Thứ Tư, 30 tháng 4, 2008

Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá giữa Việt Nam - Trung quốc trong Vịnh Bắc Bộ

Thứ trưởng Ngoại giao Lê Công Phụng - Tạp chí Cộng Sản số 2 (1-2001)

Nhân chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Chủ tịch Trần Đức Lương, ngày 25-12-2000, nước ta và Trung Quốc đã ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ. Lễ ký kết được tổ chức với sự chứng kiến của Chủ tịch Trần Đức Lương và Chủ tịch Giang Trạch Dân. Sự kiện trọng đại mang tính lịch sử này diễn ra vào thời khắc rất đặc biệt, nhân loại đang hối hả thu xếp hành trang giã từ thế kỷ XX đi vào thế kỷ XXI và thiên niên kỷ mới. Sự kiện này cũng diễn ra vào điểm đỉnh tốt đẹp của quan hệ Việt - Trung kể từ khi bình thường hóa quan hệ năm 1991 đến nay. Nhân dân ta đón nhận việc ký kết hai hiệp định trên như một thành công lớn của hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong năm 2000, coi đó là nhân tố hết sức quan trọng trong việc tăng cường, thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, cũng như trong việc duy trì, củng cố hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực.

Trong các vấn đề do lịch sử để lại trong quan hệ giữa ta và Trung Quốc có 3 vấn đề liên quan đến biên giới lãnh thổ là xác định đường biên giới trên đất liền ; phân định Vịnh Bắc Bộ và vấn đề trên Biển Đông (mà thực chất là vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như đối với vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của ta), trong các vấn đề trên, vấn đề biên giới trên đất liền đã được giải quyết bằng việc ký kết Hiệp ước trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 30-12-1999. Vịnh Bắc Bộ được bao bọc bởi Việt Nam và Trung Quốc có diện tích 123.700 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 320 km (176 hải lý) và nơi hẹp nhất khoảng 220 km (119 hải lý). Chiều dài bờ biển phía Việt Nam khoảng 763 km, còn phía Trung Quốc khoảng 695 km. Phần Vịnh phía ta có khoảng 1 300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền nước ta khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 130 km. Vịnh có vị trí chiến lược quan trọng đối với Việt Nam và Trung Quốc về an ninh và quốc phòng. Đặc thù của Vịnh là chiều ngang tương đối hẹp, từ trước tới nay hai nước chưa hề phân định Vịnh. Theo Công ước luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc, thì toàn bộ Vịnh Bắc Bộ là vùng chồng lấn và trong thực tế thời gian qua có tranh chấp, ảnh hưởng không tốt đến quan hệ giữa hai nước. Trước tình hình đó, hai nước đều có nhu cầu tiến hành đàm phán để phân định Vịnh Bắc Bộ nhằm đạt hai mục tiêu cơ bản và lâu dài : một là xác định đường phân giới rạch ròi, phân chia vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước láng giềng ; hai là giải quyết vấn đề tồn tại do lịch sử để lại, tạo cơ sở và động lực thúc đẩy quá trình xây dựng lòng tin, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai Đảng, hai nước theo phương châm 16 chữ mà hai đồng chí Tổng Bí thư đã thỏa thuận. Ngoài ý nghĩa về an ninh, quốc phòng, Vịnh Bắc Bộ còn có ý nghĩa lớn về kinh tế, có nguồn lợi hải sản phong phú. Hai nước đều có nhu cầu hợp tác đánh bắt, bảo vệ môi trường và bảo vệ và nuôi trồng nguồn hải sản trong Vịnh. Vào các năm 1957, 1961 và 1963 hai nước có ký các thỏa thuận cho phép thuyền buồm của hai bên được đánh bắt trong Vịnh ngoài phạm vi tương ứng 3 hải lý, 6 hải lý và 12 hải lý tính từ bờ biển và hải đảo mỗi bên. Các thỏa thuận này đã hết hiệu lực vào những năm 70. Trong quá trình đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ, phía Trung Quốc kiên trì đề nghị lập vùng đánh cá chung đồng thời với việc phân định Vịnh Bắc Bộ và nhấn mạnh nếu không thỏa thuận được vấn đề này thì khó có thể giải quyết được vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Ta không chủ trương gắn vấn đề nghề cá mang tính kinh tế, kỹ thuật với vấn đề phân định quốc giới mang tính chiến lược lâu dài. Nhưng ta cũng nhận thức rõ là việc không giải quyết được vấn đề nghề cá có thể dẫn đến hậu quả là khó giải quyết được vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Lúc đó toàn bộ Vịnh sẽ tiếp tục bị coi là vùng chồng lấn giữa hai bên, và tình hình ở đó sẽ tiếp tục mất ổn định. Thực tiễn quốc tế cho thấy nhiều nước có vịnh hoặc vùng biển chung cũng đã thỏa thuận lập vùng đánh cá chung và về mặt pháp lý thì điều đó không trái với Công ước luật Biển năm 1982. Nhằm mục đích tạo thuận lợi tối đa cho việc giải quyết vấn đề phân định và trên cơ sở cân nhắc kỹ mọi khía cạnh trong quan hệ hai nước cũng như thực tiễn quốc tế, ta đã đồng ý lập vùng đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ. Cuộc đàm phán về biên giới lãnh thổ, trong đó có vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ giữa ta và Trung Quốc đã được tiến hành từ đầu những năm 70. Trong các năm 1974 và 1977 - 1978, hai nước đã tiến hành 2 vòng đàm phán về phân định. Nhưng do điều kiện lúc đó nên đàm phán không có kết quả. Sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ, hai bên đã quyết định thương lượng để giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ, trong đó có vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ. Hai nước đã ký Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới - lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 19-10-1993, trong đó nêu rõ phương hướng phân định Vịnh Bắc Bộ là "Hai bên sẽ áp dụng luật quốc tế và tham khảo thực tiễn quốc tế, theo nguyên tắc công bằng và tính đến mọi hoàn cảnh liên quan trong Vịnh để đi đến một giải pháp công bằng". Thực hiện thỏa thuận đó, từ 1993 đến năm 2000, hai bên đã triển khai 7 vòng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp chính phủ và 18 vòng đàm phán cấp chuyên viên. Một thuận lợi hết sức lớn lao đối với quá trình đàm phán là quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa hai nước không ngừng được tăng cường, ngày càng đi vào thực chất và toàn diện, lãnh đạo của hai bên luôn luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao. Trong các chuyến thăm Trung Quốc vào năm 1997 của Đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười và tháng 2-1999 của Đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, lãnh đạo cấp cao hai nước đạt được thỏa thuận là khẩn trương đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000 và hoàn thành việc phân định để ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ trong năm 2000. Với tinh thần đó, trong năm 1998 và 1999 hai bên chủ yếu dành ưu tiên cho việc giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền. Năm 2000 cuộc đàm phán về phân định Vịnh Bắc Bộ được đẩy mạnh và đi vào giải quyết thực chất (1 vòng đàm phán cấp chính phủ, 3 cuộc gặp liên tiếp giữa 2 trưởng đoàn cấp chính phủ và 8 vòng đàm phán cấp chuyên viên).

Trong quá trình đàm phán, hai bên đã vận dụng các nguyên tắc như sau để giải quyết : một là, căn cứ vào các quy định của Công ước luật Biển 1982 của Liên hợp quốc cũng như các nguyên tắc luật pháp quốc tế và tập quán được công nhận rộng rãi ; hai là, hai bên tính đến các đặc thù của Vịnh Bắc Bộ như sự hiện diện của các đảo, chiều dài bờ biển v.v... ; ba là, việc giải quyết vấn đề phân định phải xuất phát từ thực trạng cũng như nhu cầu phát triển quan hệ giữa hai nước ; bốn là, bảo đảm nguyên tắc công bằng và chiếu cố lợi ích của nhau. Về diện tích, phía Trung Quốc kiên trì chủ trương đại thể chia đôi, thừa nhận ta có thể nhỉnh hơn nhưng hơn không đáng kể. Ta chủ trương giải pháp công bằng phải phù hợp với các hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh như sự hiện diện của các đảo của ta, chiều dài bờ biển của ta lớn hơn v.v... Do đó, kết quả của giải pháp phân định phù hợp với yêu cầu ta đặt ra. Về diện tích tổng thể ta được 53,23% diện tích Vịnh, Trung Quốc đạt 46,77% (ta hơn Trung Quốc 6,46% tức là khoảng 8205 km2), đường phân định cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý, đảo Cồn Cỏ được hưởng 50% hiệu lực. Về khía cạnh tài nguyên, giải pháp phân định đạt được cũng bảo đảm việc phân chia lợi ích một cách công bằng. Hai bên đã phân chia rõ ràng phần thềm lục địa để mỗi bên đều có thể tiến hành thăm dò, khai thác tài nguyên trong phạm vi thềm lục địa của mình mà không bị bên kia can thiệp hoặc gây khó khăn. Trong trường hợp có cấu tạo mỏ vắt qua đường phân định thì hai bên sẽ thỏa thuận với nhau về việc khai thác và phân chia lợi ích của việc khai thác đó.

Cuộc đàm phán về nghề cá được khởi động muộn hơn. Cho mãi đến tháng 4-2000 ta mới tán thành đàm phán nghề cá. Qua 6 vòng đàm phán cấp chuyên viên về nghề cá, hai bên nhất trí lập vùng đánh cá chung ở trong Vịnh Bắc Bộ từ vĩ độ 20o xuống đường đóng cửa Vịnh. Vùng này có bề rộng là 30,5 hải lý kể từ đường phân định về mỗi phía và có tổng diện tích là 33.500 km2, tức là khoảng 27,9% diện tích Vịnh. Như vậy, đảm bảo cách bờ của mỗi nước là 30 hải lý : đại bộ phận cách bờ của ta 35 - 59 hải lý và có 2 điểm cách bờ là 28 hải lý. Thời hạn của vùng đánh cá chung là 15 năm (12 năm chính thức và 3 năm gia hạn). Hai bên cũng đã thỏa thuận các điều khoản liên quan đến bảo vệ môi trường và bảo vệ và nuôi trồng nguồn hải sản trong Vịnh. Ba nguyên tắc lớn của vùng đánh cá chung là : vùng đặc quyền kinh tế của nước nào thì nước đó có quyền kiểm tra, kiểm soát các tàu cá được phép vào vùng đánh cá chung ; sản lượng và số tàu thuyền được phéãp vào vùng đánh cá chung là dựa trên nguyên tắc bình đẳng, căn cứ vào sản lượng được phép đánh bắt, xác định thông qua điều tra liên hợp định kỳ ; mỗi bên đều có quyền liên doanh hợp tác đánh cá với bên thứ 3 trong vùng đặc quyền kinh tế của mình. Hai bên thỏa thuận lập Uủy ban liên hợp nghề cá để xây dựng quy chế liên quan đến vùng đánh cá chung. Ngoài vùng đánh cá chung ra, hai bên thỏa thuận về dàn xếp quá độ với thời hạn 4 năm ở phía Bắc vĩ tuyến 20 cho tàu thuyền của hai bên tiếp tục được đánh bắt. Phạm vi cụ thể của vùng này hai bên sẽ tiếp tục thảo luận. Sau thời hạn quá độ, tàu thuyền của các bên về đánh cá ở vùng đặc quyền kinh tế của mình, trừ khi được bên kia cho phép. Đồng thời hai bên cũng thỏa thuận lập một vùng đệm nhỏ ở ngoài cửa sông Bắc Luân với mục đích là tạo thuận lợi cho việc ra vào của các tàu cá nhỏ (nếu phát hiện các tàu đó đánh cá thì cảnh cáo và buộc rời khỏi vùng nước của mình). Vùng này dài 10 hải lý và tính từ đường phân định rộng 3 hải lý về mỗi bên.

Về tổng thể, các giải pháp đạt được trong quá trình đàm phán và được thể hiện trong hai bản Hiệp định là thỏa đáng, đáp ứng lợi ích và nguyện vọng của cả hai bên. Các Hiệp định đó là kết quả của quá trình đàm phán lâu dài, thể hiện nỗ lực, thiện chí và tính đến sự quan tâm, nhân nhượng từ cả hai phía. Đối với ta, việc ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ tiếp theo việc ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền năm 1999, có ý nghĩa rất quan trọng vì qua đó ta đã đạt được mục tiêu là giải quyết được hai trong ba vấn đề biên giới - lãnh thổ tồn đọng lâu nay giữa hai nước. Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc năm 1999 và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ tạo nên một cơ sở pháp lý vững chắc để quản lý biên giới, lãnh thổ, thực hiện mục tiêu là xây dựng biên giới Việt Nam - Trung Quốc thành biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu dài, và tạo động lực thúc đẩy, tăng cường quan hệ hai nước. Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ đã xác định trọn vẹn đường biên giới lãnh hải giữa ta và Trung Quốc ở khu vực ngoài cửa sông Bắc Luân, phân định rõ ràng phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và phạm vi thềm lục địa của hai nước ở Vịnh. Hiệp định đã ghi nhận cam kết của hai bên tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên trong phạm vi các vùng biển của mình. Hiệp định cũng đã đề ra cách giải quyết khi xảy ra trường hợp hai bên chung nhau các mỏ tài nguyên khoáng sản nằm trong Vịnh. Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ vừa mới ký với Trung Quốc này là Hiệp định phân định biển thứ hai của nước ta (Hiệp định phân định biển đầu tiên là Hiệp định phân định các vùng biển giữa Việt Nam và Thái Lan ký năm 1997) và là Hiệp định phân định biển gần đây nhất ở trong khu vực). Do đó ý nghĩa của Hiệp định này không chỉ dừng lại trong khuôn khổ quan hệ Việt - Trung mà thực sự góp phần vào việc ổn định hòa bình trong khu vực. Hiệp định hợp tác nghề cá đã góp phần quan trọng đưa đến việc ký kết Hiệp định phân định ; thể hiện rõ sự nhân nhượng, thông cảm lợi ích của nhau, phù hợp với phương châm "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" trong quan hệ hai nước.

 

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2008

Chuyện về người chỉ huy xe tăng tiêu diệt cả một lữ đoàn dù Ngụy

"Cuộc chiến đấu chỉ còn lại duy nhất một chiếc xe của chúng tôi. Thấy xe tăng của ta, bọn địch ở các hầm cơ động, thông hào bắn ra như mưa. Nhiều tên sợ quá, ném lựu đạn quên rút chốt", ông Nguyễn Đình Thoảng kể về cuộc tấn công lữ đoàn dù ngụy trên cứ điểm 543.

Trong một ngõ sâu ở phường Phúc Khánh, TP Thái Bình, có một người lính tham gia trận chiến đấu đầu tiên bằng xe tăng của quân đội ta trên chiến trường miền Nam giai đoạn còn bí mật. Ông là Nguyễn Đình Thoảng, 66 tuổi, quê ở Thái Bình, người tham gia trận đánh xe tăng công khai giữa ban ngày với xe tăng của địch; cũng là người chiến sỹ xe tăng đầu tiên của binh chủng được nhận Huy hiệu Bác Hồ với những trận đánh huyền thoại.

Theo ông kể, tháng 8/1967, tại thôn Giếng Xạ, Lương Sơn, Hòa Bình, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 203 xe tăng đã bí mật làm lễ xuất quân lên đường vào Nam chiến đấu. Để đảm bảo yếu tố bí mật, bất ngờ, xe tăng hành quân theo đường số 4, đường rừng, từ Lương Sơn lên Vụ Bản, vào Thanh Hóa, xuyên dãy Trường Sơn sang nước bạn Lào. Để đảm bảo bí mật, ban đêm hành quân, ban ngày nghỉ. Cuộc hành quân kéo dài ròng rã gần 3 tháng mới tới Xa-van-na - khẹt (Lào).

Hành quân dài trên đường rừng núi nên xe hư hỏng nhiều nhất là bộ phận chuyển động. Để chiến đấu ngay được, một đại đội 11 xe dồn thành 6 chiếc, những chiếc còn lại sẽ bổ sung hoàn chỉnh sau. Giáp Tết Mậu Thân năm 1968, lần đầu tiên trong đêm xe tăng của ta bí mật vượt sông Sê-pôn phối hợp với bộ binh tấn công địch ở Hội Xan (Quảng Trị). Thấy xe tăng đối phương xuất trận, hàng loạt đồn bốt địch thần hồn nát thần tính, hốt hoảng bỏ chạy về Lao Bảo. Xe tăng ta lại bí mật vượt sông Sê-pôn tấn công xóa sổ đồn bốt địch ở Lao Bảo.

Sau những trận đánh mở đầu giành thắng lợi đó, ông Thoảng còn tham gia chiến đấu ở làng Vây trong chiến dịch Mậu Thân. Bị đòn bất ngờ, đầu năm 1971, Mỹ - ngụy tập trung hàng chục ngàn quân với hàng trăm máy bay, xe tăng, xe bọc thép mở cuộc hành quân lớn "Lam Sơn 719" đánh vào đường 9 Nam Lào định cắt đôi Đông Dương và hòng tiến ra Bắc. Phát huy thắng lợi trận đầu ra quân, 10h sáng 25/2/1971, xe tăng ta lại được lệnh xuất kích tấn công một lữ đoàn dù ngụy cứ điểm 543 trên một quả đồi cao rộng.

"Đội hình tiến công gồm 3 xe tăng chênh chếch theo hình chữ chi, xe của tôi mang số hiệu 550 đi đầu. Trong xe gồm Trưởng xe là đồng chí Duyên, lái xe là đồng chí Đoàn và tôi - pháo thủ cùng đồng chí Cối, CTV Trưởng tiểu đoàn. Trên đầu, các loại máy bay địch quần thảo nhiều như chuồn chuồn mùa hè, xả đạn làm cho chiếc xe tăng thứ hai của ta bị cháy, chiếc thứ 3 bị hỏng và bộ binh cũng không tiến kịp theo xe tăng.

Cuộc chiến đấu chỉ còn lại duy nhất một chiếc xe của chúng tôi. Thấy xe tăng của ta, bọn địch ở các hầm cơ động, thông hào bắn ra như mưa. Nhiều tên sợ quá, ném lựu đạn quên rút chốt. Xe tăng của tôi tiến lên được đỉnh đồi và cứ thế quần nhau với cả lữ đoàn dù địch. Bây giờ nhớ lại mới thấy đây là trận chiến đấu có một không hai trong lịch sử của bộ đội xe tăng.

Khi đồng chí Trưởng xe bị thương, đồng chí Cối giúp lái xe, còn tôi vào vị trí Trưởng xe kiêm pháo thủ. Tôi dùng pháo 76, đại liên, 12,7 bắn vào các ổ đề kháng của địch. Trong xe tầm bắn hạn chế, tôi bò ra lưng xe hạ nòng 12,7 bắn thẳng vào các cửa hầm của địch. Một mình tôi đã bắn như thế từ hơn 9h sáng cho đến 4h chiều, bắn hết 2 hòm đạn 12,7, bắn hết tất cả cơ số đạn trong xe tăng dành cho 3 trận đánh công kiên. Trong xe chỉ còn lại 2 quả đạn vạch sáng cực nhanh - một loại đạn rất có giá trị khi bắn phải được lệnh. Bắn đến mức tai như ù, đầu muốn vỡ, mắt nổ đom đóm.

Đến khoảng 4h chiều, lữ đoàn dù địch phần thì bị tiêu diệt, phần thì bị thương, phần thì bỏ chạy tán loạn. Cả quả đồi rộng hàng mẫu, đất đá cày xới, xác giặc ngổn ngang như vười mía sau cơn bão lớn. Cuối trận đánh phát hiện còn một hầm cố thủ - "lô cốt cơ động" của địch, chúng tôi cho xe lên mặt hầm quần thảo, bắn đạn khói, ném lựu đạn cay buộc địch phải ra hàng. Từ trong xe thấy lúc nhúc địch, đồng chí Cối lệnh cho tôi ra khỏi xe bắt sống tù binh. Tôi cắp khẩu AK nhảy xuống đất. Nhìn trước mặt là mấy chục tên địch có tên còn cầm vũ khí. Đồng chí Cối đứng trên xe dùng AK khống chế địch và ném dây cho tôi.

Chúng tôi không ngờ đây chính là hầm chỉ huy. Tôi một tay để vào cò súng, dùng nòng súng khoành dây trói liên tiếp quanh người tổng số 47 tên. Tận bây giờ tôi không hiểu sao mình lại nghĩ ra được cách trói địch có một không hai như vậy! Một xâu tù binh dài tới hai ba chục mét. Vừa trói tôi vừa nhớ đến những dây cua đồng bán ở chợ quê tôi, người nông dân cũng trói cua tương tự thế này. 47 tù binh tôi bắt sống hôm đó gồm toàn bộ Bộ Tham mưu lữ đoàn dù, trong đó có tên Đại tá Thọ - Lữ đoàn trưởng.

Mấy mươi năm rồi, tôi không nhớ trận đó chiếc xe tăng của chúng tôi đã tiêu diệt bao nhiêu địch, chỉ biết toàn bộ lữ đoàn dù địch hơn một ngàn quân không còn một ổ chống cự nào trên toàn quả đồi. Nhiều lúc nhớ lại, tôi cũng không hiểu sao mình lại có sức khỏe để có thể bắn suốt trong nhiều tiếng đồng hồ liền như thế! Và một điều rất kỳ lạ, hơn 5 tiếng quần nhau với địch, lúc trong xe, lúc ra ngoài chìa lưng ra trời đất mà bắn địch, bốn xung quanh đạn như mưa rào mà tôi không hề bị thương dù là vào phần mềm. Trên lưng xe thì la liệt lựu đạn chưa nổ và đạn các loại.

Chiến tranh có những điều không thể lý giải được. Chỉ riêng điều này, có thể khẳng định, đây là trận đầu tiên xe tăng ta công khai tấn công địch và đã chiến thắng rất oanh liệt, một xe tăng tiêu diệt cả một lữ đoàn dù!

Sau trận đánh đó, về đơn vị, tôi ngủ mê mệt cho đến trưa hôm sau mới tỉnh, người rã rời, khát, mệt. Nhưng chỉ được nghỉ một ngày, ngày 27/2, tôi lại cùng chiếc xe tăng của mình xuất trận. Trận này, địch cũng dùng xe tăng với số lượng lớn. Xe tăng của tôi sau khi bắn hạ 3 chiếc xe tăng của địch cũng đã bị trúng đạn bốc cháy. Tôi bị thương nặng vào chân, vào sườn, lạc vào rừng 10 ngày. Đơn vị cho là đã hy sinh nên tổ chức lễ truy điệu. Rất may, số tôi chưa tận, một đơn vị bộ đội của ta tìm thấy tôi đang sốt hầm hập, vết thương nhiễm trùng sưng húp.

Tôi ra Bắc điều trị vết thương và dự Hội nghị Chiến sỹ quyết thắng toàn quân chủng. Tại Hội nghị, tôi được Chủ tịch nước tặng Huân chương Chiến công hạng nhì, đặc biệt được nhận Huy hiệu Bác Hồ - đây là tấm huy hiệu đầu tiên của quân chủng xe tăng thiết giáp"

Tình người

Đầu năm 1972 , từ chiến trường miền Nam ra, tôi được về an dưỡng tại Đoàn 70-QK4 . Mặc dù được nghỉ ngơi và bồi dưỡng rất tốt trong thời gian ba tháng nhưng sức khỏe của tôi vẫn không đủ tiêu chuẩn để quay lại chiến trường tiếp tục chiến đấu . Đang buồn bã và chán nản vô cùng thì tôi được ban chỉ huy gọi lên giao nhiệm vụ mới . Tôi vừa mừng vừa lo không biết mình sẽ được điều đi đâu và làm gì . Sau một hồi xác định tư tưởng , đại đội trưởng Ngự yêu cầu tôi xuống gặp tài vụ thanh toán để ra Cục Chính trị Quân khu 4 nhận nhiệm vụ mới . Ông ấy không hề nói cho tôi biết nhiệm vụ sắp đến của tôi là làm gì . Nhưng với tôi , được tiếp tục nhận nhiệm vụ là hạnh phúc lắm rồi . Sáng hôm sau , chúng tôi lên đường . Đoàn chúng tôi gồm có năm anh em . Anh Hoa quê ở Quảng bình là người lớn tuổi nhất được phân công làm trưởng đoàn . Còn lại bốn anh em chúng tôi đều sàn sàn tuổi nhau . Tất cả chúng tôi đều là thương binh từ chiến trường và an dưỡng cùng đơn vị nên rất dễ gần gũi và thân thiện . Sau ba ngày hành quân bộ men theo những vùng nông thôn dọc theo phía tây hai tỉnh Hà tĩnh - Nghệ an , chúng tôi đến Nghĩa đàn - một vùng nông trường bát ngát cam và cà phê . Ở đây , chúng tôi được phân công về các trại giam giữ , cải tạo tù hàng binh của quân đội Việt nam cộng hòa bị bắt tại mặt trận Khe sanh - Đường 9 - Nam Lào. Tôi , anh Hoa và Đông được điều về T373 , cách thị trấn Nghĩa đàn 5 cây số . Trại của chúng tôi đóng trong một khu rừng rậm cách xa khu dân cư . Đây là một khu rừng già có rất nhiều cây cổ thụ và nhiều loại thú rừng . Chúng tôi muốn ra khỏi đơn vị phải băng qua một con suối có tên là Khe Ang . Tôi về đây đúng vào mùa khô nên Khe Ang nước không nhiều . Nước ở đây lúc nào cũng trong suốt và mát lạnh . Ở một vài khúc suối , nước chỉ lội đến đầu gối . Khe Ang là nguồn cung cấp nước sinh hoạt hàng ngày cho cả trại chúng tôi . Nhưng nó cũng là một trở ngại rất lớn trong việc đi lại của bộ đội và tù hàng binh mỗi khi có việc phải ra khỏi doanh trại .. Tù binh mà chúng tôi canh giữ chủ yếu là lính thuộc Trung đoàn 57 do đại tá Nguyễn Văn Thọ chỉ huy và một số hàng binh thuộc Trung đoàn 56 của trung tá Phạm Văn Đính bị bắt tại mặt trận Đường 9 - Nam Lào . Mặc dù đã được quán triệt về chính sách tù binh của Nhà nước nhưng tôi đặc biệt có ác cảm với số tù binh thuộc Trung đoàn 57 của đại tá Thọ .Vì Trung đoàn 57 là Trung đoàn cứng cổ nhất . Khi quân Giải phóng tấn công vào tận sào huyệt và bắt sống đại tá Thọ thì lúc đó cả Trung đoàn mới chịu bỏ vũ khí đầu hàng . Mỗi lần tiếp xúc với tù binh để tìm hiểu lai lịch trích ngang , tôi thường hoạnh họe và gắt gỏng vô cớ . Biết như thế là hách dịch và thiếu tôn trọng tù hàng binh nhưng tôi không thể bỏ được tật xấu đó . Vì Mỹ đánh phá miền Bắc vô cùng ác liệt nên cam , cà phê của các nông trường ở miền Tây Nghệ an không thể xuất khẩu được . Cả một rừng cam mênh mông bát ngát , cây nào cũng trĩu quả vàng tươi . Cà phê cũng bạt ngàn vô tận ành nào cành nấy quả ken dày như những chuỗi cườm đá đỏ . Hàng ngày chúng tôi phải dẫn tù binh đi giúp các nông trường thu hoạch và làm sạch cỏ cho gốc cà phê và cam giúp họ. Cam Nghĩa đàn mà người ta quen gọi là cam Vinh ngon nổi tiếng từ lâu . Tù binh của chúng tôi đi thu hoạch cam và thưởng thức cam một tháng mà người nào cũng tăng từ năm đến bảy cân . Thời gian đầu họ còn bóc vỏ để ăn . Nhưng về sau muốn ăn họ chọn gốc cam nào không có hạt , quả phải mọng nước và ngọt . Họ không cần bóc vỏ mà chỉ cần cắt đôi quả cam rồi há miệng vắt lấy nước uống . Một lần đi ngang qua nhóm của thiếu úy Kiệt - lính của đại tá Thọ , tôi bắt gặp anh ta đang ngửa cổ , há miệng và đang vắt những quả cam to vào một cái phễu bằng lá cam để nước cam chảy vào cổ nuốt ừng ực . Sẵn mặc cảm từ lâu và không kìm nổi bực tức , tôi hét lên : - Anh Kiệt đứng nghiêm ! Kiệt giật mình đứng nghiêm và ho sặc sụa vì sặc nước cam .Mặt anh ta tái nhợt trông thật thảm hại . Như để thể hiện vẻ oai phong của mình và để dằn mặt những người khác , tôi ra lệnh cho Kiệt phải ăn bằng hết đống vỏ cam đã vắt hết nước mà nhóm Kiệt đã bỏ ra trong ngày hôm đó . Kiệt năn nỉ xin tôi tha tội nhưng tôi kiên quyết bắt phải ăn hết . Không còn cách gì khác , Kiệt phải nhai ngấu nghiến đống vỏ cam vứt ngổn ngang giữa lô cam vừa làm sạch cỏ . Nhìn anh ta nhai như bò nhai rơm và nghển cổ ra để nuốt cái đống vỏ cam hết nước kia tôi cảm thấy thõa mãn lắm . Tối hôm ấy , Kiệt không ăn cơm mà lẳng lặng đi nằm sớm . Sáng hôm sau , mặt Kiệt hốc hác như người vừa ốm dậy . Có lẽ cả đêm qua , anh ta không ngủ chút nào . Sáng ra , Kiệt không được đi hái cam nữa mà cùng với hai người nữa đi gánh thực phẩm về cho bếp ăn . Tôi lại được phân công đưa tổ của Kiệt đi nhận thực phẩm . Bộ đội cùng đi với tôi là An - nhân viên tiếp phẩm của trại . Chúng tôi phải đi hàng chục cây số đường rừng mới đến được bản của người dân tộc để mua rau quả , thực phẩm . Khi chuẩn bị lội qua Khe Ang để sang bên kia , tôi lại nhớ đến cái tội của Kiệt hôm qua và nghĩ cách trị tội tiếp . Thế là thay vì cởi tất và giày để lội qua khe nước lạnh cóng , tôi bắt Kiệt ghé lưng cõng tôi qua suối .Kiệt không hề phản ứng mà ngoan ngoãn ngồi xuống để tôi ngồi lên lưng . Trưa đến , chúng tôi phải nấu cơm nhờ một gia đình người dân tộc để ăn . Người dân ở đây rất quý bộ đội nhưng lại rất ghét tù binh . Họ bảo rằng vì bọn lính ngụy nên con cái họ phải vào Nam chiến đấu và hy sinh nhiều lắm . Cho nên trong vườn có cây rau , nải chuối hay quả đu đủ họ sẵn sàng cho bộ đội mang về dùng và không chịu nhận tiền. Bữa cơm của chúng tôi được dọn ra . Thức ăn chủ yếu là chuối xanh nấu canh với muối nêm chút mì chính và rau cải luộc chấm muối . Ba tù binh lại còn mang theo ống tre đựng muối sống dầm ớt chỉ thiên mọc hoang mà họ chế biến để làm thức ăn thêm ở trại . Tôi và An nhìn mâm cơm chán ngán không muốn ăn . Ông chủ nhà gọi An ra và bảo : - Nhà mình nuôi nhiều gà lắm nhưng thả lung tung trong rẫy không bắt được . Bộ đội có cách gì bắt được thì bắt một con mà làm thịt . Mình tặng bộ đội đó . An quay sang hỏi tôi có cách gì không ? Tôi bảo An cứ để tôi lo . Tôi là một xạ thủ của đơn vị cũ ở chiến trường nên việc hạ sát một con gà là việc quá dễ đối với tôi . Với lại tôi cũng muốn ra oai để bọn tù binh biết tài bắn súng của một chiến sĩ trẻ trong Quân đội nhân dân Việt nam . Tôi xách khẩu AK báng gấp ra , chọn con gà mái tơ to nhất ngắm bắn . Tiếng súng nổ , con gà cách chỗ tôi ngồi khoảng 25 mét vỗ cánh đành đạch và kêu quang quác . Kiệt chạy lại vồ lấy con gà và tấm tắc : bộ đội giỏi quá , con gà chỉ gãy đúng 2 chân thôi. Con gà được làm thịt và luộc ra trông thật hấp dẫn . Chủ nhà không ăn thịt gà mà chỉ dành cho chúng tôi . Tôi và An ngồi ở phòng khách chén gọn con gà luộc trong khi để mặc Kiệt và hai tù binh kia với mâm cơm canh , rau , muối ớt . Bọn họ ngồi ăn một cách ngon lành . Lúc đầu tôi còn ăn uống dè dặt và cảm thấy mình quá nhỏ nhoi và bủn xỉn . Nhưng nghĩ lại câu chuyện hôm qua của Kiệt và cho rằng bọn họ là tù binh của mình nên tôi ăn một cách ngon lành như không có việc gì xẩy ra . Tháng 10 năm đó , chúng tôi được lệnh đưa tất cả những tù hàng binh trong trại vào thành phố Vinh để tận mắt xem những cầu , cống , bến phà , nhà máy ,trường học và làng mạc đã bị bom Mỹ đánh phá . Họ còn được chúng tôi đưa về thăm quê Bác Hồ ở Nam đàn để chứng kiến cuộc sống giản dị và thanh cao của một vị lãnh tụ mà cả thế giới kính trọng . Chính trong ngôi nhà nhỏ nhắn đơn sơ này tôi nhìn thấy dòng chữ trích lời Bác được viết bằng sơn màu vàng trên nền đỏ tươi : "Đất nước Việt nam là một , dân tộc Việt nam là một . Sông có thể cạn , núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi " . Tự nhiên tôi cảm thấy mình quá ư nhỏ bé và tầm thường . Tôi không xứng đáng để bước vào ngôi nhà thiêng liêng này . Nhớ lại cách đối xử với tù binh trong thời gian qua , tôi đã hoàn toàn đi ngược lại lời dạy của Bác . Tháng ba năm 1973 , tôi có được vinh dự cùng đơn vị đưa tất cả tù binh ở các trại vào sông Thạch hãn - Quảng trị để trao trả theo hiệp định Pa ri đã ký kết . Từ Nghĩa đàn , những đoàn xe của chúng tôi nối đuôi nhau rrầm rập vào nam mù mịt bụi đường đất đỏ . Bộ đội và tù binh ngồi chung xe với nhau . Lòng ai cũng bồi hồi rạo rực xen lẫn sự quyến luyến lạ thường . Vào đến địa điểm tập kết , tất cả chúng tôi sống trong những mái nhà bạt dựng trên bãi cát nóng hầm hập . Ngày nào cũng vậy , bộ đội và tù binh đều chung nhau ăn cơm với bí đỏ , chuối xanh xào . Chúng tôi lại đùa với nhau là thèm món ớt chỉ thiên dầm muối sống. Ngày trao trả bắt đầu , những người bị thương hoặc đau yếu được trao trả đợt đầu . Sau đó mới đến những tù binh khỏe mạnh . Kiệt được xếp danh sách trao trả ngày tiếp theo . Khi đọc đến tên và xếp hàng trao trả , tôi đã ôm chặt lấy Kiệt và thành thật xin lỗi về sự đối xử thiếu tình người của mình trong những ngày qua . Và thật bất ngờ khi đọc tên để phía bên kia tiếp nhận , tất cả 20 người đứng trong hàng đều ngồi cả xuống và đề nghị được ở lại với Cách mạnh mà không chịu về lại bên kia . Mặc dù vệ binh của phía bên kia cầm tay giả vờ dìu đứng lên nhưng thực ra để khống chế anh em lên ca nô để qua sông về với Quốc gia nhưng anh em nhất quyết ở lại . Trước sự chứng kiến của Ủy ban quân sự bốn bên , cuối cùng phía bên kia phải chấp nhận quyền ở lại của anh em . Từ tấm gương của Kiệt và số anh em này mà các đợt trao trả tiếp theo anh em tù hàng binh tự nguyện ở lại với Cách mạng đông vô kể . Họ bảo rằng : nếu quay về bên kia , nhất định họ lại phải cầm súng chống lại nhân dân mình . Và như vậy họ lại có tội với nước , với dân . Họ cám ơn chúng tôi vì chúng tôi đã sinh ra họ lần thứ hai . Ba mươi lăm năm trôi qua , chiến tranh đã lùi vào quá khứ , nhưng mỗi khi nhớ lại sự đối xử của mình với Kiệt và anh em tù binh , tôi cảm thấy thật hổ thẹn với lương tâm vì tôi sống thiếu tình người . Từ đó đến nay tôi cảm thấy ân hận vô cùng . Tôi đã cố gắng tìm gặp lại Kiệt hoặc một ai đó trong số những tù binh đã bị tôi dối xử bất công để nói lời xin lỗi nhưng không sao tìm được . Bài học sống phải có tình người luôn hiển hiện trong tôi . Tôi mãi mãi không bao giờ quên lời dạy của Bác Hồ "Nước Việt nam là một , dân tộc Việt nam là một . Sông có thể cạn , núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi ".

Thứ Hai, 28 tháng 4, 2008

Ký ức Hoàng Sa

Mới rồi, tôi đến Đài thiên văn Phủ Liễn (Kiến An, Hải Phòng), được gặp ông Đậu - một cán bộ khí tượng thuỷ văn kỳ cựu. Trong lúc trò chuyện, ông cho tôi biết hiện còn một người, có lẽ là duy nhất ở nước ta sống đến ngày nay, từng làm việc trên quần đảo Hoàng Sa (tên gọi khác là Paracels). Đó là cụ Nguyễn Đình Dư, sinh năm 1916, quê ở Nghi Hoà, Nghi Lộc, Nghệ An. Giờ muốn tìm cụ, cần qua người cháu ruột là ông Nguyễn Đình Miên - Thanh tra của Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn.

Trở về Hà Nội, tôi lòng vòng đi tìm ông Miên ngay. May mắn là khi đến nhà, ông Miên cũng vừa đón cụ Dư là chú ruột từ nhà người con gái cả về chơi. Cụ Dư tóc bạc phơ cắt ngắn, da đỏ au, đôi mắt tinh anh, đang ngồi trên giường, buông thõng một chân. Tôi ngại cụ lẫn, nói nhỏ với ông Miên, muốn ông ngồi bên để làm rõ thêm câu chuyện. Ông cười bảo, trí nhớ cụ rất tốt, khỏi cần. Cụ cứ rì rầm kể, giọng xứ Nghệ nhỏ nhẹ, có lúc còn cao hứng đọc một lèo hết cả bài thơ dài mấy chục câu do cụ sáng tác từ hồi công tác ở Nha Khí tượng, mà chẳng thiếu, chẳng nhịu từ nào ...

Giáp mặt với chúa đảo

... Năm 1936, tôi đậu Prime Trường Cao Xuân Dục, Vinh, bỏ nhà vào Nam kiếm sống. Mãi đến 1939 mới xin được chân thư ký công nhật ở Sở Thuỷ nông Sài Gòn. Một hôm có ông Nguyễn Xiển là kỹ sư khoa học bên Sở Khí tượng sang xin số liệu. Chúng tôi có quen biết nhau từ trước, do ông là bạn học với người con bà cô tôi bên Pháp. Ông Xiển thấy tôi nói tiếng Pháp lưu loát, liền bảo bên sở của ông đang thiếu người, sang đấy mà xin việc.

Từ năm 1937, Pháp đã xây trên quần đảo Paracels một trạm quan trắc, nằm trong mạng lưới khí tượng toàn Đông Dương. Đang tuổi đôi mươi muốn bay nhảy, biết ngoài ấy cần người, thế là tôi học thêm vài tháng nghề quan trắc thời tiết. Vào đầu năm 1941, tôi được lệnh lên đường. Anh Cáp là bạn thân cùng quê, đang trong Tổ chức Hướng đạo sinh Sài Gòn, tính tình sôi nổi cũng thích sóng gió đại dương, xin được cùng đi với tôi. Từ Sài Gòn ra Tourane (tên gọi ngày ấy của thành phố Đà Nẵng), rồi con tàu nhỏ rẽ sóng ra khơi, sau một ngày đêm, chúng tôi đã cặp đảo Patle thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Quần đảo Hoàng Sa gồm khoảng 30 đảo san hô lớn nhỏ, có đảo chỉ nổi lên khi thuỷ triều cạn ròng. Có 3 đảo lớn Patle, Robert và Boisee là có người ở. Dân đất liền ra đây làm việc theo thời hạn, cứ mỗi tháng lại có tàu ra tiếp tế lương thực, thực phẩm. Tàu chúng tôi cặp vào mạn một cầu tàu đang xây dở trên đảo Patle. Đảo Patle hình trái trứng, đường kính lớn nhất khoảng 700 mét và cao hơn mặt biển lúc lặng sóng là 6 mét. Cư dân trên đảo thời tôi ở gồm 30 lính khố xanh, 30 phu tạp dịch, 1 nhân viên phát tín hiệu vô tuyến, 1 nhân viên khí tượng và 1 phiên dịch. Năm ấy, tôi ra thay người phụ trách khí tượng tên là Trần. Anh này lúc đi đã mang theo một phụ nữ trẻ, nhưng đành phải cho "bồ" về trước, vì trên đảo toàn cánh đàn ông không tiện chút nào.

Chúa đảo đầu tiên tôi gặp tên là Moutshine, là một người Pháp lai, tính tình rất thô bạo hay đánh đập chửi bới lính và phu. Tôi đụng ông ta ngay ngày đầu chân ướt chân ráo ở đảo. Chả là, máy gió tự ghi của trạm khí tượng bị hỏng bộ phận cảm ứng, tôi liền nảy ra sáng kiến tháo cái cầu vai Hướng đạo sinh ba màu xanh, vàng, đỏ của Cáp, kết thành một dải dài cắm lên sân thượng để xem hướng gió. Thấy vậy, Moutshine liền phùng mang, trợn mắt bắt tôi hạ xuống ngay. Tôi không chịu, hắn quát: "Anh đừng quên, ta là chúa đảo". Tôi cũng chơi rắn: "Ông cũng đừng quên, tôi là đại diện cho Sở Khí tượng Đông Dương ở đây!". Hắn hậm hực bỏ đi. Biết thế nào hắn cũng báo về đất liền kể xấu, tôi đánh ngay một bức điện tường trình với "sếp" về tình huống cái máy gió bị hỏng, phải tạm khắc phục như vậy và đã bị chúa đảo gây khó dễ.

Ai ngờ bức điện lại được Giám đốc Khí tượng Đông Dương quan tâm, báo ngay sang Sở Hiến binh. Thế là, một tháng sau, Moutshine có lệnh phải trở về trước thời hạn. Cả đảo ai cũng mừng thầm vì Moutshine vốn được mệnh danh là "bạo chúa". Thay hắn là một người Pháp tính tình nhã nhặn, vui vẻ. Ông ta từng hoạt động trong đoàn Hướng đạo sinh, nên càng dễ hoà hợp với tôi và Cáp.

Thấy nhiều lính và phu đảo hết giờ làm việc là vùi đầu vào đánh bạc, tôi đề xuất với chúa đảo mới, tổ chức cho anh em buổi chiều chơi thể thao, buổi tối sinh hoạt văn nghệ. Chúa đảo đồng ý ngay và giao cho đội khố xanh đứng ra làm việc này. Thế là từ đó trên đảo dẹp được nạn cờ bạc sát phạt nhau. Buổi chiều, lính và phu chia ra hai đội đấu bóng đá ngay sát mép nước, còn tối tối thường vang lên tiếng hát, lời ca cây nhà lá vườn. Tôi biết hầu hết người lao động ở đây mù chữ, liền ngỏ ý muốn dạy thêm cho họ, không ngờ được sự hưởng ứng rất nhiệt tình. Thế là hàng tuần lại có thêm những buổi học văn hoá.

Những thú vui ...

Tôi còn có cái thú là cùng Cáp dành thì giờ rảnh rỗi đi khắp đảo Patle và hai đảo bên cạnh, tìm hiểu lịch sử và thiên nhiên vùng quần đảo. Vào khoảng giữa những năm 30 của thế kỷ XX, người Nhật đã đưa quân ra chiếm quần đảo Paracels nhằm khống chế Đông Dương. Pháp biết mưu thâm của Nhật, liền có đối sách là mượn danh Chính phủ Nam triều đòi lại chủ quyền.

Đầu năm 1937, một sĩ quan Pháp dẫn 50 lính khố xanh đổ bộ lên đảo tuyên bố là thừa lệnh Hoàng đế An Nam tiếp quản Paracels. Phía Nhật không chịu, hai bên định choảng nhau. Điện tới tấp vào đất liền xin chỉ thị, cuối cùng đi đến một thoả thuận: An Nam giữ một phần ba diện tích làm đồn trú bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, phần còn lại cho người Nhật mượn để khai thác phân chim trên đảo (gọi là phốt phát), lính Nhật thì phải rút hết.

Tôi còn được nghe kể, cũng năm 1937 phu đảo Patle đã đào được một bộ xương đàn ông còn đeo cái bài ngà. Đấy là viên quan triều đình Huế trông coi đảo, lâm bệnh nặng, có nguyện vọng an táng tại đây. Đảo có một cái hố đường kính tới 4 mét, không có nước, bên hố có hai cây dừa khô bật gốc và một cái miếu thờ thổ công thổ địa. Người ta bảo đây là cái giếng hứng nước mưa được đào từ thời xa xưa, còn dừa thì do lính đồn trú nhà Nguyễn trồng, gặp cơn bão lớn đã thổi tung gốc. Tôi và Cáp cũng đã nhiều lần sang đảo Robert, nơi có nhiều cây cối nhất và là nơi chăn nuôi bò, lợn, dê, cừu cung cấp thực phẩm tươi sống cho toàn quần đảo.

Đảo này có một cái chòi cao ngất ngưởng, trên đó lính canh ban ngày thì đánh tín hiệu bằng cờ, ban đêm bằng đèn cho đảo Patle. Đảo Boisee ở xa nhất, cách Patle ngót 100 cây số về phía bắc, lớn gấp ba lần đảo Patle. Ngày ấy mấy hòn đảo có người ở đều có rừng, mọc mỗi một loài cây lá to gọi là cây phốt phát. Cây phốt phát nom bề ngoài nó rất yếu ớt, thân khẳng khiu như cây sắn, gỗ lại xốp. Chim biển đậu trắng trên ngọn cây và lớp phân chim từ bao đời tích lại dày tới nửa mét. Mỗi tháng tàu ra tiếp tế, khi trở về người ta không quên chất lên tàu khoảng 200 bao phân chim. Nghe nói, mỗi chuyến như thế chi phí tới 4.000 đồng Đông Dương, chủ tàu mang về mỗi bao phân phốt phát bán được khoảng dăm đồng bạc.

Tôi trở lại Hoàng Sa một lần nữa vào cuối năm 1944, giữa lúc tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến động. Phe Đồng minh ào ạt tấn công phe trục phátxít. Rồi đầu năm 1945 Nhật nhảy vào hất cẳng Pháp ở nước ta, tiếp đến Anh thay mặt Đồng minh vào Nam Bộ giải giáp vũ khí quân Nhật.

Tôi ở trên đảo đã 11 tháng, quá gần hai lần thời hạn quy định. Những ngày tháng tám lịch sử diễn ra trên đất nước ta mà chúng tôi vẫn còn chơ vơ giữa biển khơi. Mấy tháng không có tàu tiếp tế lương thực, có lúc đã phải bắt cá, cua cáy ăn độn cho qua ngày. Trông ngóng mãi rồi cũng có tàu ra, ai ngờ đó là chuyến tàu tiếp tế cuối cùng cho Hoàng Sa thời thuộc Pháp. Người thay tôi tên là Chi, quê gốc Hà Nội.

Về đất liền, tôi được cuốn ngay vào phong trào cách mạng sục sôi. Tôi vào đội du kích quận Tân Bình. Đến ngày Toàn quốc kháng chiến cuối 1946, tình cờ tôi gặp lại Chi người kế nhiệm trên đảo Patle mấy tháng trước. Anh cho biết về một biến cố bất ngờ. Đảo lúc đó bị cô lập, bởi tàu phe Đồng minh kiểm soát trên biển rất gắt gao. Không thể ngồi chờ chết, anh em quyết định đẵn cây đóng bè vượt biển. Chúa đảo ngăn cản, liền bị trói gô ném lên bè. Ông ta van xin mang theo chiếc valy hành lý. Một người chạy vào lấy đại ra một chiếc, về sau mới biết valy tiền bạc của chúa đảo thì để lại, chiếc này toàn đựng toàn đồ nghề và vỏ sò vỏ ốc. May mắn thế nào mà chiếc bè mỏng manh ấy lại vượt được hàng trăm kilômét trùng dương, cặp bến an toàn.

***

Kể xong câu chuyện, cụ Dư bỗng ngồi thừ một lúc, đôi mắt dường như đọng chút nỗi buồn nào đó và nhìn ra xa. Tôi hỏi: "Cụ nhớ Hoàng Sa phải không ạ?". "Quên sao được" - giọng cụ trầm trầm - Hoàng Sa cũng như Trường Sa là phên giậu ngoài biển Đông của đất nước. Con cháu đời đời phải gìn giữ. Năm trước tôi đã viết xong tập "Ký ức Hoàng Sa". Tiếc là để ở nhà, không thì đưa anh xem thử. Ký ức Hoàng Sa - mới ngày nào, mà đã 60 năm trôi qua ..

Quần đảo Hoàng Sa: Lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam

Cách đây đúng 30 năm, giữa lúc nhân dân Việt Nam đang tập trung nỗ lực vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quần đảo Hoàng Sa, lúc này đang do chính quyền Sài Gòn quản lý, đã vì một số lý do nằm ngoài tầm kiểm soát của ta. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn luôn khẳng định Hoàng Sa là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của mình. Bởi vì chủ quyền ấy đã được minh chứng bằng thời gian và lịch sử của nhiều thế kỷ những cư dân và nhà nước Việt Nam đã quản lý và khai thác vùng lãnh thổ trên biển Đông này.

Sự xác lập chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa (cũng như với Trường Sa) được minh chứng không chỉ bằng những tài liệu do người nước ngoài ghi chép như sách Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán viết năm 1696, hay của nhiều tác giả Tây phương như Le Poivre (1749), J.Chaigneau (1816-1819), Teberd (1833), Gutzlaff (1849)...; cũng như những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể liên quan đến hoạt động của các "đội Hoàng Sa" xưa ở cửa biển Sa Kỳ và đảo Lý Sơn (cù lao Ré) nay, mà còn được ghi lại trên nhiều thư tịch trong đó có những văn bản mang tính chất nhà nước của Việt Nam.

Cho dù có một thực tế là, vì nhiều lý do khác nhau, các nguồn tư liệu thành văn của Việt Nam bị mất mát, thì cho đến nay chúng ta vẫn có bằng chứng về chủ quyền của nhà nước Đại Việt (gồm cả Đàng Ngoài của các Chúa Trịnh và Đàng Trong của các Chúa Nguyễn đều lấy danh nghĩa tôn phò nhà Lê) qua Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ Bản Đồ (soạn năm Chính Hoà thứ 7-1686) và sách Phủ Biên Tạp Lục của bác học Lê Quý Đôn (1776).

Tấm bản đồ trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư được vẽ theo bút pháp đương thời với chú rất rõ ràng: "Giữa biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) dài tới 400 dặm... Họ Nguyễn mỗi năm vào cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn...".

Còn bản đồ vẽ trong Toản Tập An Nam Lộ thì ghi chú rất rõ địa danh Bãi Cát Vàng trên biển khơi phía trước của những địa danh trên đất liền như các cửa biển Đại Chiêm, Sa Kỳ, Mỹ Á, phủ Quảng Nghĩa và các huyện Bình Sơn, Chương Nghĩa, Mộ Hoa.

Với sách Phủ Biên Tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn (1776), Hoàng Sa được mô tả kỹ hơn. Năm 1775, Lê Quý Đôn được Chúa Trịnh cử vào vùng đất Phú Xuân nhận chức Hiệp trấn để lo việc bình định hai trấn mới thu hồi được từ Chúa Nguyễn là Thuận Hoá và Quảng Nam.

Sách dành nhiều trang để mô tả về "Đội Hoàng Sa" và "Bắc Hải" của Chúa Nguyễn tổ chức cho dân vùng Tứ Chính, Quảng Ngãi tổ chức thường kỳ việc đến Hoàng Sa để thu lượm các sản vật đem về đất liền. Những tư liệu thu thập tại địa phương xã An Vĩnh (cù lao Ré) còn nói tới "đội Quế hương" cũng là một hình thức tổ chức do dân lập, xin phép nhà nước được ra khai thác ở Hoàng Sa.

Sang thời Nguyễn, kể từ đầu thế kỷ XIX, trong điều kiện nước Việt Nam (dưới triều Gia Long) và Đại Nam (kể từ triều Minh Mạng) đã chấm dứt tình trạng cát cứ và phân tranh, thống nhất quốc gia thì việc quản lý lãnh thổ được ghi chép đầy đủ và lưu trữ tốt hơn. Tấm bản đồ được lập thời Minh Mạng Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ vẽ rất rõ cả một dải lãnh thổ gồm những đảo trên biển Đông được ghi chú là "Vạn Lý Trường Sa" (tên gọi chung cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo quan niệm đương thời).

Hai bộ sách địa lý quan trọng của triều Nguyễn là phần Dư Địa Chí trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (1821) và sách Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833) đều đề cập tới Hoàng Sa trong phần viết về phủ Tư Nghĩa và đều nhất quán với những nội dung của các tài liệu trước, trong đó có hoạt động của các "đội Hoàng Sa".

Bộ chính sử Đại Nam Thực Lục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn liên tục cho đến thập kỷ đầu của thế kỷ XX đều nhiều lần ghi lại các sự kiện liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa như một bộ phận của lãnh thổ quốc gia. Ngay trong phần Tiền Biên, chép về các tiên triều, bộ niên sử này cũng nêu lại những sự kiện từ thời các Chúa Nguyễn.

Một thống kê cho thấy trên bộ sử này, phần chính biên ghi chép cho đến thời điểm in khắc (1848) đã có 11 đoạn ghi chép sự kiện liên quan đến những quần đảo này. Nội dung là việc nhà nước điều cho thuỷ quân và đội Hoàng Sa ra đảo để "xem xét đo đạc thuỷ trình" (quyển 50, 52... đời Gia Long); cử người ra Hoàng Sa "dựng miếu, lập bia, trồng cây", "vẽ bản đồ về hình thế", "cắm bài gỗ dựng dấu mốc chủ quyền" (quyển số 104, 122, 154, 165 đời Minh Mạng).

Ngoài ra còn có các bộ Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (1851) là một bộ điển chế của triều Nguyễn cũng ghi rõ những công việc nhà nước Đại Nam đã thực thi trên lãnh thổ Hoàng Sa. Đặc biệt quý giá là những châu bản của các vị vua triều Nguyễn có liên quan đến Hoàng Sa. Giá trị của những văn bản gốc này là sự thể hiện quyền lực của người đứng đầu quốc gia đối với vùng lãnh thổ này qua lời phê duyệt của nhà vua.

Ví như, phê vào phúc tấu của Bộ Công ngày 12.2 năm Minh Mạng thứ 17 (1836), nhà vua viết: "Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước (ta), rộng 5 tấc, khắc sâu hàng chữ "Năm Bính Thân Minh Mạng thứ 17, họ tên cai đội thuỷ quân phụng mệnh đi đo đạc, cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu"; hay các châu phê về việc thưởng phạt người có công tội khi thực thi trách nhiệm ở Hoàng Sa, đo đạc, vẽ bản đồ v.v...

Cần phải nói lại một lần nữa là trong suốt nhiều thế kỷ liên tục trước đây các tài liệu thư tịch của nhà nước Việt Nam kế thừa nhau và những chứng tích như cầu tàu, trạm khí tượng, hải đăng... của Việt Nam (trước đây do người Pháp sử dụng, khai thác và chính quyền Sài Gòn cũ quản lý) vẫn còn đó, thể hiện chủ quyền lịch sử và thực tiễn đối với quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa.

Giáo sư sử học Dương Trung Quốc
Theo Lao Động


Quần đảo Hoàng Sa

Là một quần đảo san hô nằm trong khoảng vĩ độ 15045'''' Bắc, kinh độ 1110 đến 1130 Đông, án ngữ ngang cửa vào vịnh Bắc Bộ, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi, VN)hơn 120 hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc)khoảng 140 hải lý.


Quần đảo gồm trên 30 hòn đảo, đá, cồn san hô, bãi cát nằm trên một vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng 100 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý, chiếm diện tích biển khoảng 16.000km2. Tổng diện tích phần nổi của đảo Hoàng Sa 10km2.


Lớn nhất là đảo Phú Lâm, rộng khoảng 1,5km2. Các đảo còn lại diện tích nhỏ hơn nhiều

Chiến lược mặt biển của Trung Quốc và vấn đề biển Ðông

Lời nói đầu: Trong vài thập niên gần đây, biển đông (tức biển Nam Trung Quốc hay biển Ðông Nam Á tùy theo từng tác giả) đã trở nên một vấn đề quan trọng trong chính sách của các quốc gia Ðông Á. Tranh chấp quyền sở hữu và khai thác khu vực này đã là một quan tâm hàng đầu của nhiều chính quyền. Nghiên cứu về vai trò kinh tế, quá trình lịch sử của nó đã được nhiều học giả trình bày cặn kẽ, cụ thể là hai cuốn "Ðặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa" của nhóm nghiên cứu sử địa miền Nam Việt Nam trước năm 1975 (được nhà xuất bản Văn Nghệ-Khai Trí tái bản tại hải ngoại năm 1992) và "Ðịa Lý biển Ðông với Hoàng Sa và Trường Sa" của Vũ Hữu San (do Ủy Ban Bảo Vệ Sự Vẹn toàn Lãnh Thổ Việt Nam ấn hành năm 1995). Nhiều học giả nước ngoài cũng có những công trình hoặc nghiên cứu riêng về vùng biển, hoặc đặt chung trong nghiên cứu khu vực, chẳng hạn như Steven J. Hood (Dragons Entangled, Indochina and the China-Vietnam War, M.E. Sharpe Inc. 1992), Peter Kien-hong Yu (A Study of The Pratas, Macclesfield Bank, Paracels, and Spratlys in the South China Sea, Taipei 1988) Phù Tuấn (Nam Hải Tứ Sa quần đảo, Thế Kỷ thư cục Ðài Bắc 1981) ... Ngoài ra còn vô số những bài viết trên báo chí, tập san Việt, Mỹ, Pháp, Hoa ... về biển đông. Có những tài liệu hết sức xác đáng nhưng cũng có nhiều tài liệu không chân thực, điển hình là những tài liệu do Hoa lục hay Hongkong phổ biến.. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về vấn đề biển đông, chúng ta không thể bỏ qua những lập luận từ nhiều góc cạnh khác, nhất là đó là những lập luận mà nhà nước Trung Quốc sử dụng trên bàn cờ chính trị quốc tế.

Những vấn đề liên quan trực tiếp đến biển đông đã được nhiều người đề cập đến. Vì thế chúng tôi chỉ viết rất sơ lược và dành những chi tiết cụ thể đó cho những công trình nghiên cứu sâu rộng hơn, qui mô hơn. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ trình bày khu vực biển đông để gợi ý cho độc giả về tầm quan trọng của nó đối với toàn vùng Ðông Nam Á, nhất là đối với trật tự mới của vùng Thái Bình Dương trong thế kỷ sắp tớị Vai trò chiến lược và an ninh ngày càng đậm nét hơn vai trò kinh tế nhất là đối với Việt Nam chúng ta.

I. Dẫn nhập
Ai cũng biết việc Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam cũng như việc Việt Nam được thu nhận vào Hiệp Hội Các Quốc Gia Ðông Nam Á (ASEAN) không chỉ đơn thuần vì lý do kinh tế. Tái lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam là một dấu hiệu chứng tỏ Hoa Kỳ muốn thiết lập một thế quân bình mới tại Á Châu. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất mà chính quyền Mỹ công khai đưa ra là việc ngăn ngừa chính sách bành trướng của Trung Quốc. Chính sách tàm thực (tằm ăn dâu) của Trung Quốc trong vài thập niên qua đánh dấu một sự chuyển mình lớn trong chiến lược đối ngoại của họ. Nếu Trung Quốc làm chủ biển đông không phải chỉ Việt Nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng mà Philippines, Indonesia, Malaysia, Thailand cũng sẽ bị khống chế. Ðài Loan sẽ bị cô lập và chịu áp lực trầm trọng. Công cuộc vận động để tiến tới một tư thế độc lập của nhân dân Ðài Loan sẽ trở nên gay go hơn. Thêm vào đó, Nhật Bản, Ấn Ðộ, Hoa Kỳ cũng sẽ bị án ngữ và chia cắt, mất hết ảnh hưởng đối với vùng Ðông Nam Á, gây nguy hại cho các kế hoạch mậu dịch và chiến lược ổn định toàn cầu. Chính vì thế, một giải pháp phối hợp nhiều quốc gia để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc không những bảo vệ được mặt biển phía đông của Việt Nam mà còn tạo được sự ổn định trường kỳ cho toàn thể khu vực tây ngạn Thái Bình Dương.

Nhiều phân tích gia đã cho rằng nếu thế kỷ thứ 19 là thế kỷ của các dân tộc vùng Ðại Tây Dương thì khi sang thế kỷ thứ 21, vùng châu Á Thái Bình Dương sẽ trở thành khu vực kinh tế quan trọng hàng đầu của thế giới. Một Ðại Trung Quốc bao gồm Hoa Lục, Ðài Loan, Singapore và các cộng đồng Hoa kiều rải rác khắp thế giới sẽ trở thành một lực lượng kinh tế và chính trị vô cùng mạnh mẽ. Cho nên, đối chiếu với viễn tượng của vài chục năm sắp tới, những phân tích gia chiến lược đều nhìn nhận rằng Trung Quốc không phải chỉ tìm kiếm vai trò siêu cường kinh tế mà còn tìm lại vị trí "thiên triều" của họ trong lịch sử, trong đó các nước chung quanh là thuộc quốc, phải thần phục và triều cống, công nhận tư thế lãnh đạo của họ về mọi mặt.

II. Chiến lược mặt biển của Trung Quốc
Trong thời thượng và trung cổ, Trung Quốc không có một khái niệm rõ rệt về biển cả và chỉ nuôi tham vọng bành trướng trên đất liền. Thời Xuân Thu, Chiến Quốc, người Trung Quốc tưởng rằng nước Tàu là trung tâm thế giới, các nước chung quanh đều man di, mọi rơ Chính vì thế mà họ tự gọi mình là Trung Quốc tức nước ở trung tâm. Hai chữ "thiên hạ" (dưới vòm trời) là nói về những dân tộc sống trong vùng lục địa Trung Quốc và những tiểu quốc chung quanh thần phục nước Tàu. Ở phía đông là biển cả vô tận, chỉ được mô tả trong những truyện thần kỳ, nơi những người phi thường mạo hiểm đi tìm thuốc trường sinh. Việc tìm hiểu những vùng đất bên kia bờ đại dương không mấy ai nghĩ đến. Thảng hoặc có người để tâm nghiên cứu thì phần lớn chỉ là sưu tầm những dật sự hoang đường trong tưởng tượng hơn là mắt thấy tai nghe. Cho nên, những sự kiện đó không đáng tin mà chỉ là một loại tiểu thuyết, dẫu có dựa trên một số yếu tố lịch sử nhưng vẫn chỉ là sản phẩm được hình thành với mục đích giải trí mà thôi.

Trong thời phong kiến, Khổng học được coi là sở học chính thống, tinh thần thương mại bị coi là thấp kém, giới thương nhân đứng sau cùng trong tứ dân sĩ nông công thương. Ðời Hán, Ðường, Tống, Nguyên, thương mại với bên ngoài hầu như không có, cũng chẳng ai nghĩ đến việc tìm hiểu các nước ở xa xôi. Tuy từ đời Ðường, người Tàu đã biết rằng phía bên kia dãy Hi Mã Lạp Sơn có các đế quốc Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập, Ấn Ðộ ... nhưng thời đó Trung Quốc vẫn là khu vực văn minh nhất và các nơi phải đến học hỏi họ chứ họ không phải cất công đi tìm hiểu người khác. Hồi thế kỷ thứ bảy, Tràng An (kinh đô nhà Ðường) là khu vực thị tứ lớn nhất thế giới lúc bấy giờ diện tích hơn ba mươi dặm vuông, hơn hai triệu cư dân, và hàng trăm đền đài tráng lệ. Ở kinh đô, người ta có thể tìm thấy nhiều loại sản phẩm khắp nơi mang đến trong đó có cả đặc sản của Phi Châu, Ấn Ðộ, Java ... Những phú gia có thể mua cả mỹ nữ Tây Dương tóc vàng mắt xanh làm tì thiếp.[1] Tơ lụa và đồ gốm là những sản phẩm quí giá các thương gia nước ngoài đến Trung Quốc mua về. Thời ấy, người Ả Rập và người Ba Tư có những đoàn thương thuyền hùng hậu nhất, qua lại khu vực biển cả từ Ấn Ðộ Dương sang Thái Bình Dương. Tuy nhiên, đối với các vua chúa nước Tàu, đó chẳng qua chỉ là những hình thức triều cống, tỏ lộ sự thần phục và hàng hóa mua về sẽ giúp vào việc "khai hóa" các dân tộc man di. Buôn bán chủ yếu vẫn theo đường bộ ở phía Tây, các đoàn lạc đà đi theo con đường mà người ta gọi là Con Ðường Lụa (Silk Road). Còn đường biển buôn bán các đồ gia vị (Spice Route) không qua đến Tàu mà chỉ đến trung và bắc Việt Nam rồi mới theo đường bộ mà sang Nam Trung Quốc.[2]

Về chiến lược, biển cả được coi như là một chiến lũy thiên nhiên bảo vệ nước Tàu. Thành thử, họ chỉ chú trọng vào việc củng cố một lực lượng bộ và kỵ binh bảo vệ trung nguyên khỏi sự xâm lăng của những bộ lạc du mục. Hầu như đời vua nào cũng phải tiêu pha vào việc xây đắp trường thành, củng cố đồn bót dọc theo biên thùy phía bắc và phía tây. Trong văn chương đời Ðường, đời Tống chúng ta thấy nhắc nhiều đến biên ải, quan tái, phong hỏa (đốt lửa để truyền tin báo động), sa trường (chiến trận trên sa mạc) ... chứ không ai nói đến biển cả. Không khí chiến tranh mà văn nhân, thi sĩ cảm nhận được là gió thổi căm căm, cát bay đá chạy, quân reo ngựa hí chứ không phải sóng vỗ bập bềnh. Nếu có nhắc đến thuyền bè thì là thuyền chạy trên sông và người Trung Quốc chỉ hình dung những trận thủy chiến khốc liệt mà bối cảnh là sông Xích Bích, sông Tiền Ðường ...

Ðến thời nhà Tống, triều đình Trung Quốc bắt đầu quan tâm đến phòng ngự mặt biển, không phải chống xâm lăng mà là đối phó với các toán giặc biển thường ăn cướp các thương thuyền và dân cư duyên hải. Lực lượng tuần phòng đó phối hợp cả quan quân triều đình lẫn thương nhân. Lực lượng hải quân đầu tiên được thành lập từ năm 1132 nhưng chỉ dùng để tuần phòng bờ biển mà thôi. Một trăm năm sau, Tống triều đã có một lực lượng tuần phòng lên đến 20 đoàn thuyền và một lực lượng hơn năm vạn lính. Thế nhưng đó chỉ là hình thức vì đến chín phần mười binh sĩ trên thuyền không chiến đấu được. Năm 1239, khi một viên quan đi xem xét căn cứ hải quân Trấn giang phía đông Nam Kinh trên bờ sông Dương Tử, thấy rằng trong 5000 binh sĩ trú đóng, chỉ có 500 người đủ sức đi thuyền, còn lại là thành phần bất khiển dụng.[3] Chúng ta có thể hiểu được tại sao mỗi khi Nam chinh, quân Tàu luôn luôn bị đại bại trên mặt biển và đường sông ở nước ta. Trung Quốc từ thời trung cổ trở về trước không quan tâm đến biển cả, coi như cương vực định sẵn trên đất là của thiên tử mà dưới bể là của Long Vương. Xâm phạm đến biển cả là gây chuyện với thượng giới. Trái lại, Việt Nam ta lại coi biển cả là một nửa máu huyết của mình (truyền thuyết tiên rồng), tổ quốc bao gồm đất và nước. Văn minh nông nghiệp gắn liền với đất đai và biển cả là đặc tính của Nam phương, trong khi đó miền Bắc vốn là dân du mục giỏi chinh phục trên lưng ngựa. Thời trung cổ, chỉ có người phương Nam mới giỏi về đường thủy (người phương Bắc thiện đi ngựa, người phương Nam giỏi đi thuyền là câu nói của người Trung Quốc). Chính vì thế, trong những cổ vật đào được ở Việt Nam thường có trang trí hình thuyền trong khi tại Trung Quốc thường có những cỗ xe ngựa.

Tuy có ưu thế về hải quân, nhà Tống vẫn không chống nổi quân Nguyên từ phương bắc tràn xuống và đến năm 1279 thì nước Tàu hoàn toàn dưới quyền cai trị của người Mông Cổ. Trong các đẳng cấp mới của triều đình Nguyên, người Tàu ở phương Nam (Nam Nhân) đứng cuối cùng. Trong cùng thứ bậc đó thì sĩ phu Trung Quốc (thứ 9) tuy trên được ăn mày (thứ 10) nhưng đứng sau gái đĩ (thứ 8). Nhà Nguyên chỉ trọng dụng các dân tộc ngoài quan ải, miền Trung Á. Người Trung Quốc phía bắc Hoàng Hà mới được gọi là Hán Nhân (han ren) và được đứng hàng thứ ba.

Trong khi đánh nhau với nhà Tống, quân Mông Cổ đã xây dựng được một lực lượng hải quân hùng hậu và sau đó dùng các đoàn chiến thuyền này đi chinh phục vùng Ðông Nam Á và Nhật Bản. Tuy nhiên đoàn quân bách thắng của họ bị đánh bại ba lần tại Việt Nam (1258-88), hai lần bị bão lớn đánh đắm ngoài khơi Nhật Bản (1281) khi họ rút quân ra khỏi đảo Kyushu và một lần tại Indonesia (1293) khi tiến đánh Java.

Ðến thế kỷ thứ 16, dưới triều Minh, nước Tàu bị nạn cướp biển quấy phá. Những hải tặc đó thường là người Nhật nên được đặt tên là oải khấu (wokou, giặc lùn). Hải tặc không phải chỉ hoạt động dọc theo bờ biển Trung Quốc mà kéo dài từ Triều Tiên xuống đến tận Mã Lai. Và tuy gọi là giặc lùn, thành phần hải tặc bao gồm đủ mọi giống dân ở đông và đông nam Á Châu. Trong những đám giặc lớn có cả những người bất mãn với triều đình, bỏ đi ăn cướp. Thành thử, cả một vùng duyên hải rộng lớn coi như không thuộc quyền kiểm soát của quan quân. Các toán giặc đó cũng hoành hành dọc theo duyên hải nước ta và được gọi là giặc tàu ô vì thuyền của chúng sơn đen. Nhiều võ tướng đã nổi danh vì công trạng dẹp bọn giặc này chẳng hạn như Hoàng đình Bảo, Nguyễn hữu Chỉnh đời Lê, Bùi Viện đời Nguyễn. Vua Quang Trung thu phục chúng để sai sang quấy phá miền nam nước Tàu.[4] Bùi Viện cũng chiêu mộ họ dùng vào việc cải tiến hải quân của nước ta.[5] Gernet Jacques đã nhận định như sau:

Vào thế kỷ thứ 16, hải tặc bành trướng đến một mức độ chưa từng có và nguyên nhân có thể tìm ra được là nó có liên quan trực tiếp đến việc phát triển thương mại trên mặt biển ở Ðông Á, từ Nhật Bản kéo đến Indonesia. Các vua nhà Minh đối phó bằng chính sách ngăn cấm nhưng thiếu liên tục và chặt chẽ chỉ vì quan điểm chiến lược và kinh tế mỗi lúc một khác.
Từ thời vua Thế Tông nhà Minh, cướp bể càng hoành hành, lấy các đảo ngoài khơi làm căn cứ, đói thì vào cướp bóc, bảy tỉnh duyên hải không nơi nào yên.[6] Ðến khi Hồ Tôn Hiến, Tổng Ðốc Chiết Giang ra lệnh cấm dân chúng liên lạc, tiếp ứng cho họ, nạn giặc bể mới suy dần.[7] Thời đó, người Trung Quốc không những không muốn giao thiệp với bên ngoài mà họ còn cấm không cho học ngoại ngữ cũng như dạy tiếng Tàu cho người nước ngoài. Trong khi người Âu Châu phát triển hàng hải và tìm đường chinh phục thuộc địa thì Trung Quốc lại tài giảm hải quân nhất là từ khi đào xong Vận Hà (Grand Canal) năm 1411 và không còn cần đến việc chuyên chở hàng hóa bằng đường biển.

Trong thời nhà Minh, có hai sự kiện quan trọng mà chúng ta cần ghi nhận. Ðó là 7 chuyến viễn hành của Trịnh Hòa và việc chiếm đóng Ðài Loan của Trịnh Thành Công. Hai biến cố đó đánh dấu những bước ngoặt trong đường lối đối phó với mặt biển của triều đình Trung Quốc đồng thời cũng khẳng định là trước thế kỷ thứ 17, người Tàu không quan tâm tới các hải đảo ngoài khơi như họ viện dẫn sau này khi lấn chiếm biển đông.

A. Trịnh Hòa và bảy lần viễn du
Trịnh Hòa vốn tên là Ma He, là con một người Hồi tên là Mohammed Hajji đã theo đoàn quân viễn chinh Mông Cổ xuống sống ở miền Nam nước Trung Quốc (thế kỷ thứ 13). Khi con thứ của vua Hồng Võ (tức Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương) là Chu Lệ được giao cho việc đem quân bình Vân Nam có bắt được một số lớn binh sĩ Mông Cổ và các dân tộc thiểu số người Mèo, người Dao. Ðàn ông bị giết hết, đàn bà đem về làm tì thiếp còn trẻ em và thanh thiếu niên bị thiến để làm hoạn quan hầu hạ trong cung. Một trong những đứa trẻ đó sau được ban Hán tính là Trịnh, Hán danh là Hòa. Khi Chu Lệ cướp được ngôi vua (tức vua Thành Tổ, niên hiệu Vĩnh Lạc chính là người sai Trương Phụ sang chiếm nước ta), Trịnh Hòa được sai đi sứ hải ngoại để tuyên dương oai đức nhà Minh.[8]
Trịnh Hòa đóng một đoàn chiến thuyền lớn để đi xạ Chiếc thuyền lớn nhất được đặt tên là "bảo thuyền", dài 130 thước (tây), cột buồm cao 54 thước. Các thuyền khác trung bình dài 110 thước, cột buồm khoảng 45 thước. Trong chuyến hải hành đầu tiên của Trịnh Hòa, cả thảy gồm 63 chiếc thuyền và 2,780 người.[9]

Có nhiều lý do đưa ra để giải thích về những chuyến đi này. Những sử gia Trung Quốc gần đây coi là những cuộc hải trình nhằm chứng tỏ cho những dân tộc khác thấy được sự cường thịnh và huy hoàng của triều đại nhà Minh. Với quan điểm dùng lịch sử để giải thích một số tiền đề, Trung Quốc lục địa (Trung Quốc) đã hoàn thành nhiều công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của viên thái giám gốc Hồi. Gần đây, một viện nghiên cứu có tên là Viện Nghiên Cứu Trịnh Hòa được thành lập tại Nam Kinh. Những tài liệu họ đưa ra luôn luôn chủ quan, được vận dụng để chứng minh rằng Trung Quốc đã thám hiểm và chinh phục được nhiều vùng đất xa xôi từ thời Trung Cổ.[10] Tuy nhiên, theo những tài liệu, kể cả những văn kiện viết từ thời đó, Trịnh Hòa tuy có đến được nhiều nơi như Mã Lai, Indonesia và có lần sang tận Tích Lan, Ấn Ðộ, Phi Châu nhưng lại không viết gì về các đảo ngoài khơi Việt Nam.[11] Có lẽ trong thời kỳ đó, không ai quan tâm đến một vùng biển đầy sóng gió, hiểm nguy để thám hiểm một khu vực toàn đảo san hô ở giữa đại dương như thế. Trịnh Hòa có đi dọc theo bờ biển Việt Nam, Chiêm Thành, Chân Lạp để trao đổi trầm hương, ngà voi, sừng tê, gỗ mun đem về Trung Quốc, và tặng lại cho thổ dân đồ sứ và tơ lụa.[12] Nếu gặp kháng cự, Trịnh Hòa đem quân bắt vua các tiểu quốc đem về như trường hợp Palembang và Tích Lan. Mỗi khi đổ bộ, Trịnh Hòa xác định ông ta là sứ giả của Hoàng đế Trung Quốc, chúa tể một quốc gia trung tâm mọi nền văn minh và Trung Quốc không tới để chiếm thuộc địa hay ép buộc phải mở cửa giao thương mà chỉ yêu cầu triều cống tỏ ý thần phục.[13]

Một lý do thứ hai có thể đáng tin hơn là vua Thành Tổ sai Trịnh Hòa đi lùng tìm vua Huệ Ðế (tức cháu gọi ông bằng chú, người lên kế vị Chu Nguyên Chương và đã bị ông cướp ngôi) nghe đồn là đã giả dạng làm sư trốn ra nước ngoài.[14] John King Fairbank, học giả lừng danh về Trung Quốc đã nêu ra ba đặc điểm về các cuộc viễn du của Trịnh Hòa:
· Thứ nhất, đây không phải là những cuộc thám hiểm những vùng đất mới mà chỉ là những chuyến viễn hành chính thức do nhà vua sai đi. Trịnh Hòa đi theo những thủy lộ mà thương nhân Ả Rập và Trung Quốc đã đi qua.

· Thứ hai, những chuyến đi đó có tính chất ngoại giao chứ không nhằm mục tiêu thương mại, lại càng không phải đi chinh phục thuộc địa. Họ trao đổi hàng hóa và mang về các đặc sản (trong đó có cả con hươu cao cổ mà họ tưởng rằng một loại kỳ lân) của những vùng xa xôi.

· Thứ ba, sau khi các chuyến du hành chấm dứt vào năm 1433 thì không bao giờ tiếp tục những chuyến đi khác nữa. Ngay cả các tài liệu ghi chép về những chuyến đi này cũng bị viên Binh Bộ Thị Lang hủy đi (vào khoảng 1479) và nhà Minh cấm ngặt người Trung Quốc buôn bán với bên ngoài.[15]

B. Trịnh Thành Công và đảo Ðài Loan
Trước thế kỷ thứ 17, Ðài Loan chưa được công nhận như một phần đất của Trung Quốc. Cho đến cuối đời Minh, Ðài Loan vẫn là một vùng đất không mấy ai biết đến. Bão tố, sóng cả, muỗi mòng ngăn cách thổ dân với đại lục. Cư dân trên đảo lại dữ dằn nên không mấy khi Trung Quốc bè dám ghé vào. Chỉ một số ít lái buôn dạn dĩ mới dám dong thuyền sang trao đổi sừng hươu, da thú đem về bán lấy lời. Ngoài thổ dân chỉ có hải khấu mới dám ở. Trước đó người Bồ Ðào Nha đã ghé qua và đặt cho hòn đảo cái tên Formosa có nghĩa là đẹp đẽ nhưng cũng không dám ở mà chỉ trú ngụ tại Macao, lấy nơi đây làm cơ sở chính ở Ðông Á.[16] Cũng nên nói thêm, theo nghiên cứu của nhóm học giả bản địa Ðài Loan thì thổ dân tại đây vốn thuộc giống Mã Lai đã sống trên hòn đảo này từ nhiều ngàn năm trước. Những di chỉ đào được trên đảo Ðài Loan gần với những di chỉ tìm thấy trong vùng Ðông Nam Á châu và Việt Nam, là những cư dân giỏi đường thủy chiếm cứ vùng biển Nam Á từ xưa.

Ðến năm 1624 thì người Hòa Lan đem quân chiếm hòn đảo và cai trị trong 37 năm. Người Tây Ban Nha chiếm mỏm cực bắc năm 1626 nhưng bị người Hòa Lan đánh bại năm 1642. Năm 1661, một người Trung Quốc lai Nhật là Trịnh Thành Công đánh đuổi được người Hòa Lan. Cha của Trịnh Thành Công là Trịnh Chi Long lưu lạc sang Nhật, lập gia đình với một người đàn bà Nhật ở bên đó. Chi Long làm nghề cướp biển nhưng sau được Minh triều thu phục, phong cho một chức quan. Khi về cộng tác với triều đình, họ Trịnh được chỉ huy một đội hải thuyền, nhưng y vẫn tiếp tục đi ăn cướp nhưng không còn sợ quan quân truy lùng như trước nữa.

Khi quân Thanh tràn vào chiếm trung nguyên, một số tôn thất nhà Minh còn tiếp tục chiến đấu ở miền Nam. Trịnh Thành Công vì phò Minh nên được ban cho họ Chu (tức họ nhà vua) nên người ta thường biết ông ta qua cái tên Quốc Tính Gia (mà người Âu Châu phiên âm thành Koxinga, là cái tên thường thấy trong sách vở). Hạm đội của Trịnh Thành Công tiếp tục đánh nhau với quân Thanh dọc theo bờ biển. Năm 1659, họ Trịnh làm một cuộc phiêu lưu đem quân đánh Nam Kinh nhưng bị đại bại. Khi bị vây rất gắt ở Hạ Môn, Trịnh Thành Công đánh phải liều đem tàn quân phá vòng vây chạy ra biển đánh đuổi người Hòa Lan chiếm lấy đảo Ðài Loan.[17] Ðể ngăn ngừa Trịnh Thành Công quấy phá duyên hải, năm 1661, phụ chính đại thần triều vua Thuận Trị nhà Thanh là Oboi (chữ Hán gọi là Ngao Bái) hạ lệnh cho dân cư phải di dân vào nội địa, cách bờ biển 30 dặm để không cho tiếp ứng được với giặc ngoài biển. Khi vua Khang Hi lên ngôi (1662), nhà Thanh hai lần đem quân đánh Ðài Loan (1664 và 1665) nhưng không thành công. Về sau, Thanh triều cử Thi Lang (Shi Lang), một bộ tướng của Trịnh Chi Long trước đây về hàng, thống lãnh 300 chiến thuyền bình định Ðài Loan. Thi Lang đem quân từ Phúc Kiến tiến ra đánh bại quân họ Trịnh (lúc này Trịnh Thành Công đã chết từ năm 1662, con thứ là Trịnh Khắc Sảng kế nghiệp) ở quần đảo Bành Hồ (Pescadores) hồi đầu tháng 7, 1683 và đến cuối năm thì chiếm được toàn thể đảo Ðài Loan.

Vua Khang Hi khoan hồng không giết binh sĩ của họ Trịnh nhưng di chuyển hết lên mạn bắc để trấn giữ quân Nga đang lăm le tràn xuống. Triều đình đề nghị phá hủy đảo Ðài Loan rồi rút về nhưng Thi Lang khẩn thiết xin cho quân trấn đóng để làm tiền đồn chống giữ người Hòa Lan khỏi đến xâm lăng. Vua Khang Hi đồng ý và kể từ năm 1683, Ðài Loan mới chính thức thuộc về Thanh triều, là một thuộc địa của tỉnh Phúc Kiến.[18]

Tuy nhiên, Thanh triều cũng vẫn giữ nguyên quan niệm từ trước tới nay của Trung Quốc hạn chế việc giao thương, ngại là nếu mở cửa sẽ đem tới rối loạn, tiết lộ tin tức bí mật quốc gia và tiêu hao vàng bạc, gia tăng trộm cướp, tội ác.[19] Tuy lệnh phải cư ngụ cách bờ biển 30 dặm đã bãi bỏ nhưng nhà Thanh vẫn hết sức nghiêm cấm việc giao thiệp với nước ngoài, di cư hay liên lạc với Ðài Loan. Hòn đảo luôn luôn bị nhìn với cặp mắt nghi kỵ, khinh miệt. Thành phần cư dân cũng không được coi ngang hàng với dân chúng trong nội địa. Chính vì thế, nhà Thanh rất dễ dàng nhường lại Ðai Loan để đổi lấy một vài điều kiện trong khi giao thiệp với liệt cường sau này.

Cũng nên nói thêm là họ Trịnh là một trường hợp hết sức bất thường. Trịnh Chi Long khi còn trẻ đã lưu lạc nhiều nơi, theo các giáo sĩ Tây Dương sang cả Manila (Philippines) và là một trong số ít người Trung Quốc thời ấy theo đạo Cơ Ðốc. Trịnh Thành Công mang hai giòng máu Nhật Hoa, là đệ tử một lãnh chúa Tây Ban Nha, đã từng tham dự nhiều cuộc viễn du nên kiến thức hơn hẳn những người bình thường. Ông ta phù Minh chẳng qua chỉ vì muốn dùng chiêu bài đuổi người Mãn Thanh để có thể tự mình lên ngôi hoàng đế. Chính ảnh hưởng của người Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha và Hòa Lan đã khiến cho họ Trịnh có chí hướng xây dựng một giang sơn riêng ngoài mặt biển. Trường hợp Trịnh Thành Công cũng không khác gì Triệu Ðà sang chiếm nước ta lập nên nước Nam Việt (gồm Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc) nhưng không thể vì thế mà đi tới kết luận là hòn đảo Ðài Loan thuộc về Trung Quốc từ cuối đời Minh.

Chi tiết đó quan trọng vì nếu tính ra thì người Trung Quốc chỉ thực sự làm chủ hòn đảo từ năm 1945 tới nay (đứng trên phương diệp chủ quyền vì người Mãn Thanh là một bộ tộc quan ngoại, không phải là một triều đại chính thống của người Hán). Ðặt vấn đề Ðài Loan, người ta sẽ không thể quên quần đảo Ryukyu (Lưu Cầu) cũng ở trong tình trạng tương tự, chỉ mới thuộc về Nhật Bản gần đây, nhưng Trung Quốc úy kị nên không dám nói tới chủ quyền của họ tại khu vực này.[20] René Grousset đã bình luận như sau:

Nỗ lực của ông ta (Trịnh Thành Công) đã khiến cho các sử gia phải hết sức chú ý, vì ông là người đầu tiên thực hiện một công tác mà trước đây chưa hề xảy ra ở nước Trung Quốc. Ðó là đi tìm kiếm thuộc địa theo đường biển. Phải công nhận rằng cuộc phiêu lưu của Trịnh Thành Công đã mở đầu cho một kỷ nguyên đại di cư của người Trung Quốc, mà ngày nay ta thấy con cháu họ ở khắp nơi nơi vùng biển phía nam, từ Cholon đến Singapore, từ Batavia đến Manila và Hawaii. Các cuộc di cư ấy có ý nghĩa hết sức quan trọng mà hậu quả tới nay cũng chưa đo lường hết được.

Một số đông tàn quân nhà Minh và người Trung Quốc tị nạn cũng chạy sang Việt Nam, đáng kể nhất là nhóm của Dương Ngạn Ðịch và Trần Thượng Xuyên đóng góp nhiều vào việc khai phá miền nam nước ta.[21] Cộng đồng người Hoa trở thành những thế lực đáng kể tại các nước Ðông Nam Á bắt đầu từ thời đó.

Sự phát triển chiến lược mặt biển của Trung Quốc
Năm 1985, Ðặng Tiểu Bình nhận định là hai siêu cường Nga Mỹ sẽ bận rộn giữ miếng với nhau nên sẽ không quốc gia nào dám tấn công Trung Quốc ít nhất cũng tới năm 2000. Hơn thế nữa, hai siêu cường còn phải nỗ lực ve vãn Trung Quốc và Trung Quốc phải khai thác triệt để cơ hội đó để một mặt canh tân quốc phòng, một mặt lấn chiếm biển Ðông và o ép Ðài Loan. Trung Quốc tuyên bố là họ phải tăng cường để bảo vệ 18,000 km bờ biển và hơn 3,000,000 km2 vùng biển, một lãnh hải rộng gần bằng 1.3 lãnh thổ của họ. Sự giảm thiểu lực lượng của Hoa Kỳ trong hơn hai thập niên qua gián tiếp thúc đẩy Trung Quốc bành trướng xuống phía Nam. Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing), chỉ huy trưởng hải quân Trung Quốc đã nhận định như sau:
Vai trò quân sự trên mặt biển ngày càng quan trọng và việc đấu tranh giành quyền làm chủ hải vực giữa các siêu cường ngày thêm gay gắt. Chính vì thế, nhiệm vụ chủ yếu của việc gia tăng công tác quốc phòng là xây dựng một lực lượng hải quân hiện đại ngõ hầu ngăn chặn mọi cuộc xâm lăng, bảo vệ quyền ích quốc gia trên mặt biển.[30]
Tuy nhiên, Trung Quốc cũng e ngại là trong giai đoạn này, hải quân của họ chưa có khả năng đối phó với một trận chiến "bất thình lình, nhanh gọn, trên một vùng lãnh hải rộng lớn, xa đại lục đòi hỏi khả năng phối hợp cả ba loại hải lục không quân". Chính vì quan tâm đó, Trung Quốc tập trung nỗ lực vào việc thủ đắc những kỹ thuật quân sự của Liên Xô bằng cách thuê mướn kỹ thuật gia, mua các loại phi cơ tầm xa và nhất là hàng không mẫu hạm. Trung Quốc biết rằng họ rất khó khăn trong việc làm chủ trên không, và không làm chủ trên không thì không thể làm chủ mặt biển. Trước đây, họ e ngại sự can thiệp của hải quân Liên Xô đang trú đóng tại Cam Ranh thì nay họ lại quan tâm đến vai trò của Hoa Kỳ tại Ðông Á nhất là từ khi mối tương quan Mỹ Hoa trở nên căng thẳng khi Hoa Kỳ cho phép Tổng Thống Ðài Loan Lý Ðăng Huy sang dự buổi họp mặt cựu sinh viên Cornell ở New York trong tháng 6, 1995 vừa qua.
Ngày 19 tháng 7, 1995 Trung Quốc thử một hỏa tiễn địa địa (surface-to-surface), có tầm bắn tới tận Hoa Kỳ trong eo biển Ðài Loan mà các bình luận gia cho là để trắc nghiệm khả năng phòng thủ của chính phủ Quốc Dân Ðảng.[31] Trung Quốc cũng công khai kêu gọi sự triệt thoái toàn bộ quân đội Hoa Kỳ ra khỏi khu vực Thái Bình Dương, một việc mà trước đây không hề có. Sự hiện diện của Mỹ ngày nay không còn là một đối trọng với lực lượng của Liên Xô mà đã trở thành một chướng ngại cho việc bành trướng của Tàu. Có lẽ họ muốn xác định một cách không minh thị là Á Châu là khu vực ảnh hưởng (sphere of influence) của Trung Quốc.

Ðó cũng là dấu hiệu Trung Quốc đã chuyển hướng từ cận hải phòng ngự sang cận dương phòng ngự và lăm le tiến hành viễn dương phòng ngự.[32] Nếu quả thực Hoa Kỳ e ngại về khoảng trống quyền lực ở tây ngạn Thái Bình Dương lọt vào tay Trung Quốc, việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam là một dấu hiệu cho thấy người Mỹ đang tìm lại vai trò quân sự của họ mà lâu nay bị nhu cầu kinh tế làm cho lu mờ.

Hải quân Trung Quốc tại biển Ðông
Nam Hải hạm đội của Trung Quốc đảm trách khu vực biển đông, theo nguyên tắc bao gồm cả khu vực Hoàng Sa và Trường Sa. Ðơn vị chủ yếu trú đóng khu vực Quảng Châu, Ðam Giang, Du Lâm có khoảng 700 chiến hạm phần lớn là tàu đổ bộ.

Từ khi bình thường hóa quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc không còn phải tập trung lực lượng phòng thủ biên giới phía bắc nên đã điều động tăng cường binh lực ở đông và đông nam, chuyển hướng phòng ngự chiến lược từ đất liền sang các hải đảo. Trung Quốc cũng gia tăng quân phí lên một lức đáng kể vì ngoài ngân sách quốc phòng (khoảng 6 tỉ năm 1993), họ còn các lợi tức mà các đơn vị sản xuất của quân đội đem lại, kể cả sản xuất hàng tiêu dùng đến mở khách sạn cho thuê (khoảng 6 tỉ nữa). Việc bán vũ khí cũng đem lại một số tiền đáng kể (vào khoảng 2 tỉ dollar năm 1993). Ngân sách nghiên cứu vũ khí chiến lược lại không nằm trong ngân sách quân sự. Vì thế nếu tính tổng số, người ta ước lượng ngân sách thực sự mà Trung Quốc dùng vào việc quốc phòng phải từ 12 đến 24 tỉ dollar.[33] Quan trọng hơn nữa là giá trị tiêu thụ của đồng dollar ở Trung Quốc cao hơn nhiều so với Mỹ hoặc Nhật (nghĩa là một đồng tại Trung Quốc có thể mua được nhiều gấp năm, gấp sáu lần ở Mỹ) nên sự đầu tư vào binh bị của họ rất đáng kể.

Trong công tác hiện đại hóa quân sự, việc tăng cường sức mạnh hải quân được coi như ưu tiên hàng đầu. Các loại võ khí chiến lược mới, khu trục hạm, và chiến hạm có mang đầu đạn nguyên tử đều nhằm mục đích thao túng và chiếm lĩnh biển đông.[34] Chủ điểm của họ là tăng cường tính cơ động và tốc độ phản ứng nên sẵn lòng bỏ tiền mua những loại máy bay và tàu chiến. Năm 1995, Trung Quốc đã mua của Liên Xô hai tàu ngầm và vẫn còn đặt mua thêm một số khác. Họ cũng hết sức tìm cách có được hàng không mẫu hạm, không phải chỉ vì tính chất chiến thuật mà coi đó như một biểu trưng của cường quốc trên biển cả. Hồi cuối thập niên 1980, Trung Quốc đã tháo rời một mẫu hạm cũ của Úc bán theo hàng phế thải để học hỏi và nay đang điều đình với hãng Bazan (là hãng Tây Ban Nha đã bán cho Thái Lan một tiểu mẫu hạm hồi tháng giêng 1996). Thế nhưng Trung Quốc muốn tự mình chế tạo hơn là lệ thuộc kỹ thuật vào nước ngoài.[35]

1. Lực lượng hải quân Trung Quốc tại biển Ðông
Biển đông đối với Trung Quốc là một khu vực quan trọng về mặt chiến lược. Quang Minh Nhật Báo của tỉnh Quảng Ðông đã viết như sau:

Vì nằm giữa Ấn Ðộ Dương và Thái Bình Dương nên Nam Hải là một vùng chiến lược thiết yếu. Nam Hải là cửa ngõ ra thế giới bên ngoài của lục địa và những đảo ngoài khơi của Trung Quốc. Các quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa của ta) nằm giữa thủy lộ nối liền Quảng Ðông, Manila và Singapore nên vị trí địa lý lại càng cực kỳ quan trọng.[36] Việc chiếm cứ các hòn đảo xa xôi này nhằm 3 mục tiêu chính:
· Yểm trợ các công tác tình báo và thực hiện các dự phóng quân sự trên biển và trên không đối với các khu vực lân cận.

· Kiểm soát và yểm trợ ngư nghiệp và các hoạt động gia tăng sản xuất lương thực, khai thác biển cả và thềm lục địa để tìm kiếm khoáng sản và dầu hỏa.

· Sử dụng làm những căn cứ để liên lạc, quan sát khí tượng và báo cáo, tiếp cứu trên không và trên biển, kiểm soát ô nhiễm

2. Thao tác
Hải quân Trung Quốc trong những năm gần đây đã chứng tỏ vai trò làm chủ biển đông của họ bằng những lần thao diễn, một phần chuẩn bị cho việc chiến đấu trên đại dương, mặt khác thị uy với những tiểu quốc. Năm 1980, một lực lượng bao gồm 18 chiến hạm đã thao diễn trên một khu vực 8,000 dặm biển tại Nam Thái Bình Dương, trong đó thí nghiệm các loại hỏa tiễn liên lục địa mà họ mới chế tạọ Paul Kennedy đã tự hỏi là phải chăng đây là lần thứ hai mà Trung Quốc biểu dương lực lượng hải quân kể từ khi hạm đội của Trịnh Hòa diệu võ dương oai hồi thế kỷ thứ 15?[37] Hồi tháng 3 năm 1988, sau cuộc chiến tranh với Việt Nam tại Trường Sa không lâu, tướng Trì Hạo Ðiền, Tổng tham mưu trưởng Hồng quân, đã cùng một số viên chức cao cấp của Trung Quốc đi quan sát các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trong 8 ngày để đưa ra phương lược tại biển đông. Y ra lệnh cho hải quân Trung Quốc tăng cường phòng thủ và giao trọng trách tiếp ứng cho tỉnh Hải Nam một khi có biến.[38] Sau đây là một số diệu võ dương oai trong vài năm qua.
· 5.93 Sán Ðầu (Quảng Châu): tập trận giả đổ bộ.

· 7.93 Nam Hải: thao luyện phương pháp chống võ khí nguyên tử, tấn công chớp nhoáng các mục tiêụ Có sự tham dự của các khu trục hạm và hộ tống hạm cùng chiến hạm trang bị đầu đạn nguyên tử.

· 7.93 Ðông Hải: kế hoạch tác chiến 9320 gồm chiến hạm và khoái đĩnh mang đầu đạn nguyên tử.

· 8.93 khu vực Du Lâm, Hải Nam: phối hợp không quân và hải quân trong kế hoạch mang số 9308. Có sự tham dự của 21 chiến hạm và 5 hải thuyền.

· 7.95 phóng 6 hỏa tiễn cách Ðài Loan 85 dặm về hướng bắc.

· 11.95 tập trận đổ bộ trên một hòn đảo cách Ðài Loan 200 cây số.

· 2.96 thao dợt đại qui mô tại Phúc Kiến, ngang eo biển Ðài Loan.

3.96 phóng 4 hỏa tiễn tầm trung M-9 tại vùng biển Ðài Loan. Trung Quốc cũng thao dợt trong ba ngày, sử dụng tổng cộng 10 chiến hạm và 10 phi cơ. Hoa Kỳ phải gửi hàng không mẫu hạm Independence, tàu phóng hỏa tiễn Bunker Hill, Mc Clusky và chiến hạm Hewitt tới tuần phòng ngăn ngừa Trung Quốc gây hấn.

6. Nhật bản sẽ trám vào chỗ hổng nếu Mỹ từ bỏ sự hiện diện ở khu vực này

Các phân tích gia đã nhận định rằng trong khi các quốc gia Tây phương nhất là khối NATO và các quốc gia thuộc Liên Xô cũ đang tìm đủ mọi cách tài giảm binh bị để dồn nỗ lực vào kinh tế thì các quốc gia Á Châu, nhất là Trung Quốc vẫn cố gắng gia tăng ngân sách quốc phòng. Trung Quốc cũng gia tăng việc bán võ khí cho thế giới thứ ba, gây khó khăn cho Mẽo và các cường quốc trong nỗ lực kiểm soát hỏa tiễn và kỹ thuật quân sự khác. Ðiều đáng nói là Mẽo chỉ có thể kiểm soát được việc bán vũ khí cho Trung Quốc nhưng lại vô phương ngăn chặn việc họ tuôn vũ khí bán ra ngoài.
Kể từ khi Ðông Âu và Liên Xô sụp đổ, Việt Nam không còn có thể theo đuổi một chính sách liên kết với đồng minh ở xa để đối phó với ...gần như trước nữa. Việt Nam bị động và có gắng tìm cách thoát ra khỏi sự cô lập của thế giới bên ngoài cũng như tìm những liên minh mới để thay thế vai trò của Liên Xô. Tuy nhiên, hai bài học của thời kỳ hậu chiến khiến cho Việt Nam hết sức dè dặt trên mặt ngoại giao:
Thứ nhất, họ ý thức được rằng Trung Quốc là một nước lớn ở ngay bên cạnh sườn. Dù hoàn cảnh nào, việc gây hấn với phương bắc không phải là một chiến lược có thể theo đuổi lâu dài. Vì thế, một chính sách mềm dẻo để bảo vệ chủ quyền có lợi hơn là trực diện chống đối. Hơn thế nữa, trong suốt 40 qua, tuy có giai đoạn hai bên công kích và xung đột kịch liệt, Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng của Trung Quốc rất nhiều, từ ý thức chính trị đến tổ chức cơ sở, nhất là hai quốc gia lại có chung một mẫu số văn hóa trong lịch sử. Chính mô hình kinh tế mà họ đang theo đuổi cũng gần giống với Trung Quốc.

Thứ hai, Việt Nam cũng nhìn ra dù hình thức liên minh quân sự nào nều không được hỗ trợ bởi kinh tế cũng không được bền lâu. Những tương quan quốc tế mới gắn liền với những liên hệ kinh tế đa phương. Việt Nam vì thế đã đưa ra nhiều hình thức để tìm đầu tư để lôi kéo các quốc gia tư bản, đặc biệt là Nhật Bản, Âu Châu và nhất là Mẽo. Sự hiện diện của những công ty quốc tế đóng một vai trò quan trọng không những trên mặt chính trị mà cả mặt an ninh khu vực. Việt Nam cũng nhận ra được rằng họ phải đi tìm một hình thức độc lập hơn về quốc phòng, không còn có thể đóng vai trò mũi nhọn của một phong trào nào, mà phải tìm một vị thế chiến lược ổn định chung hơn là ngả hẳn về một siêu cường nào.

Từ sau thế chiến thứ hai tới nay, Mẽo vẫn là quốc gia đảm trách việc giữ gìn an ninh trong vùng. Nếu như hạm đội số 7 rút ra khỏi Thái Bình Dương, việc chạy đua võ trang trên mặt biển giữa Nhật Bản, Trung Quốc, và những quốc gia vùng Ðông Á là điều không thể tránh khỏi. Tình trạng bất ổn sẽ phương hại nghiêm trọng đến sự thịnh vượng chung của toàn vùng. Mẽo cũng còn là cán cân kinh tế và quốc gia nào cũng muốn gia tăng mậu dịch và đầu tư với nước Mỹ. Dẫu rằng khuynh hướng giao dịch giữa các quốc gia trong vùng gia tăng mãnh liệt trong vài năm qua nhưng số lượng xuất cảng ra ngoài vẫn đóng một vai trò quan trọng. Sự có mặt của Mẽo còn là một đối trọng cho ảnh hưởng của Nhật Bản. Hiện nay, Nhật Bản là quốc gia viện trợ và đầu tư nhiều hơn cả. Nếu Mẽo thu lại, Nhật Bản bắt buộc phải tìm cách trám vào chỗ trống mà Mỹ bỏ đi. Như thế, một không khí nghi kỵ sẽ nổi lên e sợ Nhật Bản trở thành một siêu cường quân sự như thời thế chiến thứ hai.

Sau chiến tranh Việt Nam, các chính phủ Mẽo vẫn cố gắng không trực tiếp can thiệp vào khu vực Ðông Nam Á. Ngay cả những công trình nghiên cứu qui mô về khu vực này cũng bị lãng quên. Nhiều học giả ngạc nhiên khi thấy Mỹ gần như không ảnh hưởng gì tới việc phát triển của khu vực này trong hai thập niên qua, ngay cả việc chuyển biến từ một chính sách kinh tế chỉ huy sang kinh tế thị trường tại Việt Nam cũng không do sáng kiến của Mẽo. Thành thử, đối với nhiều chính khách, việc Mẽo bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam hồi tháng 7 năm 1995 là quá sớm nhưng dưới nhãn quan chiến lược và kinh tế thì nhiều chuyên gia lại coi là đã trễ.[54] Nhiều dấu hiện gần đây cho thấy Mẽo trở nên quan tâm đến vùng châu Á Thái Bình Dương hơn châu Âu vì hiện nay vùng này đang phát triển mạnh, sẽ trở thành khu vực nhập cảng hàng của Mỹ nhiều nhất trong thế kỷ kế tiếp.[55] Việt Nam nay cũng được xếp hạng những quốc gia đang lên (big emerging markets) và cũng sẽ là một khách hàng có tiềm năng đáng kể.[56] Thành thử, trên cả quân sự lẫn kinh tế, nước Mỹ cảm thấy họ phải có thái độ tích cực hơn đối với vùng Ðông Á, không những là một lực lượng bảo vệ hòa bình mà còn phải điều chỉnh cán cân lực lượng cho tới khi nào các quốc gia này có đủ sức đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc. Lẽ dĩ nhiên Mẽo cũng không quên rằng họ vẫn là quốc gia xuất cảng nhiều vũ khí hơn cả, trong cũng như sau thời kỳ Chiến Tranh Lạnh và thu nhập quốc phòng đóng một phần quan trọng trong sản lượng quốc gia.

Cho tới gần đây, người Mỹ vẫn nhìn Trung Quốc như một thị trường vĩ đại cần phải ve vãn. Tuy nhiên, nếu nhìn về mặt kinh tế, Trung Quốc có lợi thế nhiều hơn trong bang giao giữa hai nước. Khiếm ngạch mậu dịch giữa Mẽo và Trung Quốc ngày càng tăng và hiện nay hàng hóa của Tàu tràn ngập các cửa hàng bách hóa của Mỹ. Chỉ nhìn thấy những vấn đề trước mắt, Mẽo đã không quan tâm tới hai điểm:

Thứ nhất, Trung Quốc thỏa hiệp với Mỹ hoàn toàn chỉ có tính chất giai đoạn. Dưới mắt của nhân dân Trung Quốc, người Mỹ vẫn là dân tộc đáng ghét nhất, đầy xấu xa, là một kẻ thù cần đề phòng. Hình ảnh chính trị và kinh tế mà người Tàu ngưỡng mộ là Singapore vì đường lối độc tài ở đó phù hợp với lối giải thích của họ hơn nền dân chủ kiểu Tây phương. Cái mơ ước trong tim của những người lãnh đạo Trung Nam Hải là một ngày nào đó họ sẽ dạy cho Mỹ, Nga, Nhật một bài học để trả thù mối nhục lịch sử với các dân tộc đó.[57]

Thứ hai, người Mỹ đã không đặt nặng vai trò của cộng đồng người Hoa ở khắp nơi. Năm mươi lăm triệu người Tàu ở bên ngoài chính quốc sở hữu một tài sản ước tính lên đến 2000 tỉ mỹ kim, kiểm soát một đế quốc vô hình quản trị bằng liên hệ thân tộc ở khắp nơi trên thế giới.[58] Sức mạnh kinh tế của những tập thể đó không những lũng đoạn được các chính quyền địa phương mà còn là một lực đẩy rất mạnh đến những biến chuyển của lục địa. Vận động của Hoa Kiều trong biến cố Thiên An Môn là một thí dụ điển hình. Chính vì thế, việc nâng cấp các tập thể Hoa nhân đó không những phù hợp với chính sách ngoại giao cố hữu của Mẽo mà còn ít nhiều điều khiển được những vệ tinh xoay quanh lục địa Trung Quốc, gây tác động theo hướng thuận lợi nhất. Việc củng cố quan hệ với Ðài Loan, tái tạo uy tín với Singapore cũng như yểm trợ cho khối ASEAN là một điều cần thiết trong lúc này

Phần cuối: Mọi "hải trình" đều đổ về Biển Đông

Có lẽ đến giờ này khi bàn đến thế chiến lược biển Ðông, chúng ta không còn phải đặt trọng tâm vào việc phân định chủ quyền của những quần đảo ngoài khơi nước ta. Lịch sử đã chứng tỏ Việt Nam hoàn toàn làm chủ những hòn đảo đó từ thế kỷ 19 trở về trước. Nếu xét về lý, chính hòn đảo Ðài Loan và quần đảo Bành Hồ cũng chỉ thuộc về Trung Quốc trong vài chục năm nay. Hồi đầu thế kỷ này, chủ quyền những vùng đất đó cũng chưa ai xác định. Những người lãnh đạo của đảng Dân Tiến tại Ðài Loan vẫn tranh luận rằng việc Trung Quốc nhận chủ quyền trên hòn đảo của họ cũng không khác gì người Hồng Mao nhận rằng nước Mỹ là lãnh thổ của nước Anh.
Cho tới 1895, vào cuối cuộc chiến Trung Nhật, khi phải nhường đảo Ðài Loan cho Nhật, những sứ thần nhà Thanh đã gọi đó là "hòn đảo của bọn hải khấu" và nhường cho Nhật "toàn bộ và vô hạn định" cả đảo Ðài Loan lẫn quần đảo Bành Hồ. Tới hồi đó, nhà Thanh vẫn cho rằng việc "thí" cho ngoại nhân một phần đất không có gì quan trọng mà chỉ là "bỏ cái nhỏ để giữ cái lớn" như lời Kỳ Anh tâu lên vua Ðạo Quang khi ký với Anh hòa ước Nam Kinh. Thanh đình cũng khẳng định là "Ðài Loan không thuộc về lãnh thổ Trung Quốc" ý cho rằng đó chỉ là một phiên thuộc, dân chúng mọi rợ không đáng được gọi là Hán nhân.[59] Nhân dân Ðài Loan nay coi cuộc khởi nghĩa ngày mồng 1 tháng 6 năm 1895 chống lại Nhật Bản là hình thức tuyên bố độc lập của "Cộng Hòa Formosa" vì họ đã không quan tâm đến quyết định của triều đình ra lệnh bãi chiến. Chính Mao Trạch Ðông hồi còn tại Diên An cũng tán thành việc Ðài Loan thu hồi độc lập. Năm 1936, Mao đã nói: Nhiệm vụ cấp bách trước mắt của Trung Quốc là thu hồi lại những lãnh thổ đã bị chiếm đoạt. Trong số những lãnh thổ đó, không tính đến Triều Tiên (đang thuộc Nhật) nhưng sẽ nhiệt thành giúp đỡ để họ thu hồi độc lập. Và vấn đề Ðài Loan cũng giống như thế [60]. Việc tiếp thu hòn đảo từ tay Nhật Bản sau thế chiến thứ hai cũng không khác gì việc quân Tàu sang giải giới quân Nhật tại Bắc Việt năm 1945, và không thể vì thế mà hủy bỏ quyền tự quyết của nhân dân Ðài Loan được.[61]

Vấn đề này không phải mới đặt ra gần đây mà ngay từ khi mới bị Quốc Dân Ðảng chiếm đóng, nhân dân Ðài Loan đã biểu tình đòi độc lập và bị chính quyền Tưởng Giới Thạch đàn áp dữ dội trong vụ thảm án ngày 28 tháng 2 năm 1947 mà lịch sử gọi là "nhị nhị bát sự kiện"[62]

Do đó theo lịch sử, Trung Quốc rất ít liên hệ với các hòn đảo ngoài khơi. Ngay cả chủ quyền của họ trên đảo Hải Nam cũng chỉ mới từ thời trung cổ. Thành ra việc tuyên bố quyền sở hữu trên toàn thể biển đông đến tận Mã Lai và Indonesia là chuyện hoàn toàn vô căn cứ. Những học giả nào tương đối vô tư một chút đều công nhận như thế. Debra E. Soled nói rõ là việc xác nhận chủ quyền chính thức thì Trung Quốc chỉ mới bắt đầu có từ hồi 1970, khi Nhân Dân Giải Phóng Quân bắt đầu trắc địa và thăm dò quần đảo Hoàng Sa. Hành động của Trung Quốc không phải nhằm xác định chủ quyền mà chỉ chứng tỏ họ đang theo đuổi chính sách bành trướng (expansionism) và ngay cả chủ trương tân đế quốc (neo-imperialism)[63]

Một học giả Nhật là Giang Hộ Hùng Giới trong tác phẩm Sự sụp đổ của Trung Quốc cũng viết:
Nếu xét theo mặt địa dư, công bình mà nói, quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa) gần Việt Nam hơn cả. Thứ đến mới tới Brunei, Mã Lai và Philippines, dù nói cách nào cũng không thể nói là thuộc lãnh thổ Trung Quốc được.[64]
Tuy nhiên, giờ phút này, vấn đề chúng ta quan tâm không phải là lý mà là tình hình thực tế tại khu vực Ðông Nam Á để nhận định về những biến chuyển sắp tới có liên quan đến an ninh và vận mệnh dân tộc Việt Nam.

Thứ nhất, chủ trương bành trướng của Trung Quốc tuy có lắng xuống trong vòng 100 năm (từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20) nhưng thực ra chỉ vì họ suy yếu không đủ sức thôn tính những quốc gia láng giềng. Thế nhưng từ sau khi nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc được thành lập năm 1949 tới nay, Trung Quốc đã nhiều lần tranh chấp với Liên Xô, Ấn Ðộ, Việt Nam, Nhật Bản về vấn đề lãnh thổ. Riêng với Việt Nam, ngoài việc lấn chiếm một số quận huyện dọc theo biên thùy phía Bắc của nước ta, Trung Quốc còn chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa. Việc tái chiếm các phần đất này trở nên gay go hơn bao giờ hết vì hiện nay Việt Nam chưa tạo được những liên minh vững chắc cũng như không đủ lực lượng để “đối thoại” vớii Trung Quốc. Chính vì thế, ngoài việc phản kháng trên phương diện ngoại giao và yêu cầu áp dụng các nguyên tắc quốc tế và điều đình, Việt Nam chỉ còn cách củng cố lực lượng nơi những phần còn lại để tự vệ mà thôi. Sự hiện diện của lực lượng hải quân Hoa Kỳ tại Ðông Nam Á trở thành tối cần thiết để cân bằng lực lượng, làm rào cản Trung Quốc đồng thời ngăn chặn việc Nhật Bản tái võ trang và nhảy vào trám chỗ trống về quân sự.

Thứ hai, Việt Nam hiện đóng một vai trò quan trọng trong Hiệp Hội các quốc gia Ðông Nam Á (ASEAN), làm lá chắn cho toàn vùng khỏi sự xâm lăng của Trung Quốc. Ngay từ cuối thập niên 1970, Indonesia đã mong muốn Việt Nam có đủ tư cách để đứng chung trong khối này.[65] Sau khi Hoa Kỳ từ bỏ các căn cứ ở Philippines, nhiều quốc gia đã bằng lòng cho Mỹ mượn các hải cảng của mình để sử dụng. Vấn đề an ninh chung đã trở nên quan trọng và các lãnh tụ khối ASEAN đã đưa lên bàn hội nghị để tìm những liên minh quân sự ngõ hầu đối phó với các cuộc xâm lăng. Những quốc gia trong vùng Ðông Nam Á không còn trông đợi ở "ô dù" của người Mỹ và đã phải tự mình đảm trách nhiệm vụ bảo vệ lấy mình. Về phương diện địa dư, nằm ngay trên trục lộ bành trướng của Trung Quốc, Việt Nam sẽ phải đảm trách một vai trò chủ yếu trong việc giữ gìn an ninh khu vực miễn là họ không chứng tỏ ý muốn thôn tính một nước khác hay đóng vai trò tiền phong cho một chủ nghĩa nào. Chính vì nhận thức được vai trò đó, Việt Nam đang tìm cách liên kết chặt chẽ hơn với các quốc gia trong khối ASEAN, tìm kiếm sự giúp đỡ cũa Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản để phát triển đồng thời hòa hoãn được với Trung Quốc.

Thứ ba, việc Trung Quốc tìm cách liên kết với Pakistan, Sri Lanka, Myanmar trong vài năm qua đã gây nên sự ngờ vực từ phía Ấn Ðộ và Indonesia, e ngại Trung Quốc đang tìm cách khống chế cả vùng Ấn Ðộ Dương. Theo báo chí, Trung Quốc đã bán nhiều loại võ khí cho Pakistan và Myanmar và kỹ thuật nguyên tử cho Iran.[66] Rõ ràng Trung Quốc không muốn đứng chung trong một phe phái nào mà muốn tự mình lãnh đạo một khối riêng như thế tam phân thiên hạ mà Mao Trạch Ðông đã theo đuổi. J. Mohan Malik đã nhận định rằng "trong trường kỳ thì Trung Quốc tin rằng với sức mạnh quân sự và kinh tế họ sẽ chiếm chỗ của Hoa Kỳ, còn trong đoản kỳ thì Trung Quốc tự cho mình vai trò lãnh đạo một khối thách đố vai trò chí tôn của nước Mỹ.[67]" Tuy nhiên, vấn đề của Trung Quốc không phải vì ý thức hệ mà vì bản chất hiếu chiến của những người cầm quyền ở Trung Nam Hải, cộng thêm sách lược tinh vi của chủ nghĩa .... Nếu quả thực như thế, vấn đề khống chế toàn vùng Ðông Nam Á không những có lợi cho mặt kinh tế và quân sự mà đó chính là bước đầu tiên tạo một khu vực ảnh hưởng để tranh thiên hạ với các siêu cường khác. Âu Châu ngày nay đang tàn lụi, Mỹ Châu cũng đã qua thời kỳ vinh quang của họ và Liên Xô hiện nay tập trung vào việc giải quyết những vấn đề nội bộ hơn là tiếp tục chính sách bành trường thời thập niên 1960, 1970. Ðể sửa soạn cho thế đi lên của mình, Trung Quốc không thể không chinh phục một số thuộc địa để bảo đảm cho một thị trường căn bản.
Người ta biết rằng trong vòng vài mươi năm nữa, khi thị trường Bắc Mỹ không còn quan trọng như hiện nay, bất cứ quốc gia nào lấy chủ trương xuất cảng để phát triển đều phải bảo đảm được rằng hàng hóa của mình có chỗ tiêu thụ. Khối ASEAN phải đứng chung lại với nhau dù còn nhiều bất đồng về chính kiến và chênh lệch về mực độ phát triển. Thế nhưng nếu đứng riêng rẽ, họ sẽ bị bẻ gẫy từng nước một như một bó đũa để rời.

Sự đứng chung đó đã tạo nên một vị trí mới. Trung Quốc đã bằng lòng giải quyết vấn đề biển đông theo tinh thần quốc tế công pháp chứ không còn khăng khăng đòi nói chuyện riêng với từng nước như trước nữa. Mặc dù Trung Quốc vẫn khẳng định biển đông là hoàn toàn của họ nhưng họ đã đồng ý để khai thác chung, lấy lý do tôn trọng hải đạo và an ninh trong vùng.[68] Lẽ dĩ nhiên, trong tình hình hiện tại Trung Quốc chưa đủ sức đương đầu với mọi lực lượng trong vùng nhất là bên cạnh còn có Mỹ và Nhật mà họ chưa đo lường được phản ứng ra sao. Ai cũng biết rằng vấn đề chỉ tạm ổn trong một giai đoạn và cuộc chạy đua về kinh tế cũng như quân sự không thể ngừng lại nơi đây. Trong giai đoạn này, Việt Nam không đủ sức để đơn phương đòi lại phần lãnh thổ và lãnh hải bị mất. Liên minh hàng ngang với các quốc gia Ðông Nam Á, với Ðài Loan, với Nhật Bản làm thế nương tựa là một việc cần thiết để làm chậm bước tiến của Trung Quốc. Sự hiện diện của Hoa Kỳ, nhu cầu phát triển địa bàn sản xuất và tìm kiếm nguyên liệu của Nhật Bản, sự có mặt của hải quân Nga đều là những nút chặn khả dĩ tài giảm bước chân của người không lồ phương bắc.

Lẽ dĩ nhiên, không một quốc gia nào - kể cả Mỹ - lại công khai đưa ra một thách thức đối với Trung Quốc, nhưng thế chiến lược mới không phải chỉ là đắp đập be bờ như 40 năm trước mà là tạo nên những thế ràng buộc chặt chẽ về kinh tế và chính trị khiến không một quốc gia nào dám vọng động làm chuyện phiêu lưu. Trong tình hình hiện tại, Việt Nam cũng như những quốc gia chung quanh cần ổn định chính trị để phát triển kinh tế. Chính phát triển kinh tế sẽ đưa tới chuyển biến chính trị một cách tương đối thuận lợi và ôn hòa. Có lẽ không lúc nào mà kế sách giữ nước của Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn đáng cho chúng ta suy gẫm như hiện nay. Nếu quả thực muốn bảo vệ bờ cõi, cái thế mà chính quyền phải hướng tới là "tùy cơ ứng biến, dùng binh phải đồng lòng như cha con một nhà thì mới có thể đánh được. Cách ấy cốt phải tự lúc bình thì khoan sức cho dân, để làm kế sâu rễ bền gốc...". Thế nhưng, điều tiên quyết cho một phương thức đồng thuận là một chính quyền của dân, do dân và vì dân.

Trường Sa

Từ cuối năm 1986, một tàu dưới dạng đánh cá, không số của nước ngoài đến vùng biển Đông, đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu biển xuống phía Nam, tăng số lần tàu chiến, tàu vận tải hoạt động trinh sát, thăm dò ở khu vực Trường Sa. Đặc biệt là từ ngày 24 đến 30 tháng 12 năm 1986, máy bay và tàu chiến của nước ngoài tiến hành các hoạt động trinh sát từ đảo Song Tử Tây đến khu vực đảo Thuyền Chài, gây nên tình hình căng thẳng về tranh chấp chủ quyền vùng biển của Việt Nam.

Ngày 31 tháng 12 năm 1986, một nước trong khu vực Đông Nam Á đưa lực lượng chiếm bãi Kỳ Vân, uy hiếp các đảo khác gần đảo Thuyền Chài. Đầu năm 1987, nước ngoài đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao và tăng cường đưa tàu chiến đi lại gần khu vực đảo Thuyền Chài. Tiếp đó, trong năm 1987, tàu Hải Dương 4 và một số tàu của nước ngoài tiến hành trinh sát phần lớn các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, trong đó có cả những đảo ta đang giữ; đặt bia kỷ niệm ở đảo Ma-i-xi-ti, huy động tàu qua lại khu vực các đảo An Bang, Thuyền Chài, Trường Sa, Trường Sa Đông, Song Tử Tây, có lúc chỉ cách ta khoảng một hải lý; đồng thời tăng cường các hoạt động trinh sát, xâm nhập, khai thác trái phép tài nguyên vào sâu vùng nội thủy của ta. Tàu nước ngoài đưa lực lượng chiếm giữ hai đảo Kỳ Vân và Kiệu Ngựa ở phía nam quần đảo Trường Sa. Có nước tăng cường lực lượng củng cố các đảo đang chiếm giữ và đưa thêm lực lượng đến vận chuyển xây dựng kiên cố ở Song Tử Tây, Loại Ta và một số đảo khác, gây tình hình căng thẳng ở khu vực quần đảo Trường Sa.

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị và Đảng ủy Quân sự Trung ương đã chỉ thị cho Quân chủng Hải quân đưa lực lượng ra củng cố, giữ vững các đảo đang chốt giữ, tăng cường thế phòng thủ các đảo theo từng cụm, từng khu vực, bảo đảm khi có chiến sự xảy ra có thể chi viện hỗ trợ kịp thời giữ vững đảo; đưa lực lượng đóng giữ một số bãi ngầm mới trong khu vực quần đảo Trường Sa. Tiếp đó, Bộ Chính trị, Đảng ủy quân sự Trung ương ra nghị quyết về việc quyết tâm bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trước mắt là quần đảo Trường Sa, là nhiệm vụ khẩn trương, quyết liệt, lâu dài, là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; khôngchỉ riêng của lực lượng vũ trang, mà các cấp, các ngành, địa phương có liên quan cũng phải đóng góp tích cực.

Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra chỉ thị giao nhiệm vụ cho Quân chủng Hải quân phải bảo vệ các đảo của ta, đặc biệt là không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ quần đảo Trường Sa, bao gồm cả việc củng cố và xây dựng thêm các công trình chiến đấu và bảo đảm trong sinh hoạt; đồng thời đưa lực lượng ra đóng các bãi đá cạn. Trước mắt đưa lực lượng ra đóng giữ Đá Tây, Chữ Thập, Đá Lớn, Tiên Nữ; khai thác và phát huy mọi khả năng của các lực lượng vũ trang, các ngành, các địa phương để chi viện từ bờ ra đảo xa. Nếu tàu nước ngoài xâm phạm đảo, hoặc dùng vũ lực uy hiếp thì đánh trả và tỉnh táo, không bị khiêu khích

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, ngày 12 tháng 1 năm 1987, Đảng ủy Quân chủng họp đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ trong năm 1986 và đề ra nhiệm vụ công tác năm 1987. Nhận định về tình hình trên biển, Đảng ủy Quân chủng nêu rõ: Tất cả các khu vực biển tình hình vẫn căng thẳng phức tạp, vẫn diễn ra các hoạt động xâm nhập, trinh sát của tàu nước ngoài tranh chấp chủ quyền tài nguyên, gây tình hình căng thẳng, có thể dẫn đến xung đột vũ trang đánh chiếm, hoặc tập kích vào các đảo, căn cứ trên đất liền, nhất là quần đảo Trường Sa. Toàn quân chủng phải đề cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao, đối phó hiệu quả mọi tình huống, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn xâm phạm trái phép, bảo vệ chủ quyền vùng biển và hải đảo của Tố quốc.

Ngày 24 tháng 10 năm 1987, Tư lệnh Hải quân ra mệnh lệnh chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cho lực lượng bảo vệ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, tránh âm mưu khiêu khích của tàu nước ngoài; đồng thời chỉ thị cho các Lữ đoàn 125 chuẩn bị tàu, pông-tông sẵn sàng đưa lực lượng ra Trường Sa, chuyển các tàu của Lữ đoàn 172 vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu, cơ động ra phía trước và Trung đoàn 83 chuẩn bị lực lượng, phương tiện, sẵn sàng cơ động đến xây dựng đảo.

Những tháng cuối năm 1987, Quân chủng điều chuyển một số tàu thuộc các Lữ đoàn 146, 125 đưa bộ đội đến tăng cường lực lượng đóng giữ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Ngày 28 tháng 10, tàu 613 đưa một phân đội chiến đấu thuộc Lữ đoàn 146, một trung đội công binh, do đồng chí Nguyễn Trung Cảng, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy ra đóng giữ đảo Đá Tây. Do sóng to gió lớn, gặp khó khăn trong xây dựng công sự chốt giữ, nên sau một thời gian, tàu 613 chở bộ đội về Cam Ranh. Ngày 2 tháng 12 năm 1987, tàu HQ 604 thuộc Lữ đoàn 125 đưa bộ đội cùng vật liệu đến xây nhà cấp 3 ở đảo Đá Tây. Sau một thời gian lao động khẩn trương, cán bộ, chiến sĩ đã hoàn thành khu nhà ở, nhà trực, tổ chức canh gác, bảo vệ đảo.

Cùng thời gian này, Quân chủng tăng cường lực lượng xây dựng thế trận phòng thủ trên các đảo và vùng biển phía Nam. Quân chủng tăng cường thêm phương tiện choVùng 4 hải quân, bảo vệ vị trí neo đậu cho tàu thuyền tại khu vực giàn khoan. Hàng ngày, thường duy trì 2 tàu bảo vệ khu vực khai thác dầu khí, xua đuổi tàu lạ, bảo vệ an toàn cho công tác thăm dò khai thác dầu khí. Thực hiện kế hoạch phối hợp hiệp đồng trong hoạt động bảo vệ biển đảo ở khu vực phía Nam do Bộ Tổng Tham mưu đề ra, Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ đạo; Sở chỉ huy Quân chủng hiệp đồng với Quân chủng Không quân tổ chức nhiều chuyến bay biển quan sát, nắm tình hình hiệp đồng với Đặc khuVũng Tàu - Côn Đảo, Quân khu 7 xây dựng và thực hiện kế hoạch bảo vệ khai thác dầu khí. Hoạt động tuần tiễu ở khu vực giàn khoan của Hải quân lúc cao nhất có 6 tàu của Lữ đoàn 171 và Hải đoàn 129. Một số tàu đánh cá đến hoạt động trái phép ở khu vực thềm lục địa, hoặc tàu lạ xuất hiện đã bị hải quân ta ngăn chặn, xua đuổi, bảo vệ an toàn khu vực tài nguyên thuộc chủ quyền vùng biển của Việt Nam.

Theo dõi chặt chẽ mọi diễn biến trên biển và khu vực quần đảo Trường Sa, ngày 9 tháng 1 năm 1988, Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Hải quân nước ngoài sẽ tiến hành các hoạt động quân sự tranh chấp chủ quyền hải đảo chiếm một số bãi san hô nổi hoặc chìm khi nước lên, xen kẽ với các đảo của ta. Các nước ngoài có thể tranh chấp thêm các đảo kể cả khi có xung đột với nhau. Cũng có nước có thể chiếm đóng một số đảo nằm giữa Kỳ Vân và Ri-gân. Cuộc tranh chấp các đảo đang trở thành nguy cơ trực tiếp đe dọa Việt Nam và các nước trong khu vực. Ở Bắc Bộ, nước ngoài có thể triển khai thêm khu vực khai thác dầu khí, sử dụng không quân và hải quân bảo vệ gây tình hình căng thẳng ở khu vực này. Ở vịnh Thái Lan, Hải quân Mỹ thường xuyên qua lại có thể hỗ trợ cho hải quân Thái Lan mở rộng hoạt động, gây mất ổn định, uy hiếp chủ quyền vùng biển, hải đảo của ta ở phía Nam.

Trên cơ sở nhận định, đánh giá tình hình, Đảng ủy Quân chủng đề ra chủ trương: Tranh thủ thời gian, triệt để triển khai lực lượng đóng giữ trên các đảo. Không để nước ngoài thực hiện ý đồ cho lực lượng đóng xen kẽ với ta, hoàn thành việc đóng giữ các đảo trong ba năm (1988-1990). Trong năm 1988, triển khai lực lượng đóng giữ phải hết sức bí mật, đóng đảo nào, bảo đảm phòng thủ tốt trên đảo đó. Đồng thời tăng cường số lần hoạt động tuần tiễu, bảo vệ vịnh Bắc Bộ, vùng biển Tây Nam. Bảo vệ vùng biển, hải đảo trong biển Đông trở thành vấn đề chiến lược của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó Hải quân nhân dân là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân bảo vệ chủ quyền vùng biển, hải đảo của Tổ quốc. Đảng ủy Quân chủng xác định: "Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và cũng là vinh dự của Quân chủng".

Thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy Quân chủng, Bộ Tư lệnh Hải quân lệnh cho lực lượng tàu, bộ đội công binh và lực lượng của cơ quan chuyển vào Cam Ranh, sẵn sàng đưa bộ đội ra đóng giữ đảo. Bộ Tư lệnh Hải quân chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của trên, sáng tạo, bình tĩnh, dũng cảm và kiên quyết phối hợp với các lực lượng khác đấu tranh cả về chính trị, ngoại giao, quân sự, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển hải đảo và thềm lục địa của Tổ quốc, không để chiến tranh lan rộng ra khắp quần đảo, chỉ đạo cơ quan Bộ Tham mưu, các cục Chính trị, Hậu cần, Kỹ thuật và các đơn vị làm tốt công tác tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, chỉ đạo và thực hiện tốt việc di chuyển cơ quan, Sở chỉ huy Quân chủng, củng cố duy trì nền nếp công tác của bộ phận còn lại ở phía Bắc (Sở chỉ huy hậu phương),chỉ đạo triển khai tăng cường thông tin liên lạc ở Cam Ranh, thành phố Hồ Chí Minh, quần đảo Trường Sa, chú trọng mạng thông tin hiệp đồng quân binh chủng, chỉ đạo bảo đảm hàng hải, thả phao tiêu đánh dấu luồng lạch ở Trường Sa, chỉ đạo công tác vật tư tài chính công binh bảo đảm hoàn thành kế hoạch xây dựng công trình, công sự chiến đấu, thiết bị chiến trường ở quần đảo Trường Sa, chỉ đạo công tác tuyển quân, nắm chắc số, chất lượng phương tiện chiến đấu, đề xuất xin và đóng mới phương tiện và bảo đảm quân số cho lực lượng tàu chiến đấu, lực lượng đóng quân trên đảo; chỉ đạo tăng cường công tác nắm địch, tăng thêm phương tiện, lực lượng nắm địch, chỉ đạo công tác tuyển quân và huấn luyện chiến đấu.

Ngày 22 tháng 1 năm 1988, nước ngoài đưa 4 tàu gồm: hộ vệ tên lửa, tuần dương, tàu dầu, tàu đổ bộ và một số tàu khác đến chiếm đóng đảo Chữ Thập. Tiếp đó, nước ngoài đưa một lực lượng lớn gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 khu trục tên lửa, 4 tàu bảo đảm đậu xung quanh đảo, khống chế không cho tàu thuyền các nước qua lại để bảo vệ đảo Chữ Thập. Hải quân nước ngoài còn tổ chức ba cụm tuyến hoạt động gồm: Cụm phía sau lấy Hoàng Sa làm căn cứ thường xuyên có tàu hộ vệ pháo, hộ vệ tên lửa, khu trục tên lửa, tuần dương, các tàu ngầm và tàu hộ tống nhằm ngăn cản, uy hiếp lực lượng tàu hải quân ta hoạt động ở vịnh Bắc Bộ, gây khó khăn cho ta trong việc triển khai hoạt động bảo vệ vùng biển phía Nam; cụm ngăn chặn lực lượng hải quân ta ở đông bán đảo Cam Ranh, Cù Lao Thu và cụm Chữ Thập âm mưu khống chế ta ở khu vực Trường Sa, nếu có thời cơ phát triển lực lượng xuống khu vực phía Nam.

Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Hải quân, ngày 23 tháng 1 năm 1988, tàu 613 thuộc Vùng 4 hải quân chở lực lượng và vật liệu ra đảo Tiên Nữ. Sau hai ngày vật lộn với sóng to, gió lớn, tàu đến Tiên Nữ. Phương châm xây dựng là làm đến đâu chắc đến đó. Đầu tháng 2 năm 1988, cán bộ, chiến sĩ trên đảo hoàn thành nhà ở cấp 3, nơi sinh hoạt, bếp ăn và triển khai phương án sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đảo.

Ngày 27 tháng 1 năm 1988, tàu HQ-611 và tàu HQ-712, do đồng chí Công Phán, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 làm biên đội trưởng, đồng chí Nguyễn Thế Dân, Phó tham mưu trưởng Vùng 4 hải quân làm biên đội phó, chỉ huy 1 đại đội công binh và 2 khung đảo của Lữ đoàn 146 đến đóng giữ đảo Chữ Thập. Ngày 29 tháng 1, tàu bị hỏng máy phải dừng lại sửa chữa, đồng chí Nguyễn Thế Dân chuyển sang tàu HQ-07 thuộc Lữ đoàn 171 đi làm nhiệm vụ bảo vệ đảo Đá Lớn. Đồng chí Công Phán ở lại, sau khi tàu sửa chữa xong tiếp tục chỉ huy biên đội tiến về phía đảo Chữ Thập. Sáng ngày 30 tháng 1, khi cách đảo 5 hải lý, thì phát hiện 4 tàu chiến đấu của nước ngoài, gồm 2 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo ra ngăn cản, có lúc chỉ cách 300m, không cho tiếp cận đảo, tàu đành phải quay về Trường Sa Đông, không thực hiện được việc đóng giữ đảo Chữ Thập như kế hoạch đề ra.

Ngày 4 tháng 2 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Nước ngoài đã cho quân đóng trên đảo Chữ Thập, trước mắt ta chưa đóng xen kẽ vì họ ngăn chặn ta từ xa. Họ có thể mở rộng phạm vi chiếm đóng sang các đảo Châu Viên, Đá Đông, Đá Nam, Tốc Tan và đóng xen kẽ những bãi đá ta đang đóng giữ. Do đó, ta phải nhanh chóng đưa lực lượng ra đóng giữ Đá Lát, Đá Lớn, Châu Viên. Thực hiện Nghị quyết của Thường vụ Đảng ủy Quân chủng, Tư lệnh Hải quân điện cho biên đội tàu 611 và 712 đang neo đậu ở đảo Trường Sa Đông đưa bộ đội đến đóng giữ đảo Đá Lớn trước 3 giờ ngày 5 tháng 2 năm 1988. Tình hình nhiệm vụ của Quân chủng ở quần đảo trường Sa khẩn trương, cấp bách. Được sự đồng ý của trên, Quân chủng thành lập Sở chỉ huy tiền phương tại Cam Ranh, do đồng chí Giáp Văn Cương làm Tư lệnh kiêm tư lệnh Vùng 4. Các cơ quan: tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật đều tổ chức các bộ phận tiền phương của ngành để kịp thời giải quyết mọi mặt theo yêu cầu đóng giữ, bảo vệ Trường Sa và DKI. Cục Kỹ thuật đã chỉ đạo các nhà máy, xưởng trạm, kho tàng lập các tổ đội sửa chữa động thường trực tại các khu vực Cam Ranh, Nha Trang, Đà Nẵng, Vũng Tàu và bám theo tàu thuyền các đơn vị để sửa chữa, bảo đảm kỹ thuật cho các hoạt động đóng giữ, bảo vệ các đảo và căn cứ.

Chấp hành mệnh lệnh của Tư lệnh Hải quân, tàu 611 và tàu 712 đưa lực lượng công binh và bộ đội của Lữ đoàn 146 đến đảo Đá Lát. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Công Phán, bộ đội phân chia lực lượng thành 3 tổ chiến đấu canh gác; đồng thời tổ chức lực lượng làm nhà cấp 3. Đến ngày 20 tháng 2, lực lượng công binh được sự hỗ trợ của lực lượng đóng giữ đảo hoàn thành nhà và bàn giao cho lực lượng bảo vệ đảo.

Trong khi đó, ở hướng Đá Lớn, ngày 13 tháng 2, thực hiện nhiệm vụ Tư lệnh Hải quân giao, Lữ đoàn 125 cho tàu 505 kéo tàu LCU 556 cùng bộ phận làm nhà cao chân đóng giữ đảo Đá Lớn. trong khi ta đang tiến về phía đảo, thì phát hiện tàu khu trục và hai tàu hộ vệ tên lửa của nước ngoài cũng tiến về phía Đá Lớn. Khi ta cách Đá Lớn khoảng 4 hải lý, tàu nước ngoài thả thủy lôi ngăn cản, uy hiếp ta. Trước tình hình đó, ban chỉ huy tàu 505 họp nhận định: nước ngoài chưa biết ý đồ của ta đưa lực lượng ra đóng giữ đảo, việc thị uy không liên quan đến hành trình, ta cứ cho tàu chạy theo hướng đã định. Tàu 505 bình tĩnh, khôn khéo đưa tàu LCU 556 tiếp tục tiến về phía bắc đảo. Ngày 20 tháng 2, sau khi quan sát thăm dò luồng, tàu 556 tiến vào phía nam đảo an toàn. Cùng thời gian này, tàu Đại lãnh của công ty trục vớt cứu hộ Sài Gòn kéo tàu HQ-582 và pông-tông Đ02 đi Đá Lớn. Ngày 27 tháng 2, tàu xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 1 tháng 3, pông-tông Đ02 vào đến vị trí phía bắc đảo Đá Lớn. Cán bộ, chiến sĩ trên pông-tông Đ02 và lực lượng trên tàu LCU đã đến triển khai lực lượng, xây dựng thế trận phòng thủ bảo vệ đảo Đá Lớn.

Tháng 2 năm 1988, nước ngoài tăng thêm 4 tàu hộ vệ tên lửa, hộ vệ pháo xuống hoạt động ở khu vực quần đảo Trường Sa, gây tình hình hết sức căng thẳng. Ngày 18 tháng 2, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp đề ra chủ trương: "Ta phải kiên quyết đóng nhanh, đóng đồng thời tất cả các đảo đã có kế hoạch. Nếu cần có thể dùng mọi loại tàu để ủi bãi, không làm như vậy sẽ không kịp ngăn chặn nước ngoài tiếp tục mở rộng phạm vi chiếm đóng thêm".

Lúc này nhiệm vụ đóng giữ đảo của cán bộ, chiến sĩ các Lữ đoàn 146, 125 và Trung đoàn công binh 83 ngày càngtrở nên quyết liệt. trung tuần tháng 2 năm 1988, thực hiện mệnh lệnh của Sở chỉ huy Quân chủng, Lữ đoàn 125 đưa pông-tông 7 ra giữ Tốc Tan. Trong khi đó, tại Đá Đông, một đảo chìm rộng giữ vị trí quan trọng trong quần đảo, Sở chỉ huy Quân chủng lệnh cho tàu 661 đưa lực lượng ra cắm cờ, canh gác; đồng thời lệnh cho tàu 605 chở vật liệu, bộ đội chốt giữ đảo của Lữ đoàn 146 và lực lượng công binh của Trung đoàn 83 ra xây dựng, bảo vệ. Trong bối cảnh hải quân nước ngoài có thể khiêu khích ngăn chặn, song các tàu của ta đã bình tĩnh vượt qua sóng gió đưa bộ đội và vật liệu đến đảo an toàn. Nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tàu, đảo, công binh, công việc triển khai xây dựng nhà, công sự đã hoàn thành theo đúng kế hoạch, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật. Ta triển khai lực lượng bảo vệ đảo. Các tàu 605, 604 tiếp tục ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài Đá Đông. Như vậy đến tháng 3 năm 1988, lực lượng Hải quân ta đã triển khai xây dựng xong thế trận phòng thủ trên các đảo Đá Lát, Đá Đông, Tốc Tan, Tiên Nữ và Đá Lớn, đưa tổng số đảo đóng giữ của ta lên 16, trong đó gồm 9 đảo nổi, 7 đảo chìm.

Trong những tháng đầu năm 1988, nước ngoài cho quân chiếm đóng một số bãi đá thuộc khu vực quần đảo Trường Sa. Trước tình hình đó, ngày 4 tháng 3 năm 1988, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Nước ngoài đã cho quân chiếm giữ Chữ Thập, Châu viên, Ga ven, Xu Bi, Huy Gơ. Ta xây dựng thế trận phòng thủ ở các đảo Tiên Nữ, Đá Lát, Đá Lớn, Đá Đông, Tốc Tan, bước đầu ngăn chặn được hành động mở rộng phạm vi chiếm đóng của hải quân nước ngoài ra các đảo lân cận. Song đối phương có thể chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và đông kinh tuyến 115 độ

Căn cứ vào tình hình xung quanh khu vực Trường Sa, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng xác định: Gạc Ma giữ vị trí quan trọng, nếu để hải quân nước ngoài chiếm giữ sẽ khống chế đường qua lại của ta tiếp tế, bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa. Vì vậy, Thường vụ Đảng ủy Quân chủng hạ quyết tâm đóng giữ các đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, khẩn trương, bởi trong cùng một lúc hải quân ta phải triển khai đóng giữ cả 3 đảo trong điều kiện phương tiện, trang bị của ta cũ, thô sơ, lực lượng hạn chế. Thường vụ Đảng ủy Quân chủng giao cho Lữ đoàn 125 cử lực lượng thực hiện nhiệm vụ này.

Trong khi đó, hải quân nước ngoài sau khi chiếm giữ trái phép Chữ Thập, Châu viên, Huy Gơ, Ga Ven và Xu Bi cũng đang ý đồ chiếm giữ ba đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao nhằm gây thanh thế ở khu vực Trường Sa và trên biển Đông. Đầu tháng 3 năm 1988, nước ngoài huy động lực lượng của 2 hạm đội xuống khu vực quần đảo Trường Sa, tăng số tàu hoạt động ở đây thường xuyên có từ 9 đến 12 tàu chiến gồm: khu trục tên lửa, 7 tàu hộ vệ tên lửa, 2 tàu hộ vệ pháo, 2 tàu đổ bộ; tàu hỗ trợ gồm 3 tàu vận tải LSM, tàu đo đạc, tàu kéo và một pông-tông lớn. Việc nước ngoài đưa một lực lượng lớn tàu chiến, tàu vận tải đến hoạt động đã gây nên tình hình căng thẳng ở khu vực quần đảoTrường Sa.

Trước tình hình đó, ngày 31 tháng 3 năm 1988, Tư lệnh Hải quân lệnh cho Vùng 4, Lữ đoàn 125, Lữ đoàn 146; các hải đội 131, 132, 134 của Lữ đoàn 172 chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao; đồng thời lệnh cho Vùng 1, Vùng 3 và Lữ đoàn 125 ở Hải phòng chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu tăng cường. Bộ Tư lệnh Hải quân điều động 41 tàu thuyền và phương tiện nổi của Lữ đoàn 125, Cục Kinh tế, Vùng 1, Vùng 3, Vùng 5, Trường sĩ quan Hải quân, Nhà máy Ba Son, X51 tiếp nhận 3 tàu của nhà nước, 3 tàu của Tổng cục Hậu cần và 2 tàu của Quân khu 5 đến phối thuộc hoạt động khi cần thiết.

Thực hiện quyết tâm của Thường vụ Đảng ủy Quân chủng, ngày 12 tháng 3 năm 1988 tàu 605 (Lữ đoàn 125) do đồng chí Lê Lệnh Sơn làm thuyền trưởng được lệnh từ Đá Đông đến đóng giữ đảo Len Đao trước 6 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1988. Sau 29 giờ hành quân bí mật, khẩn trương vượt qua sóng to, gió lớn, tàu 605 đến Len Đao lúc 5 giờ ngày 14 tháng 3 và cắm cờ Tổ quốc trên đảo, khẳng định chủ quyền và quyết tâm bảo vệ đảo của bộ đội ta.

Thực hiện nhiệm vụ đóng giữ các đảo Gạc Ma và Cô Lin, 9 giờ ngày 13 tháng 3 năm 1988, tàu HQ-604 do đồng chí Vũ Phi Trừ làm thuyền trưởng và tàu HQ-505 do đồng chí Vũ Huy Lễ làm thuyền trưởng được lệnh từ đảo Đá Lớn tiến về phía Gạc Ma, Cô Lin. Phối hợp với hai tàu 604 và 505 có 2 phân đội công binh (70 người) thuộc Trung đoàn 83, bốn tổ chiến đấu (22 người) thuộc Lữ đoàn 146, do đồng chí Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng chỉ huy và 4 chiến sĩ đo đạc của Đoàn đo đạc và biên vẽ bản đồ (Bộ Tổng Tham mưu). Sau khi hai tàu của ta thả neo được 30 phút, tàu hộ vệ của nước ngoài từ Huy Gơ chạy về phía Gạc Ma, có lúc cách ta 500m. 17 giờ ngày 13 tháng 3, tàu nước ngoài áp sát tàu 604 ta và dùng loa gọi sang khiêu khích. Bị tàu nước ngoài uy hiếp, cán bộ, chiến sĩ hai tàu 604 và 505 động viên nhau giữ vững quyết tâm không để mắc mưu, kiên trì neo giữ quanh đảo. Tàu chiến đấu của nước ngoài cùng 1 tàu hộ vệ, 2 tàu vận tải thay nhau cơ động, chạy quanh đảo Gạc Ma.

Trước tình hình căng thẳng do hải quân nước ngoài gây ra, lúc 21 giờ ngày 13 tháng 3, Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị cho các đồng chí Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Vũ Phi Trừ chỉ huy bộ đội quyết giữ vững các đảo Gạc Ma, Cô Lin. Tiếp đó, Bộ Tư lệnh Hải quân chỉ thị: Khẩn trương thả xuồng máy, xuồng nhôm, chuyển vật liệu làm nhà lên đảo ngay trong đêm ngày 13 tháng 3. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Hải quân, tàu 604 cùng lực lượng công binh Trung đoàn 83 chuyển vật liệu lên đảo Gạc Ma, tiếp đó, lực lượng của Lữ đoàn 146 bí mật đổ bộ, cắm cờ Tổ quốc và triển khai 4 tổ bảo vệ đảo.

Lúc này, nước ngoài điều thêm 2 tàu hộ vệ trang bị pháo 100mm đến hỗ trợ tàu có từ trước khiêu khích đe dọa ta rút khỏi đảo Gạc Ma. Ban chỉ huy tàu 604 họp nhận định tàu nước ngoài có thể dùng vũ lực can thiệp và quyết định chỉ huy bộ đội bình tĩnh xử trí, thống nhất thực hiện theo phương án tác chiến đề ra, quyết tâm bảo vệ Gạc Ma.

6 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1988, đối phương thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo tiến về phía cờ ta đang tung bay. Dựa vào thế đông quân, đối phương tiến vào giật cờ ta. Lập tức, thiếu úy Trần Văn Phương, hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội anh dũng giành lại cờ. Binh lính của đối phương đã dùng lưỡi lê đâm và bắn nguyễn Văn Lanh bị thương. Thiếu úy Trần Văn Phương xông vào cứu, bị đối phương bắn, đã anh dũng hy sinh. Trước lúc hy sinh, Trần Văn Phương đã hô: "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân”. Sự hy sinh anh dũng của Trần Văn Phương đã nêu tấm gương sáng cho các đơn vị noi theo, quyết tâm chiến đấu, bảo vệ hải đảo của Tố quốc.

Không uy hiếp được bộ đội ta rút khỏi đảo, 7 giờ 30 phút ngày 14 tháng 3, đồi phương dùng hai tàu bắn pháo 100mm vào tàu 604, làm tàu ta bị hỏng nặng. Đối phương cho quân xông về phía tàu ta. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ đã bình tĩnh chỉ huy bộ đội trên tàu sử dụng các loại súng AK, RPĐ, B40, B41 đánh trả quyết liệt, buộc binh lính đối phương phải nhảy xuống biển trở về tàu của họ. Trận đánh diễn ra mỗi lúc quyết liệt. Các đồng chí Trần Đức Thông, Vũ Phi Trừ vừa chỉ huy bộ đội chiến đấu, vừa tổ chức băng bó, cứu chữa thương binh và hỗ trợ các chiến sĩ bảo vệ cờ. Đối phương tiếp tục nã đạn, làm tàu ta bị thủng nhiều lỗ và hỏng nặng chìm dần xuống biển. Đồng chí Vũ Phi Trừ, thuyền trưởng; đồng chí Trần Đức Thông, Phó Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146 cùng một số cán bộ, chiến sĩ tàu đã anh dũng hy sinh cùng tàu 604 ở khu vực đảo Gạc Ma.

Tại đảo Cô Lin, 6 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1988, tàu HQ-505 đã cắm 2 lá cờ trên đảo. Khi tàu 604 của ta bị chìm, đồng chí Vũ Huy Lễ, thuyền trưởng tàu 505 ra lệnh nhổ neo cho tàu ủi bãi. Phát hiện tàu 505 của ta đang cơ động lên bãi, hai tàu của đối phương quay sang tiến công tàu 505. Bất chấp hiểm nguy, tàu 505 chạy hết tốc độ, trườn lên được hai phần ba thân tàu thì bốc cháy. 8 giờ 15 phút ngày 14 tháng 3, bộ đội tàu 505 vừa triển khai lực lượng dập lửa cứu tàu, bảo vệ đảo, vừa đưa xuồng đến cứu vớt cán bộ, chiến sĩ tàu 604 bị chìm. Tàu HQ-505 bị bốc cháy. Cán bộ, chiến sĩ của tàu dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, bảo vệ chủ quyền đảo Cô Lin.

Ở hướng đảo Len Đao, 8 giờ 20 phút ngày 14 tháng 3, tàu của đối phương bắn mãnh liệt vào tàu HQ-605 của ta. Tàu 605 bị bốc cháy và chìm lúc 6 giờ ngày 15 tháng 3. Cán bộ, chiến sĩ của tàu dìu nhau bơi về đảo Sinh Tồn an toàn.

Như vậy, trước tình hình hải quân nước ngoài gây ra những vụ khiêu khích quân sự ở xung quanh khu vực Quần đảo Trường Sa, Bộ Tư lệnh Hải quân đã chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị dũng cảm chiến đấu bảo vệ Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao; đồng thời triển khai lực lượng đóng giữ các đảo khác, giữ vững chủ quyền quần đảo, vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Trong trận chiến đấu ngày 14 tháng 3 năm 1988, ta bị tổn thất: 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 đồng chí hy sinh, 11 đồng chí bị thương, 70 đồng chí bị mất tích. [1. Sau này, đối phương trao trả ta 9 đồng chí, còn 61 người mất tích.]

Mặc dù so sánh lực lượng chênh lệch, phương tiện, vũ khí hạn chế, cán bộ và chiến sĩ hải quân đã chiến đấu dũng cảm, bảo vệ chủ quyền hải đảo của Tổ quốc. Các đơn vị hải quân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Bộ Chính trị, Đảng ủy quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng giao phó. Với chiến công oanh liệt, tàu HQ-505 được Nhà nướctuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Các đồng chí Vũ Phi Trừ, Trần Đức Thông, Vũ Huy Lễ, Nguyễn Văn Lanh, Trần Văn Phương được truy tặng và phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Hàng chục tập thể và cá nhân được tặng thưởng huân chương Quân công, huân chương chiến công các loại.

Ngày 7 tháng 5 năm 1988, tại lễ kỷ niệm 33 năm ngày thành lập Hải quân nhân dân, Đại tướng Lê Đức Anh, ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Đảng ủy quân sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến thăm cán bộ, chiến sĩ trên quần đảo Trường Sa. Đại tướng biểu dương: "Hải quân đã tích cực, kiên trì thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị, mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng về bảo vệ quần đảo Trường Sa. Mặc dù có nhiều khó khăn, song đã nỗ lực thực hiện nhiệm vụ được giao".Tại cuộc mít tinh ở đảo Trường Sa, Đại tướng phát biểu nhấn mạnh: "Nhân kỷ niệm ngày thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam trên đảo chính của quần đảo Trường Sa, có mặt đông đủ các Tổng cục, các quân chủng, đại biểu tỉnh Phú Khánh (nay là Phú Yên, Khánh Hoà), chúng ta xin thề trước hương hồn của Tổ tiên ta, trước hương hồn của cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, xin hứa trước đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau: Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu của chúng ta, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta". [1. Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam (1955-1995) - Biên niên sự kiện, Sđd, tr. 251

Nhằm tăng cường khả năng xây dựng, bảo vệ Quần đảo Trường Sa - DK1, từ năm 1987 Quân chủng được Bộ Tổng Tham mưu điều chuyển bổ sung hàng chục xe tăng T54, K63-85, hàng chục khẩu súng pháo (chủ yếu là ĐKZ, pháo 85mm và 37mm), tiếp nhận hàng chục tấn vũ khí, đạn. Năm 1988, Nhà nước, Bộ Quốc phòng tiếp tục tăng cường vũ khí trang bị kỹ thuật cho Hải quân như pháo D30, 122mm, 23mm, tên lửa phòng không, súng phóng lựu AGF... để Quân chủng trang bị cho các đảo. Nhà nước điều các tàu Sông Thao, Hạ Long 01, Bạch Đằng 18 cho Hải quân. Liên Xô viện trợ cho ta 1 tàu kéo 3000CV, 1 tàu nước 1300CV, 6200m xích neo, 38 neo lớn... Chính phủ đã quyết định cấp cho Quân chủng 1.150 tấn thép, 20 tấn tôn múi, 1.450 tấn xi măng, 700 m3 gỗ tròn, 3,5 tấn que hàn, 4 xe Kpan, 1 xe xúc, 2 xe cần cẩu (quyết định số 26). Tiếp theo Chính phủ quyết định cấp cho Quân chủng 4.000 tấn thép, 50 tấn tôn mạ, 20 tấn cát, thép, 178 tấn que hàn, 1.080 tấn xi măng (M500), 5.000 tấn xi măng (M300),1 500 tấn xăng dầu, 200 bộ săm lốp, 1.262m3 gỗ, 2.500m vải bạt,... cùng một số vật tư khác để Quân chủng đẩy mạnh công tác đóng 10 pông-tông, làm 12 nhà cấp 2 cho các đảo chìm. Chính phủ còn huy động 6 pông-tông của Bộ Giao thông vận tải, giao cho Bộ Giao thông vận tải thiết kế xây dựng cầu tàu ở đảo Trường Sa, lắp pin mặt trời cho các điểm đảo cùng một số bộ vi-đê-ô cát-xét (video casset) cho bộ đội ở đảo. Cùng với các quyết định của trên, Chính phủ, Bộ Quốc phòng giao cho Quân chủng Hải quân ký hợp đồng với các nhà máy đóng tàu: Bạch Đằng, Hạ Long để đóng tàu vận tải 1.000 tấn - 980CV, những tàu này trang bị cho Lữ đoàn 125. Được tăng cường vũ khí trang bị kỹ thuật, nhất là tàu thuyền, súng pháo,... khả năng sức mạnh chiến đấu của hải quân được củng cố. Đây là cơ sở bảo đảm cho Quân chủng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đóng giữ, bảo vệ quần đảo Trường Sa - DK1. Hoạt động của Quân chủng đã thu hút được sự quan tâm của quân và dân cả nước đều vì Trường Sa, hết lòng chi viện sức người, sức của cho Trường Sa.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và Chỉ thị của Ban Bí Thư Trung ương Đảng, theo đề nghị của Bộ Tư lệnh Hải quân, từ tháng 6 năm 1988, các tỉnh Quảng Nam -Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Quảng Ninh, Bình. Trị - Thiên, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hải phòng và Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo, mỗi địa phương đảm nhận làm nhà cấp 1 ở đảo. Theo kế hoạch, tháng 8 năm 1988, các tỉnh Bình - Trị - Thiên, Nghĩa Bình, Quảng Nam - Đà Nẵng đã hoàn thành xây nhà ở các đảo Đá Nam, Đá Lớn, Tốc Tan. Các địa phương khác do triển khai chậm bị ảnh hưởng thời tiết nên hoàn thành chậm. Bộ Tư lệnh công binh phải triển khai làm 8 khung nhà cấp 2, cử cán bộ kỹ thuật, lực lượng thi công ra xây dựng ở hai đảo Đá Tây và Đá Thị. Còn hai đảo Cô Lin và Len Đao, do Quân chủng Hải quân đảm nhiệm xây dựng nhà cấp 2 khung nhà sắt do Bộ Tư lệnh công binh thiết kế. Đến cuối tháng 8 năm 1988, ta đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng các loại nhà cấp 1, 2, 3, nâng tổng số lên 21 đảo và bãi đá ngầm với 32 điểm đóng giữ, hình thành 5 cụm đảo; đồng thời tập trung củng cố cơ sở bảo đảm ở các đảo trung tâm của từng cụm gồm: Song Tử, Nam Yết, Trường Sa, Phan Vinh, Thuyền Chài. Các đảo được tăng cường quân số, hỏa lực, công trình phòng thủ, tạo thành thế chiến đấu liên hoàn từng cụm đảo trong thế trận phòng thủ chung, góp phần bảo vệ sự toàn vẹn chủ quyền vùng biển, thềm lục địa và vùng kinh tế đặc quyền của Tổ quốc.

Để tăng cường khả năng phòng thủ, sẵn sàng chiến đấu thực hiện ý định, chủ trương của Bộ Quốc phòng, tháng 9 năm 1988 Quân chủng hiệp đồng với Quân chủng phòng không - Không quân và lực lượng vũ trang Quân khu 5 luyện tập trên vùng biển từ Khánh Hòa đến BìnhThuận. Qua diễn tập (có bắn đạn thật) đã đúc rút được nhiều vấn đề quan trọng về chiến thuật, kỹ thuật. Cũng qua thực hiện nhiệm vụ, Xưởng Ba Son, X51 được Nhà nước tặng thưởng huân chương chiến công hạng nhất, Z753 được tặng thưởng huân chương chiến công hạng nhì do lập được nhiều thành tích xuất sắc trong bảo vệ Trường Sa và DK1. Trong khi tập trung cho nhiệm vụ bảo vệ Trường Sa và DK1, ngành kỹ thuật vẫn tiếp tục chỉ đạo Xưởng Ba Son và X51 sửa chữa đốc nổi 1.000 tấn, các tàu 206M, LCU, LCM-8, LCM-6, PCF cho Hải quân Cam-pu-chia.

Tháng 11 năm 1988, tổng kết 13 năm giúp bạn Lào, Hải quân nhân dân Việt Nam đã đóng 4 tàu vận tải, lắp máy cho 5 tàu vỏ gỗ, bảo đảm kỹ thuật và viện trợ 14 tàu PBR, 33 tấn phụ tùng, sửa chữa 97 tàu, trang bị 56 máy công cụ, khôi phục Xưởng Chi-nai-mô, đào tạo 56 thợ kỹ thuật, Cục Kỹ thuật Hải quân được Nhà nước Lào tặng thưởng Huân chương ít-xa-la hạng nhì.

Trong khi ta đang củng cố, xây dựng thế trận phòng thủ trên các đảo thuộc Quần đảo Trường Sa, hải quân nước ngoài tiếp tục có những hoạt động trên vùng biển Đông. Ngày 5 tháng 7 năm 1988, Đảng ủy Quân chủng họp nhận định: Sau những hành động khiêu khích quân sự vừa qua, nước ngoài sẽ tiếp tục có những âm mưu cô lập hạn chế hoạt động của ta để mở rộng quyền kiểm soát, khống chế vùng biển Đông. Đúng như dự đoán của ta, trên vùng biển và xung quanh khu vực quần đảo Trường Sa, nước ngoài thường xuyên duy trì từ 10-15 tàu, trong đó có 4-6 tàu chiến. Đầu tháng 9 năm 1988, hải quân nước ngoài đưa tàu trinh sát bằng vô tuyến điện xuống trinh sát 21 đảo ta đang đóng giữ, uy hiếp chiếm lại khi thời cơ thuận lợi và tuyên truyền về chiến lược biển và kinh tế biển, tập trung vào dầu khí thuộc khu vực thềm lục địa phía Nam của Việt Nam.

Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng tại khu vực thềm lục địa phía Đông Nam thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cụm kinh tế, khoa học, dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế đất nước và giao nhiệm vụ cho Quân chủng Hải quân bảo vệ. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, ngày 26 tháng 10 năm 1988, đồng chí Phó đô đốc Giáp Văn Cương, Tư lệnh Hải quân giao nhiệm vụ cho Lữ đoàn 171 làm nhiệm vụ bảo vệ thềm lục địa phía Đông Nam (DK1). Đây là vùng có ý nghĩa chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng - an ninh của đất nước.

Chấp hành chỉ thị của Tư lệnh Hải quân, ngày 6 tháng 11 năm 1988, một biên đội hai tàu HQ-713 và HQ-688 thuộc Lữ đoàn 171, do các đồng chí Phạm Văn Thư, Nguyễn Hồng Thưởng chỉ huy rời cảng ra khơi. Sau hơn mười ngày hành quân trên biển, hai tàu đã đến vị trí tiến hành đo đạc khảo sát, đánh dấu, xác định vị trí thả neo làm nhà trên vùng biển rộng 60.000 km2. Trên cơ sở đó, ngày 26 tháng 11, Sở chỉ huy Quân chủng lệnh cho hai tàu HQ-713 và HQ-668 (Hải đoàn l71), do trung tá Hoàng Kim Nông, Phó Lữ đoàn trưởng về chính trị chỉ huy và hai tàu HQ-727, HQ-723 (Lữ đoàn 129), do trung tá Trần Xuân Vọng, Hải đoàn trưởng chỉ huy trực sẵn sàng chiến đấu ở DK1. Ngày 28 tháng 11 năm 1988, bốn lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên bốn điểm ở khu vực DK1 khẳng định chủ quyền vùng biển của Tổ quốc. Tại đây, các tàu bố trí lực lượng canh gác, bảo vệ chủ quyền tài nguyên của đất nước.

Trong trận chiến đấu ngày 14/3/1988, ta bị tổn thất : 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 đ/c hy sinh, 11 đ/c bị thương, 70 đ/c bị mất tích (sau này TQ trao trả ta 9 đ/c, 61 người mất tích).

Mặc dù so sánh lực lượng chênh lệch, phương tiện, vũ khí hạn chế, cán bộ và chiến sĩ hải quân đã chiến đấu dũng cảm, bảo vệ chủ quyền hải đảo của Tổ quốc.

Trích "Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam 1955-2005"

Vụ này hậu quả xảy ra do ta không lường đến mức độ khốc liệt mà phía TQ sẵn sàng gây ra, do bị ru ngủ trong hoàn cảnh chiến sự biên giới phía Bắc đang bước vào hòa hoãn. Do vậy nhiệm vụ không có các tàu chiến yểm trợ kịp thời mà chỉ dùng các tàu vận tải như vẫn dùng ở vùng quần đảo. Thiệt hại quá đau đớn và bất ngờ.

Sau chiến dịch CQ-88 này bị thiệt hại và mất đảo, các chiến dịch CQ-89 và CQ-90 đã thực hiện tốt nhiệm vụ chiếm, bám trụ và xây dựng hàng loạt các trạm hải quân trên các đảo chìm trong vùng. Tình hình luôn căng thẳng giữa 2 bên từ đó đến nay, tuy nhiên với sự tăng cường lực lượng của ta, phía TQ đến thời điểm này chưa gây hấn thêm 1 vụ nào. Trong thời gian đó, ta đã nhiều lần nổ súng cảnh cáo và nổ súng cả vào các tàu của Philippin xâm nhập vùng chủ quyền.

Quân đội ta vẫn luôn giữ được bản lĩnh vươn lên qua thất bại, hy vọng sẽ tiến chiếm hầu hết các vùng tranh chấp chưa có quân đóng trong thời gian vài năm tới.

Anh hùng Trần Văn Phương

Bài thơ trên có nhắc đến thiếu úy Trần Văn Phương. Đó là Anh Hùng LLVT,chiến sĩ Hải Quân hy sinh trong trận bảo vệ bãi Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa trước cuộc tấn công xâm lược của quân Trung Quốc vào lúc 07 giờ sáng ngày 14/03/1988.

Sinh quán Quảng Trạch,Quảng Bình.Vào bộ đội năm 1983,ra bảo vệ đảo Sinh Tồn từ 02/1984.Sau khi đi học trường quân chính,được phong thiếu úy ,trung đội trưởng trung đội 1.đại đội 7,tiểu đoàn 862 ,lữ đoàn Trường Sa.

19 giờ ngày 11/03/1988 anh xuống tàu HQ 604 rời cảng ra đảo Gạc Ma.Trước khi xuống tàu,nắm chặt tay trung úy trung đội 1 Lê Văn Thoan,người cùng xã, nói:”Hoàn thành nhiệm vụ trong chiến dịch CQ 88 (chủ quyền 88) này ,mình sẽ cùng với cậu về phép thăm nhà.Nhà mình bị bão đổ năm ngoái,vẫn chưa làm xong…”

Thiếu úy Trần Văn Phương

Sáng ngày 14/03 từ tàu 604 đang thả neo tại bãi Gac Ma,Trần Đức Thông ,cán bộ chỉ huy phát hiện thấy bốn chiếc tàu lớn của Trung Quốc đang tiến lại gần.Ban chỉ huy quyết định một tổ ba người gồm thiếu úy Trần Văn Phương và hai chiến sỹ Nguyễn Văn Tư,Nguyễn Văn Lanh được phân công bảo vệ lá cờ của ta cắm trên bãi.

Phía đối phương lộ rõ âm mưu muốn lấn chiếm đảo:với 2 xuồng chở 8 lính có vũ khí lao thẳng về phía ta.Trần Đức Thông ra lệnh cho các chiến sỹ từ tàu 604 tiến vào bảo vệ bãi,để hình thành tuyến phòng thủ,không cho địch tiến lên.Mặc cho địch hăm doạ,chiến sỹ ta tuyên bố “Đây là lãnh thổ của Việt Nam,các tàu của Trung Quốc phải rời ngay!” Nhưng đối phương hung hăng dùng 4 ca nô chở khoảng 100 lính trang bị đày đủ vũ khí,máy VTĐ,đổ bộ lên bãi Gạc Ma…Cùng lúc đó,tàu chiến 502 của Trung Quốc có trang bị tên lửa và pháo 100 milimét và các tàu khác đã xả súng lớn bắn chìm và cháy các tàu chở hàng 604,605 và 505 của ta.Những thủy thủ thoát ra khỏi các tàu chìm ,bơi lênh đênh trên biển bị đối phương xả súng bắn và dùng câu liêm móc lên tàu.

TQ thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo tiến về phía cờ ta đang tung bay. dựa vào thế đông quân, TQ tiến vào giật cờ ta. Lập tức, thiếu úy Trần Văn Phương, hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội anh dũng giành lại cờ. Binh lính của TQ đã dùng lưỡi lê đâm và bắn Nguyễn Văn Lanh bị thương. Thiếu úy Trần Văn Phương xông vào cứu, bị TQ bắn đã anh dũng hy sinh. Trước lúc hy sinh, Trần Văn Phương đã hô : " Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo, hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân ". Sự hy sinh anh dũng của Trần Văn Phương đã nêu tấm gương sang cho các đơn vị noi theo, quyết tâm chiến đấu, bảo vệ hải đảo của Tổ quốc.[...]

Chiều ngày 14/03 trên bãi chỉ còn một chiếc xuồng và 40 chiến sỹ sống sót sau cuộc bắn phá dã man của quân Trung Quốc.Thượng úy Nguyễn Văn Chương và trung úy Nguyễn Sỹ Minh tổ chức đưa thương binh và chiến sĩ về tàu 505 –sau khi bị bắn cháy,nằm trên bãi Cô lin.Thi hài Phương ,Tư cùng các thương binh nặng được đặt trên xuồng.Số người còn sức,một tay bám thành xuồng,một tay làm mái chèo đưa xuồng lết trên mặt nước để tới bãi Cô lin.