thành lập Ủy Ban tư vấn về thúc đẩy nền Dân chủ với sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ, tổ chức nhân quyền, quỹ bảo vệ nền dân chủ và đại diện của một số trường đại học có uy tín của nước Mỹ nhằm tư vấn cho Bộ Ngoại giao và Cơ quan Viện trợ Phát triển Quốc tế của Mỹ (USAID) về thúc đẩy dân chủ trên thế giới. Ngoại trưởng Mỹ được giao nhiệm vụ triển khai, bố trí nhân sự chuyên phụ trách vấn đề dân chủ tại các cơ quan đại diện ngoại giao ở nước ngoài, ví dụ như Liên Hợp quốc (UN), Tổ chức quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO), Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), các tổ chức khu vực, tổ chức đa phương, các đại sứ quán... Hàng năm, người đứng đầu Bộ Ngoại giao phải có trách nhiệm đệ trình báo cáo trước Quốc hội về tình hình dân chủ, nhân quyền của tất cả các quốc gia thuộc danh sách “quan tâm”, phương hướng, kế hoạch thực hiện, trong trường hợp cần thiết, cả những thông tin bí mật liên quan. Đây thực chất là chính sách nhằm thực hiện xuất khẩu cái gọi là nền dân chủ của Mỹ sang các quốc gia khác.

Xuất khẩu nền dân chủ kiểu Mỹ được tiến hành một cách mạnh mẽ, tích cực sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, nhằm mục đích chuyển hóa các nước Đông Âu và họ đã thành công. Trong rất nhiều trường hợp, xuất khẩu dân chủ thông qua diễn biến hòa bình không đem lại những kết quả như mong muốn, chính quyền Mỹ đã không ngần ngại sử dụng biện pháp quân sự nhằm lật đổ chính phủ được bầu lên một cách hợp hiến. Ví dụ điển hình là chiến tranh tại Nam Tư cũ dưới cái gọi là “can thiệp nhân đạo”, chiến tranh ở Áp-ga-ni-tan năm 2001 với lý do chống khủng bố và cuộc chiến tranh I-rắc năm 2003 dưới cái vỏ bọc ngăn chặn I-rắc sản xuất vũ khí hạt nhân. Bằng sức mạnh của súng đạn, Mỹ và NATO đã thay đổi chính quyền tại các quốc gia này, tạo dựng một nền dân chủ theo khuôn mẫu Mỹ.

Tuy vậy, một nền dân chủ được sinh ra không dựa trên những điều kiện và nền tảng của chính xã hội ấy sẽ không có khả năng tồn tại vững chắc, và như vậy hậu quả tất yếu sẽ là sự bất ổn về chính trị. Thực tế sự sa lầy cùng với cơn ác mộng của cuộc chiến tranh tại I-rắc, Áp-ga-ni-xtan cho thấy cái hậu quả đó. Chính quyền Mỹ đã không lường hết được tính phức tạp của tình hình ở các quốc gia nói trên, trước hết bởi sự khác biệt về truyền thống văn hóa, quan hệ sắc tộc, tôn giáo, đặc điểm chính trị và cơ cấu quyền lực tại đây, do vậy họ đã không thể kết thúc và ra khỏi cuộc chiến tranh một cách nhanh chóng như dự kiến.

Rõ ràng, dùng sức mạnh quân sự để áp đặt một “nền dân chủ” thì dễ, nhưng duy trì cái “nền dân chủ” ấy một cách bền vững không đơn giản một chút nào và họ đã thất bại. Chiến tranh tại Nam Tư cũ năm 1999 và ngay tiếp sau đó là cuộc cách mạng sắc mầu do Mỹ, NATO đã tiến hành và hỗ trợ đã tạo dựng lên một nền dân chủ với các lực lượng thân phương Tây nắm chính quyền tại đây, nhưng chỉ sau có một nhiệm kỳ, chính lực lượng này đã bị thất bại trong cuộc bầu cử quốc hội tháng 3/2007 do không giành được lòng tin của đa số cử tri. Còn tại Ucrai-na lực lượng cách mạng cam đã bị tan vỡ do mâu thuẫn về lợi ích không thể dung hòa, uy tín giảm sút, số phận của họ đang bị lung lay, nhưng đến nay dường như bị bỏ rơi, đến nỗi ngay cả tờ nhật báo Bưu điện Oa-sinh-tơn số ra ngày 27/5/2007 cũng phải xót xa lên tiếng là “không thấy bóng dáng của cả NATO và Mỹ” tại quốc gia này.

Phải chăng những nền dân chủ được tạo dựng lên một cách dân chủ?

Cuộc bầu cử tại Iraq diễn ra trong sự chiếm đóng của khoảng 130 ngàn quân Mỹ và liên minh, còn tại Áp-ga-ni-xtan với sự có mặt của hơn 37 ngàn quân NATO. Phiếu bầu cho cuộc bầu cử được in tại nước ngoài, quan sát viên từ Mỹ và châu Âu tham gia giám sát bầu cử tại I-rắc từ các khách sạn năm sao sang trọng của nước láng giềng Gioóc-đa-ni cách xa cả ngàn cây số. Làm sao họ có thể giám sát cuộc bầu cử từ một khoảng cách xa đến như vậy để sau đó tuyên bố rằng đây là cuộc bầu cử trung thực, dân chủ, khách quan? Cuộc bầu cử tại Nam Tư cũ, Ucraina được Phương Tây can thiệp không chỉ bằng nhiều triệu đô la Mỹ mà bằng cả sức mạnh của hệ thống truyền thông như các hãng CNN, BBC, EURONEWS... cùng với sự phối hợp chặt chẽ của các giám sát viên đến từ Tây Âu, Bắc Mỹ trong chiến dịch ngụy tạo ra một tỷ lệ phiếu bầu cao, một “thắng lợi sớm” qua cái gọi là thăm dò sau bỏ phiếu có lợi cho ứng cử viên mà Phương Tây nâng đỡ, ấy vậy mà các tổ chức nhân quyền, dân chủ, các tổ chức phi chính phủ, đại diện của Tổ chức Hợp tác và An ninh châu Âu OSCE... đều ca ngợi đó là các cuộc bầu cử dân chủ, là khách quan là trung thực và minh bạch. Trong khi đó các cuộc bầu cử tổng thống, quốc hội ở A-déc-bai-dan, Nga, Bê-la-rút, Ka-dắc-xtan, Vê-nê-du-ê-la, Cu Ba, và cả Việt Nam .... với tỷ lệ ủng hộ rất cao của cử tri đối với chính quyền trong bối cảnh hoàn toàn không có sự chiếm đóng của quân đội nước ngoài, không có sự đạo diễn bởi các nhà dân chủ phương Tây, thì theo họ đó là những cuộc bầu cử thiếu dân chủ, thiếu minh bạch, là gian lận và vi phạm quyền tự do con người.

Không biết nền dân chủ theo kiểu Mỹ có nên học tập hay không? Một nền dân chủ mà ở đó người giàu mới có cơ hội tham gia chính quyền. Chỉ cần quan sát các cuộc vận động bầu cử cho các vị trí của hai Viện Quốc hội, cuộc chạy đua vào nhà trắng trong các đợt bầu cử tổng thống, thì có thể nhận thấy khả năng thắng lợi là rất lớn nếu ứng cử viên nào có nhiều tiền hơn. Cơ hội thắng cử trong các cuộc chạy đua giành vị trí trong cơ quan công quyền được đo bằng sức nặng của đồng đô la. Một nền dân chủ mà chính quyền hành pháp có thể lừa rối cả quốc hội trong việc tạo dựng chứng cớ giả để tiến hành chiến tranh, thành lập các nhà tù bí mật tại các nước Đông Âu để tra hỏi tù binh, một nền dân chủ mà chính quyền tự cho phép giam giữ tù binh nhiều năm không xét xử, đó là chưa kể đến hàng loạt các vụ vi phạm nhân phẩm tại các nhà tù bất chấp luật pháp của chính cái nền dân chủ ấy, cũng như luật pháp quốc tế. Một xã hội dân chủ mà tất cả những thành viên của nó ai cũng có thể sở hữu súng đạn để “tự bảo vệ” chính mình. Tại sao lại phải tự bảo vệ khi mà họ đang sống trong một cái xã hội rất dân chủ, và phải chăng đây chính là nguyên nhân của những vụ thảm sát rất thương tâm thường xuyên xảy ra tại các cơ sở giáo dục, công sở, trên đường phố của nước Mỹ.

Có lẽ một nền dân chủ như vậy không phải khuôn mẫu cho tất cả các nước và càng không thể được sử dụng để áp đặt đối các quốc gia có chủ quyền.

Cái giá của xuất khẩu dân chủ

Đánh bom Văn phòng tuyển quân ở Quảng trường Thời đại (Niu-Ooc, Mỹ) ngày 6-3-2008

Điều tệ hại hơn là cái giá phải trả cho cái gọi là “thúc đẩy dân chủ” quá lớn, trước hết đó là cuộc sống của cả hàng triệu người vô tội. Theo hãng tin Đức DPA, số dân thường bị chết trong cuộc chiến tranh I-rắc là khoảng từ 70.000 đến 89.000 người, còn Cao Ủy Liên hợp quốc về người tỵ nạn (UNHCR) cho biết hơn hai triệu người I-rắc phải rời bỏ tổ quốc của mình tỵ nạn ở các nước láng giềng. Còn hiện tại, trung bình mỗi ngày có khoảng vài chục người chết vì các vụ đánh bom mìn, đất nước bị tàn phá, nhân phẩm con người bị chà đạp, xã hội luôn trong tình trạng hỗn loạn. Không biết các tổ chức nhân quyền quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức ân xá quốc tế và cả Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc đang ở đâu, nghĩ gì mà không thấy lên tiếng bênh vực cho số phận của cả chục ngàn người chủ yếu là người già, phụ nữ, trẻ em bị chết do bom đạn của các cuộc chiến tranh do chính Mỹ và NATO gây ra tại Nam Tư cũ, Áp-ga-ni-xtan, I-rắc. Đây là “kết quả” của cái gọi là “thúc đẩy dân chủ” của các nước Phương Tây, nhưng họ đã nhắm mắt trước số phận đáng thương do chính họ gây ra và phải được quan tâm của hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu con người không còn có quyền được sống chứ nói gì đến quyền được tôn trọng, được dân chủ. Phải chăng đây là quyền con người của cái “nền dân chủ” mà họ vẫn tôn thờ, hàng ngày rao giảng, dạy rỗ các quốc gia khác phải noi theo. Thật không còn tính nhân bản khi mà Mỹ và NATO cố tình “xuất khẩu”, áp đặt cái “nền dân chủ” của họ bằng vũ khí, bom đạn lên một quốc gia khác với cái giá của hàng chục ngàn sinh mạng con người vô tội.

Nền dân chủ không thể là một hàng hóa đơn thuần để xuất khẩu. Nếu một khi nó được sử dụng như một thứ hàng hóa để xuất khẩu sang các quốc gia khác thì đó chỉ là công cụ nhằm thực hiện mục tiêu áp đặt sự thống trị của một quốc gia đối với một quốc gia hay một dân tộc khác. (Theo Tạp chí Cộng Sản)

Quân sự Việt Nam sau Chiến tranh Lạnh

Tại hội thảo Vietnam Update ở Singapore tháng 11-2004 vừa qua Giáo sư Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Úc đã trình bày bài viết của mình có tựa đề "Vietnam’s Foreign Relations: The Strategic Defence Dimension" (Quan hệ Đối Ngoại của Việt Nam, Thước đo có tính Quốc phòng Chiến lược).

Trong bài viết, ông Carl Thayer phân tích các hình thức hợp tác quốc phòng của Việt Nam với các nước trong các thập niên gần đây.

BBC đã phỏng vấn Giáo sư Carl Thayer về các điểm ông đề cập trong bài viết này.

Giáo sư Carl Thayer: Việc Liên Xô sụp đổ bất ngờ khiến Việt Nam ở vào thế bị động. Các khoản viện trợ quân sự ngưng toàn bộ và ngay lập tức Việt Nam phải dùng ngoại tệ mạnh để mua thiết bị quốc phòng của Liên Xô. Vào thời điểm đó Việt Nam cũng đối diện các mối đe dọa từ Trung Quốc tại khu vực biển Đông. Với giai đoạn đầu của chính sách Đổi mới về kinh tế, Việt Nam bắt đầu đi tìm các đối tác mới trên thế giới. Thế nhưng rồi Việt Nam lại thấy cần phải quay lại với đối tác cũ. Đối tác chính vẫn là Nga và đối tác lớn kế tiếp là Ukraina, hay Belarus và các nước Đông Âu. Kinh tế của Việt Nam trong những năm vừa qua tiếp tục phát triển và Việt Nam hiện nay chi tương đối nhiều cho quân sự. Thế nhưng về cơ bản thì quân đội nhân dân Việt Nam thiếu các phương tiện và thiết bị quân sự qui mô. Vũ khí cũng đã và đang cũ dần và thiếu phụ tùng thay thế. Và hiện nay Việt Nam đang hiện đại hóa kho vũ khí của mình.

BBC: Giới quan sát nói rằng 60%-70% kho vũ khí của Việt Nam đã bị lỗi thời. Vậy sự lựa chọn của Việt Nam là gì?

Giáo sư Carl Thayer: Vào thời điểm Liên Xô sụp đổ, Việt Nam đã thực hiện việc điều chỉnh về qui mô và có tính chiến lược về quốc phòng. Họ phải bớt chi cho quốc phòng. Vào năm 1987 có tới 1.2 triệu lính trong các đơn vị chính qui và cho tới nay chỉ có chưa tới 500 ngàn lính. Rồi họ cũng phải làm tất cả mọi thứ trong giai đoạn khó khăn như việc đại tu thiết bị và bảo dưỡng hết sức cẩn thận để phục vụ cho các trung đoàn hay đơn vị ở vị trí sẵn sàng chiến đấu. Khi chúng ta nói đến vũ khí lỗi thời, chẳng hạn như xe tăng, thì xe tăng mà Việt Nam còn có từ trước có thể là cũ nhưng thiết bị ngắm bắn và bộ điều khiển bắn vẫn còn hoạt động khá tốt. Trong chiến tranh vùng vịnh lần thứ nhất, các chuyên gia quân sự của Việt Nam đã quan sát tỷ mỉ những diễn biến trên chiến trường và thấy rằng không có sự lựa chọn nào tốt hơn là phải hiện đại hóa quân sự. Họ từng bước mua thiết bị quốc phòng. Chi tiêu cho quốc phòng của Việt Nam còn thua xa các nước tại khu vực Đông Nam Á.

BBC: Ông có thể nói rõ thêm về việc hiện đại hóa quốc phòng của Việt Nam?

Tàu chiến và máy bay chiến đấu là hạ tầng qui mô của quân sự hiện đại
Tàu chiến và máy bay chiến đấu là hạ tầng qui mô của quân sự hiện đại

Giáo sư Carl Thayer: Ngoài việc mua sắm tàu chiến, máy bay, ..thì việc hiện đại hóa có thể hiểu rằng họ tham gia cùng sản xuất, tức là có việc chuyển giao công nghệ. Có hai yếu tố cần lưu ý. Thứ nhất là tàu chiến và chiến đấu cơ là hạ tầng quốc phòng. Thứ hai các thiết bị đưa lên máy bay chiến đấu hay tàu chiến để tăng khả năng công phá của chúng. Chẳng hạn như không lực của Việt Nam với phản lực MiG21. MiG21 là chiến đấu cơ thế hệ cũ, thế nhưng có thể nâng cấp thiết bị điện từ thông qua hợp tác với Israel, Ấn độ, Nga hay Ukraina. Tức là có thể gửi các thiết bị đó sang những nước này để nâng cấp rồi lại mang về Việt Nam.

BBC: Ông nói về các đối tác quân sự truyền thống của Việt Nam như Nga hay Ukraina. Theo ông những thay đổi về chính trị tại những nơi như Ukraina có tạo những ảnh hưởng trong quan hệ về hợp tác quân sự với Việt Nam hay không?

Giáo sư Carl Thayer: Tất nhiên là có. Nếu ta nhìn một bức tranh lớn hơn tại Đông Âu thì việc chủ nghĩa xã hội sụp đổ tại đây. Chúng ta thấy có những thay đổi về dân chủ và quốc hội các nước này đã thông qua luật hạn chế bán một số thiết bị cho những nước vi phạm nhân quyền. Cộng hòa Czech là một trong những nước như vậy. Và Hungary không có liên hệ quân sự với Việt Nam. Về góc độ hợp tác giữa Ukraina và Việt Nam, hầu hết các thiết bị Việt Nam mua của Ukraina được xem là chủ yếu dùng cho mục đích quốc phòng chứ không phải làm thay đổi cán cân quyền lực. Tức là không được dùng để đàn áp các nhóm trong nước như các nhóm cỗ vũ cho dân chủ hay các nhóm đấu tranh cho tự do tôn giáo. Do đó nếu có những sức ép tại Ukraina nhằm hạn chế hợp tác quân sự với Việt Nam vì các lý do về nhân quyền thì người ta có thể biện luận rằng không có thiết bị hay vũ khí nào mà Việt Nam mua của Ukraina tạo ra những ảnh hưởng về thực trạng nhân quyền tại Việt Nam trong khi Việt Nam tự bảo vệ mình. Thế nhưng những đối tác giàu tiềm năng như tôi vừa đề cập là Cộng hòa Czech và Hungary đã cấm bán thiết bị quân sự và vũ khí cho Việt Nam.

BBC: Ông đề cập rằng việc chấm dứt xung đột Campuchia đã mở ra giai đoạn hợp tác quân sự mới cho Việt Nam. Điều này có nghĩa là xung đột tại Campuchia đã đẩy Việt Nam vào thế bất lợi về góc độ nâng cấp thiết bị quốc phòng và hợp tác với các nước trong khu vực?

Trung Quốc đầu tư nhiều cho quân sự trong những năm qua
Trung Quốc đầu tư nhiều cho quân sự trong những năm qua

Giáo sư Carl Thayer: Xung đột Campuchia đã đẩy Việt Nam vào thế bất lợi. Việt Nam bị cô lập và nhiều nước không muốn quan hệ với Việt Nam. Thế nhưng cho tới khi Việt Nam đồng ý rút quân khỏi Campuchia và tỏ ý đi đến một thỏa thuận chính trị tại Campuchia thì Thái Lan là nước đã khởi đầu trong khối ASEAN. Thủ tướng Thái lúc đó tuyên bố rằng muốn thấy chiến trường trở thành thương trường. Tức là lúc đó Việt Nam đã có quan hệ đối ngoại trở lại với Thái Lan trước khi Việt Nam trước khi Việt Nam chính thức rút quân khỏi Campuchia. Nó cũng đánh dấu việc các nước láng giềng khác bắt đầu quan hệ lại với Việt Nam.

BBC: Nếu chúng ta nhìn vào số các đoàn quân sự các cấp của Việt Nam ra nước ngoài cũng như các phái đoàn quân sự nước ngoài viếng thăm Việt Nam thì số các đoàn của các nước trong vùng là khá cao. Điều đó chứng tỏ quan hệ với các nước láng giềng là khá quan trọng?

Giáo sư Carl Thayer: Có nhiều dạng trao đổi quân sự giữa Việt Nam và các nước trong vùng. Giữa Thái Lan và Việt Nam thì việc bàn luận chủ yếu là những biến cố tại vùng lãnh hải giữa Thái Lan và Việt Nam. Nơi đây có các ngư dân của nước này đánh bắt cá trong vùng nước của nước kia và rồi có cả tàu hải quân tham gia bắt ngư dân và gây ra các tranh chấp. Chúng ta thấy hai phía tổ chức tuần tiễu chung tại khu vực là khoảng 9 lần. Thế nhưng trong khi hai bên tỏ ý muốn giải quyết vẫn đề này thì những nghi ngại vẫn tồn tại. Quan hệ quân sự giữa hai nước cũng có những điểm khá lạ, chẳng hạn như trước đây tôi được biết rằng phía Thái Lan nói có thể cung cấp cho Việt Nam các thiết bị thay thế mà họ mua được của Trung Quốc. Và để đổi lại thì Thái Lan muốn Việt Nam trao cho Thái Lan các thiết bị mà Việt Nam giữ được của Hoa Kỳ hồi năm 1975. Theo tôi thì đề nghị này không được thực hiện. Quan hệ quân sự của Việt Nam với Lào là quan hệ gần gũi nhất. Lào là nước duy nhất Việt Nam hỗ trợ và đào tạo quân sự. Quan hệ quân sự với Campuchia rất ít. Sự hiện diện của Việt Nam tại Campuchia tạo ra bất bình do đó Việt Nam cũng không muốn đao to búa lớn tại đây. Nước láng giềng nữa là Trung Quốc. Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ. Họ chủ yếu cử các phái đoàn chính trị sang thăm lẫn nhau để nói về hệ tư tưởng. Nói về việc đảng làm sao kiểm soát được quân đội. Và vai trò của quân đội trong việc xây dựng kinh tế. Thế nhưng về quan hệ quốc phòng giữa hai nước theo nghĩa hẹp thì Việt Nam và Trung Quốc không trao đổi và hợp tác gì.

BBC: Ngoài việc Việt Nam hiện đại hóa quân sự thì chúng ta thấy việc trao đổi các chuyến viếng thăm của phái đoàn quân sự của Việt Nam với các nước và ngược lại. Hoạt động đó được xem là ngoại giao quốc phòng đúng không?

Giáo sư Carl Thayer: Trong quá khứ Việt Nam là thành viên của khối Sô Viết và thấm nhuần tư tưởng là Chủ nghĩa Xã hội bị Chủ nghĩa Đế quốc tấn công và lựa chọn đi theo chiến lược quân sự của Liên Xô cũ, theo hiệp ước Warsaw và Việt Nam quan hệ với Ấn độ và Cuba. Vào đầu thập niên 1990, tức là sau khi Việt Nam rút khỏi Campuchia, Việt Nam được xem là một nước “bình thường”. Hòa nhập với các nước trong vùng. Và các liên hệ giữa bộ quốc phòng các nước đôi khi cũng qua bộ ngoại giao. Tức là từ lúc Việt Nam có quan hệ quân sự với dưới 20 nước thì nay đã có liên hệ quốc phòng với hơn 60 nước. Việt Nam cử 24 tùy viên quân sự sang các nước và có 34 nước cử tùy viên quân sự sang Việt Nam. Chúng ta thấy Việt Nam có khẩu hiệu quen thuộc đó là kết hợp giữa phát triển kinh tế với quốc phòng. Kết hợp giữa quốc phòng với ngoại giao. Và kết hợp quốc phòng với an ninh. Do đó với khuôn khổ này thì Bộ Quốc Phòng đang đóng vai trò rất năng động. Ngoài liên hệ với các đối tác truyền thống thì nay chúng ta thấy có cả các đối tác rất mới như Brazil, Nam Phi, Bỉ, …

Trường Sa vẫn chưa có được giải pháp toàn diện
Trường Sa vẫn chưa có được giải pháp toàn diện

BBC: Trong nghiên cứu của mình ông cũng nói rằng Việt Nam áp dụng chiến lược cân bằng các quan hệ hoặc đôi khi đi theo nước lớn hoặc đi theo đa số nhằm đảm bảo vị thế của mình. Thế nhưng điều đó được thể hiện thế nào trong tranh chấp tại quần đảo Trường Sa?

Giáo sư Carl Thayer: Chúng ta đang nói tới sức mạnh của Trung Quốc với hình bóng quân sự bao trùm lên khu vực Biển Đông. Có một số học giả cũng bàn luận về sự lựa chọn của Việt Nam xích gần lại với Trung Quốc để khỏi bị ảnh hưởng xấu. Đối sách cân bằng theo các nhà hoạch định chiến lược của Hoa Kỳ là việc thúc giục Việt Nam dựa vào Hoa Kỳ bởi họ đều chia sẻ lợi ích chung là khống chế Trung Quốc. Thế nhưng các phân tích gia quân sự của Việt Nam nói rằng lịch sử của Việt Nam với cường quốc phương bắc cũng không cho thấy chính sách theo nước lớn là có lợi.Trong khi đó lịch sử của Việt Nam dựa vào thế mạnh quân sự của Liên Xô cũ quá mức cũng cho thấy những điểm bất lợi. Do đó trong bài viết của mình tôi đề cập việc Việt Nam sử dụng nhiều cách tiếp cận nhằm có các giải pháp thay thế hoặc dự phòng. Tức là một mặt thì vẫn xây dựng quan hệ hữu hảo và hợp tác với Trung Quốc. Mặc khác thì Việt Nam cũng triển khai tàu chiến và không lực tại khu vực như mối răn đe đối với Trung Quốc. Nếu đọc kỹ Sách Trắng ra năm 2004 thì chúng ta thấy Việt Nam có những quan ngại lớn tại khu vực họ gọi là Biển Đông tuy những quan ngại này không lớn như nói hồi năm 1988 khi Việt Nam dùng thuật ngữ điểm nóng. Tôi nói chuyện với nhiều tuỳ viên quân sự của Việt Nam tại các nước. Trong các cuộc nói chuyện riêng tư, họ luôn băn khoăn không biết Trung Quốc sẽ làm gì tại biển Đông. Và hiếm khi thấy một tuỳ viên quân sự Việt Nam nào lại bình luận về những điểm tích cực đối với Trung Quốc trong khu vực Biển Đông.

BBC: Điều đó có nghĩa là tranh chấp tại Biển Đông sẽ vẫn còn là vấn đề trong tương lai chứ không có giải pháp nào hay thỏa thuận nào?

Giáo sư Carl Thayer: Việt Nam không đứng lẻ loi. Một khi Việt Nam là thành viên của ASEAN thì tranh chấp tại đây là vấn đề của cả ASEAN. ASEAN và Trung Quốc đã mất nhiều năm đàm phán cố gắng có được bộ luật ứng xử. Rốt cùng thì họ có được một đích ngắn hơn mục đích đề ra. Tức là chỉ có được tuyên bố của các bên theo đó các bên nói duy trì hiện trạng và không dùng vũ lực chống lại lẫn nhau. Sách Trắng của Việt Nam cũng như các nước ASEAN luôn nói rằng tuyên bố này chỉ là bước khởi đầu của bộ luật ứng xử thôi, thế nhưng Trung Quốc phản đối vì họ cho là bộ luật ứng xử sẽ có bản chất ràng buộc về pháp lý kìm hãm hành động của Trung Quốc. Một mặt thì Việt Nam đưa du khách ra theo các tour du lịch, mặc khác thì Trung Quốc và Philippine tuyên bố cùng thăm dò dầu khí, theo luật quốc tế thì các hoạt động cho mục đích kinh tế trên khu vực đó sẽ là cơ sở để nói đó là lãnh thổ và chủ quyền. Do đó có những căng thẳng và tức tối nào đó. Thế nhưng bộ máy quân sự đang lớn dần của Trung Quốc có nghĩa rằng cuối cùng thì biển Đông sẽ trở thành cái hồ của Trung Quốc do vị thế và sức mạnh quân sự nổi trội của Trung Quốc. Việt Nam có thể có khả năng răn đe về quân sự nhưng không có khả năng chiếm giữ. Nước duy nhất có thể đối trọng được với Trung Quốc là Hoa Kỳ.

Bản đồ cổ ở London chứng tỏ Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam

Một bằng chứng về chủ quyền hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam, từng được nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải phát hiện trong một tấm bản đồ cổ, do chính tác giả Trung Quốc Xa Khâu Từ Diên Húc ở đời Thanh biên soạn.

Tiền phong đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Phúc Giác Hải về câu chuyện nêu trên.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải

Ông Nguyễn Phúc Giác Hải kể: “Việt Nam địa dư đồ” là một tấm bản đồ cổ do tác giả Trung Quốc Xa Khâu Từ Diên Húc - một vị quan đời Thanh biên soạn. Trong tấm bản đồ này, lần đầu tiên Trung Quốc dùng hai chữ Việt Nam để gọi tên nước ta. Không hiểu lịch sử biến thiên thế nào mà tấm bản đồ quý ấy lại lưu lạc sang tận châu Âu, trở thành tài sản của thư viện Vương quốc Anh.

Một lần sau khi đặt chân tới thủ đô London, tôi tìm đến thư viện này, và sau nhiều thủ tục, cuối cùng tôi cũng được cầm tận tay “Việt Nam địa dư đồ”.

- Tấm bản đồ đó đề cập đến Hoàng Sa và Trường Sa như thế nào, thưa ông?

- “Việt Nam địa dư đồ” được bảo quản cực kỳ cẩn thận, bên ngoài là một hộp giấy bọc vải lụa màu xanh nước biển, bên trong là tấm bản đồ giấy bản được bồi trên lụa.

Tấm bản đồ có kích thước 103 x 62cm. Đối với những tài liệu này, bảo tàng quy định chỉ có thể ngồi đọc trước mặt thủ thư và không được mang máy ảnh hay camera vào. Phải dùng bút chì để ghi chép chứ không được sử dụng các phương tiện khác, vì có thể làm ảnh hưởng đến một bảo vật đã có hàng trăm năm.

Tấm bản đồ này được vẽ theo lối hiện đại, có ghi các tỉnh của nước ta thời Nguyễn như Cao Bằng, Tuyên Quang, Sơn Tây, Quảng Yên, Nam Định, Thanh Hóa, Phú Xuân... Đặc biệt, bản đồ vùng biển có những hàng chữ rất quan trọng “Tiểu Trường Sa hải khẩu”, “Đại Trường Sa hải khẩu”...

- Nghĩa là “Tiểu Trường Sa hải khẩu” và “Đại Trường Sa hải khẩu” nằm trong “Việt Nam địa dư đồ”?

- Theo tôi được biết không có bản đồ cổ Trung Quốc nào ghi hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa ở trong đó.

Việc người Trung Quốc ghi những dòng“Tiểu Trường Sa hải khẩu” và “Đại Trường Sa hải khẩu”trong “Việt Nam địa dư đồ” thể hiện một điều chắn chắc rằng triều đình Mãn Thanh – Trung Quốc đã thừa nhận ở Việt Nam có hai hải khẩu đi ra hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Mặc nhiên, họ thừa nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Bởi vì theo một số nhà bản đồ học, tiểu Trường Sa chính là quần đảo Hoàng Sa, còn đại Trường Sa là quần đảo Trường Sa hiện nay.

Ở vùng biển Trung Quốc không có những hải khẩu này. Họ cũng thừa nhận hai quần đảo này là do Việt Nam quản lý. Điều này đặc biệt giá trị ở chỗ nó được thể hiện trên tấm bản đồ do chính một vị quan to nhà Thanh vẽ.

- Cảm ơn ông!

Theo Tien Phong Online

Người Trung Quốc từng nộp thuế cho chúa Nguyễn khi đi qua quần đảo Hoàng Sa

Có một tài liệu quan trọng khác thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, đó là cuốn “Hải ngoại kỷ sự” được viết theo kiểu nhật ký của nhà sư Thích Đại Sán ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

Nhà sư Thích Đại Sán được chúa Nguyễn mời vào thăm Đàng Trong với vai trò vận động triều đình Mãn Thanh công nhận triều Nguyễn. Trong chuyến đi bằng đường biển đó, Thích Đại Sán có ghi lại trong “Hải ngoại kỷ sự” một chi tiết rất giá trị:

Khi thuyền của ông đi qua quần đảo Hoàng Sa thì phải nộp thuế cho chúa Nguyễn. Điều đó thể hiện một sự thật hiển nhiên rằng, thời đó Hoàng Sa đã thuộc chủ quyền của nhà Nguyễn và người Trung Quốc đã phải nộp thuế cho chúa Nguyễn khi đi qua quần đảo này.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải