Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2008

55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ Alan Dawson Chương 12

Chương 12: Trước lúc đầu hàng

Loại A.37 được mang đến Việt Nam là do không quân Mỹ trao cho phi công SG. Nó là loại oanh tạc tấn công nhỏ nhưng tốt nhât trong không quân SG. Khoảng 20 chiếc đã bị bỏ lại ở Đà nẵng và hầu như có thể bay đwợc sau khi tu bổ chút ít. Một điểm thuận lợi chính lầ kích thước của nó, chỉ cao ngang tầm vai và có thể bảo quản dễ dàng bởi cỡ người thấp nhất của dân phương Đông vốn nhỏ bé. Nó bay dưới mức siêu âm, nguyên thuỷ là một máy bay huấn luyện và vẫn còn giữ hai chỗ ngồi kề nhau như khi ông thầy và học sinh ngồi bay. Phi công Hoa kỳ nhận thấy nó là loại máy bay lý tưởng cho cuộc chiến Việt Nam, đặc biệt vì nó bay chậm, do đó làm cho phi công có thể thực sự nhìn thấy mục tiêu đang tìm cách đánh trúng.

Nó chẳng phải loại máy bay "con ma" thậm chí nó không thể bay từ SG đi Hà nội để oanh tạc được, tầm hoạt động của nó giới hạn nên đó là lý do khiến ngwời Mỹ có thể giao nó cho quân đội SG. Nó giản đơn so với chiếc phản lực nhưng như thế không có nghĩa là giống như xe hơi kiể T cổ lỗ của Hoa kỳ. Nó bay thuờng xuyên và tốt, chính xác, tuy chỉ sử dụng được vào ban ngày, không bay được trong mưa giông lớn. Nó không có vũ khí tự vệ để chống lại phi cơ khác, không có tên lửa không đối không. Đáng buồn là chính những máy bay ấy lại quật bom vào Tân Sơn Nhât, bịt nốt cái phi cảng cuối cung mà người Mỹ có thể hy vọng di tản qua con đường đó.

Còn một loại bom được để ở Thái lan và chỉ có một ít nằm ở đấy vì sợ tai tiếng chính trị. Số ít người Mỹ biết được sự có mặt của chúng ở Thái lan đã gọi chúng là vũ khí tối hậu mà các sĩ quan không quân Hoa kỳ mê mệt. Chúng chỉ là một trong số hàng trăm vũ khí không nguyên tử và có tính chất huỷ diệt vốn xuất phát từ quỹ nhiều tỷ đô la tài trợ cho quân đội Hoa kỳ giữa thập kỷ 60 để tiến hành chiến tranh Việt Nam. Mục đích các chương trình này là khám phá ra cách giết nhiều địch trong khi lực lượng Mỹ tổn thất ít hơn. máy bay không người lái, lựu đạn cải tiến, bom CBU.55 chỉ là số ít trong những kết quả đạt được.

Bom CBU (viết tắt của các chữ Cluster Bomb Unit) với số hiệu 55 là một trong những vũ khí đáng sợ, có ba khoang chứa đầy nhiên liệu protan, một hỗn hợp bí mật các loại chất khí khác và chất nổ. CBU.55 chưa hề được sử dụng trong chiến tranh. Một số lượng nhỏ loại bom này được để ở Thái lan phòng hờ bất trắc. Tuy nhiên cho đến 4-1975, ít người Mỹ nào lại dám đề nghị sử dụng nó.

Đầu tháng 4, một quả bom CBU.55 được trở bằng máy bay từ căn cứ không quân Utapao đến SG rồi chuyển bằng xe tới căn cứ không quân Biên Hoà. Thứ vũ khí này vẫn nằm dưới quyền kiểm soát kỹ thuật của Mỹ mặc dù nằm trong tay không quân SG. Thiệu từ chức vẫn không có cách gì cứu vãn đà sụp đổ của quân đội SG, tướng Homer Smith, sĩ quan cao cấp nhất của Mỹ ở Nam Việt Nam đã cho phép SG sử dụng loại vũ khí ấy. Các sĩ quan SG đã chọn Xuân Lộc làm mục tiêu khi lực lượng SG đãng rut lui và Cộng Sản đang tiến về SG. Một máy bay vận tải C.130 được lệnh chuẩn bị sẵn sàng vào sáng 21-4. Quả bom CBU.55 được chất lên. Con ngựa bốn động cơ của hãng Lockhead cất mình nhẹ nhàng khỏi cái phi đạo Biên Hoà và bay thẳng đến Xuân Lộc.

Ở độ cao 6.000m, cánh cửa vỏ sò ở đuôi máy bay mở ra. Cái dù thăng bằng đeo quả bom rơi vào không trung... Với một tiếng rền nghe có vẻ dồn nén kỳ lạ, và một quả cầu lửa khổng lồ bùng lên. Phi hành đoàn kinh sợ nhìn xuống...

Trong vòng hai ngày, đài Hà Nội đã công kich việc sử dụng loại vũ khí mới ấy. Họ miêu tả đúng nó, có lẽ do báo cáo của csc điệp viên ở Tân Sơn Nhất và Biên Hoà. Cộng Sản coi đó là nỗ lực sau cùng trong lúc tuyệt vọng của quân đội SG mà cũng đúng thế thật. Bom CBU.55 không đưọc chở đến nữa. Loại có sẵn ở đó sau này được đem ra phòng trưng bày "tội ác chiến tranh" ở thành phố Hò Chí Minh.

Cũng còn những vũ khí khác được sử dụng trong nhwngx ngày chiến đấu luýnh quýnh sau cùng. C.130 ném dăm ba quả bom loại 15.000 cân Anh (khoảng 7 tấn rưỡi) xuống các vị trí Bắc Việt Nam. Các trực thăng lớn ném "thùng phuy xăng" một thứ bom napan chế tạo nội địa gồm có xăng và mảnh vụn xà phòng hiệu Tuyết Ngà (Ivory Snow). Cũng vì B52 không có thể giúp sức SG được nữa nên đã có nỗ lực tìm cách biến loại C.130 thành máy bay ném bom. Những chuỗi bom 500 cân Anh còn nguyên trong thùng được đẩy ra sau đuôi máy bay vận tải cho rơi xuống. Chúng có chung tác động với cuộc chiến: chẳng làm nổi trò trống gì. Cũng như B52, hầu hết loại bom chùm này cũng chỉ gây tổn thất cho môi trường và đám khỉ.

Các vũ khí bí mật như vậy đã chẳng giúp SG thắng nổi cuộc chiến thì chính trị cũng chẳng làm được gì hơn. Chẳng có sự ủng hộ nào dành cho Hương, dù vài người cũng tin rằng lão già ấy có thể quy tụ được sự ủng hộ nào đó. Martin, đại sứ Mỹ, J. M. Herillon đại sứ Pháp, Trần Văn Lắm, Dương Văn Minh đều có những ý kiến riêng biệt được hoặc quyện vào nhau về cách thức chấm dứt cuộc chiến. Ai cũng muốn hành động tức khắc nhưng giống như diễn viên trong phim hài hước rẻ tiền, họ đụng nhau côm cốp. Không ai biết tất cả những chuyện mà ba người kia đang làm và không ai ủng hộ hoàn toàn việc làm của một trong ba người kia. Có thể so sánh họ với chuyện "Ba thằng hề cộng một".

Cộng Sản lúc đó chưa kêu gọi một cuộc đầu hàng. Đòi hỏi tuyệt đối không được thương lượng là "tất cả lực lượng quân đội Hoa kỳ phải rut ra khỏi Nam Việt Nam". Hà Nội ép SG đang thua phải nhượng bộ. Cộng Sản đã đi theo con đường ấy suốt 43 năm lịch sử. Không bao giờ nhường một tấc trong khi vẫn thúc đẩy để mang về từng thắng lợi ngoại giao hoặc quân sự. Họ chưa hề rut lui trong các đòi hỏi công khai. Giống như một đấu thủ quần vợt đứng sát lưới, họ không để đấu thủ ngoại giao có khoảng trống. Trái bóng chỉ ở sân họ trong tích tắc và không để chạm đất đã nẩy lên. Trong năm 1975 này, B52 không còn lảng vảng gần Hà Nội nữa.

... Cuộc không vận của Mỹ di tản tăng lên hàng ngày. Ngày 24-4, có 24 chuyến bay, phần lớn là loại C.141 với 250 người một chuyến. Ngày 25-4 có 26 chuyến và 26-4 có 31 chuyến. Tầu bè chũng bị gom vào dịch vụ di tản. Martin cho phép trả tiênhối lộ cho cánh sát SG tại sân bay Tân Sơn Nhất để đem người Việt Nam đi qua trạm kiểm soát vào sân bay tham gia di tản. Cứ 20 đô la một xe qua. Trong 10 ngày cuối cùng, tốn khoảng 50.000 đô la. Có lính gác Việt Nam đòi giá rất cao và cũng đượ người Mỹ thoả mãn. Có lẽ 250.000 đô la, thậm chí 500.000 đô la là món tiền hối lộ đã lọt vào túi họ. Suy cho kỹ thì đây là cách nhục mạ cuối cùng mà người Nam Việt Nam đối với người Mỹ. Đến Việt Nam với một mong muốn giúp đỡ - tuy có thể còn phải bàn cãi điều này là phạm sai lầm - người Mỹ giờ đây phải bỏ tiền ra mua lấy sự thoát thân của họ.

Cuộc chiến chưa ngừng lại dù rằng nó giảm xuống mức gần như đứng yên. Nơi thấy rõ điều này là Biên Hoà, căn cứ lớn nhất còn trong tay quân đội SG. Chiến trận ở đây là tiếng còi và tiếng rít xé gió, thứ âm thanh đáng sợ nhất thế giới. Đạn pháo nổ và hoả tiễn ập xuống Biên Hoà với con số ngày càng tăng.

Vào buổi sang Xuân Lộc sụp đổ cũng là ngày Thiệu từ chức thì đạn pháo của Cộng Sản đã làm phi đạo bị tê liệt mất nửa ngày. Nửa lực lượng không quân SG nằm bẹp. Hai ngày sau, đạn pháo và hoả tiễn vẫn còn rơi xuống làm cho không ai ngủ ngon giấc qua đêm. Chúng rơi trúng kho bom rồi trúng cả máy bay. Trực thăng giờ đây trở thành vô dụng và phi công Nam Việt Nam không bay nữa. Ở Biên Hoà hãy còn một ít cố vấn Mỹ đang sửa chữa những chiếc trực thăng để chúng có thể tham chiến. Nhưng khi sửa xong máy bay thì phi công SG lại không chịu bay. Lưới lửa phòng không Bắc Việt Nam đã áp sát Biên Hoà khiến các phi công SG xem trực thăng chỉ là phương tiện để dự trữ chứ không phải là cái gì khác.

Cố vấn Mỹ nổi cáu nhưng người Việt Nam khư khư giữ quyết định của họ. Hầu hết người Mỹ đi SG để về Hoa kỳ. Ngày 23-4, tình hình pháo kích vào Biên Hoà tăng thêm và quân Cộng Sản bao vây căn cứ thì không quân SG bèn rut đi. Máy bay F.5 chuyển về SG, loại A.37 thì về Cần Thơ. Các phi công được cho đi phép một tuần rồi được bảo là sẽ về trình diện ở SG hoặc Cần Thơ. Xe vận tải được gom lại để chuyển bom từ Biên Hoà về các căn cứ mới. Thế là hơn một nửa lực lượng không quân SG đã bị xếp cánh. Cùng ngày ấy, "lãnh sự quán Hoa kỳ" ở Biên Hoà vẫn mở cửa. "Vâng, mở cửa vô hạn định". Ngày hôm sau, cánh cửa đã khoá tịt lại. Người Mỹ đã trốn trong đêm về SG bằng một chiếc trực thăng. Người ta hy vọng lá cờ nhiều sao mà họ bỏ lại tiếp tục bay trên lãnh sự quán sẽ giúp ngăn ngừa sự hoảng loạn ở Biên Hoà.

Lãnh sự quán ở Cần Thơ cũng thế. Họ cũng chuồn về SG ban đêm bằng trực thăng. Người Mỹ từ lâu vẫn nói rằng châu thổ sông Cửu Long là thìa khoá của Nam Việt Nam vì rât đông dân giờ đây lại bỏ ra đi trước khi cuộc chiến bắt đầu.

Ngày 25-4, Bộ Tư lệnh Bắc Việt Nam hỏi các phái đoàn Bắc Việt Nam và Việt Cộng tại sân bay Tân Sơn NHất rằng họ cần bao nhiêu thời gian để chuẩn bị sẵn sàng đối phó với "cuộc giải phóng" bằng bạo lực. Vài phút sau, nột điện mật trả lời rằng cấp trên không phải lo lắng cho những người ở đây. Mọi người owr trại David sẵn sàng hiến dâng mạng sống cho thắng lợi sau cùng.

Cách SG 6 dặm về phía Bắc, lùi vào quốc lộ đi Biên Hoà 3 dặm, bộ đội Bắc Việt Nam đã chuyển pháo 105 ly đến cánh đồng trống ngay sau các rặng cây và nhà cửa. Họ ít tiếp xúc với dân chúng. Những ai bước ra khỏi nhà để nói chuyện với "quân giải phóng" đều được bảo là nên tránh xa khu vực ấy. Sắp có một trận đánh lớn vào SG và những khẩu đại bác này sẽ phá thành phố thành tro bụi nếu cần. Nhưng họ không biết khi nào thì trận đánh sẽ xẩy ra.

Các sĩ quan cấp thấp thuộc 4 sư đoàn Bắc Việt Nam đã chuyển đến những vùng sát phía Bắc SG. Giữa ban ngày, họ đã tiếp xúc với Việt Cộng nằm vùng. Hầu hết những người này thuộc trung đoàn Đồng Nai cũn. Bộ đội Bắc Việt Nam nói rằng cuộc tấn công SG sắp xẩy ra. Việt Cộng sẽ là người dẫn đường. Nhiều bản đồ đưa ra và những người Cộng Sản trong vùng chỉ cho các sĩ quan biết những con đường, nơi bố trí phòng thủ và các mục tiêu chủ chốt. Các lực lượng Cộng Sản vẫn chuẩn bị một cuộc tấn công toàn lực vào SG, nhưng họ vẫn hy vọng sẽ không cần thiết phải làm như vậy. Xét cho cùng một cuộc đầu hàng cẫn tốt hơn nhiều so với cuộc tấn công tàn phá thành phố. Các nhà chính sách của họ bèn chọn ngày 28-4 là kỳ hạn cuối cùng.

Điều buôn cười lúc này là sự giả vờ can đảm của Nguyễn Cao Kỳ. Kỳ đang tính chuyện bên lề với Bộ trưởng quốc phòng Mỹ nhằm đem các máy bay đi không để lọt vào tay Cộng Sản và cũng đã gửi vợ đi theo các cuộc di tản khỏi Nam Việt Nam. Thế mà Kỳ vẫn được một số người Mỹ tin là can đảm.

Việc Kỳ muốn nắm quyền hành ở Nam Việt Nam thì gần như chuyện công khai. Trong khi kêu gọi Thiệu từ chức, suốt mấy tuần qua Kỳ tự xem mình như là tổng thống, là kẻ cầm đầu cái chế độ ngắc ngoải này. Thế là khi đứng trước đám đông độ 6.000 người thiên chúa giáo khuynh hữu và xế trưa thứ sáu 25-4, cái ngổ ngoá của viên tướng không quân này còn nguyên vẹn. Kỳ nói chuyện phòng thủ SG, rằng những kẻ chạy trốn theo Mỹ là hèn nhát. Đàn bà và trẻ con đã được gửi đi đảo Phú Quốc. Dân SG sẽ đứng lên chống +, Kỳ ở tuyến đầu. Trong lúc bốc lên, viên tướng râu dê này nói nếu cần thành phố sẽ trở thành Stalingrad, nơi đã cầm cự 900 ngày trong vòng vây hãm. Ít ra nhân dân thế giới cũng nhớ đến sự anh dũng của những người bảo vệ Stalingrad chứ sẽ chẳn ai thèm nhớ đến SG nếu nó chịu đầu hàng ngay. Kỳ khuyên mọi người đừng di tản, hãy đứng lên mà chiến đấu. Việc phân phối vũ khí sẽ làm ngay, mọi người nên ở lại SG. Đám dân di cư đã từ Bắc Việt Nam vào đây từ 1954 bị kích động đã hoan hô Kỳ rầm rĩ...

Nhưng sĩ khí chống + chỉ thế thôi đấy. Sau đó Kỳ bỏ vào sân bay Tân Sơn Nhất để sắp xếp cho các máy bay di tản sang Thái lan và đồng thời cũng bí mật ra lệnh cho một chiếc trực thăng đến đón mình. Chẳng dại gì mà liều ở lại với Cộng Sản. Tấn tuồng chống cự của viên tướng can đảm nhất quân đội SG công diễn âm thầm độ nửa giờ là đóng màn. Dù sao các nhà báo nước ngoài lúc ấy cũng ghi vào sổ tay chi tiết đó.

Còn Thiệu và mụ vợ thì đang bận gói ghém vàng, kim cương, ngọc thạch và đồ cổ. Công việc đó là 16 vali quần áo, tư trang và theo tin ở dinh thì còn 100.000 đô la nữa. Martin giúp bọn này ra đi và có ý định chỉ cho mang đồ vật cá nhân nhẹ. Thế là tay cựu tổng thống và mụ vợ phải tính đến cách khác. Mai Anh đã xoay xở lấy được 16 tấn vàng ra khỏi ngân hàng bắng cách ép, doạ bọn thuộc cấp. Vàng nằm trong dinh lúc Thiệu từ chức "vì lý do an ninh". Mụ ta cho chuyển phần lớn số vàn thỏi ấy lên một máy bay thuê của hãng hàng không Thuỵ Sĩ, nhưng các phi công đòi biết trong thùng hàng có gì, theo nguyên tắc phòng xa. Họ khám phá ra đó là vàng nên phải hỏi lãnh sự quán Thuỵ Sĩ và rồi họ từ chối không chở nữa. Lý Long Thân (tay người Hoa, chồng em nuôi vợ Thiệu) nhảy vào cứu nguy. Tay này có phương tiện riêng là tầu "Trương tinh", tuy không phải là tầu đi xa nhưng khẩn cấp quá rồi. Thân ra lệnh chở vàng đi Pháp, sau này Thiệu có thể nhận lại ở đó. Ngọc thạch và kim cương hầu hết đóng thùng kỹ lưỡng và vợ Thiệu giám sát từng bước gói ghém hàng.

Đến lượt những thứ đò cổ. Giá trị của chúng không ai biết rõ là đồ của viện bảo tàng SG thì chác là phải đáng giá nhiều. Buồn thay, nhiều thứ lại vô giá trị. Các nhân viên bảo tàng cũng ăn hối lộ như điên nên đã thay thế phần lớn đồ cổ bằng những thứ giả giống hệt nó. Họ đem bán chúng (đồ thật) cho các chủ hiệu và người sưu tầm. Vợ Thiệu chẳng biết gì và cứ yêu cầu viên phụ tá của Thiệu là Đặng Văn Quang thu xếp gửi đi đau đấy. Quang chọn Canada là nơi lưu vong đã chuyển những đồ cổ thật lẫn giả lên một chiếc tầu đi Montreal thông qua Hoa kỳ. Vợ Thiệu vẫn đinh ninh như thế.

Một cách tuyệt đối bí mật, chiếc máy bay C.118 của không quân Mỹ đến Tân Sơn Nhất lúc 3 giờ sáng ngày 26-4 để chở thiệu đi di tản. Thiệu được báo trước một giờ để sửa soạn hành lý lần cuối cùng, kể cả chuyện lén lút chở đi số tiền 100 nghìn đôla mà Kỳ nói là đầy ắp 4 vali thuộc quỹ dự phòng hờ trong dinh. Cựu thủ tướng và là tướng 4 sao Khiêm được báo trước 20 phút. Xe Mỹ chở họ đến Tân Sơn Nhất. Máy bay cất cánh đi Đài Loan. Chẳng có họp báo, chẳng có tường thuật việc Thiệu đến Đài Bắc. Cuộc ra đi của Thiệu âm thầm và hoàn toàn nhục nhã.

Quốc hội Sài Gòn họp sau lúc Thiệu ra đi. Một số ý kiến đồng ý với Martin nên cử Hương hay Trần Văn Lắm làm tổng thống. Lắm vẫn mơ ước chức vụ ấy và đến lúc này vẫn còn thèm. Khi cộng sản đã vây chặt Sài Gòn và sắp san nó thành bình địa thì Martin lại có ý kiến khác nữa là Hương hoặc Lắm, ai làm tổng thống cũng được, còn thủ tướng nên để cho Minh lớn.

Trước lúc bình minh ngày thứ bảy, nhiều xe vận tải Bắc Việt Nam đỗ lại bên sông Sài Gòn cách thủ đô 6 dặm về phía Bắc. Chúng chở hoả tiễn và đạn pháo 105. Những đại bác và hoả tiễn này đã nằm vào các vị trí bắn sau những rặng cây. Chiến tranh bắt đầu trở lại sáng chủ nhật và báo hiệu bằng tin dữ: 4 hoả tiễn rơi xuống Sài Gòn. Đây là dấu hiệu cho thấy phút bắt đầu của giai đoạn cuối và ai nấy đều biết. Ba năm rưỡi, chưa có đạn pháo hay hoả tiễn rơi xuống Sài Gòn. Bây giờ chiến tranh đang rẽ sang một bước ngoặt mới, cho thấy Hà Nội sẵn sàng tấn công Sài Gòn. Thời gian cấp bách một cách tuyệt vọng. Sự xào xáo chính trị nội bộ bây giờ là một thứ xa hoa không còn chỗ đứng.

Phòng tuyến sau cùng của Sài Gòn bắt đầu rung rinh vào sáng chủ nhật. Tại Long Thành, một trong những trận đánh bằng xe tăng dữ dội nhất cuộc chiến đã xảy ra, xe tăng Bắc Việt tràn ngập lên căn cứ thiết giáp của quân đội Sài Gòn. Trong vòng cung từ Đông Nam sang Đông Bắc chỉ còn căn cứ không quân Biên Hoà, đang bị cắt đứt ngày chủ nhật, lần cuối cùng và mãi mãi. Những cuộc tấn công dữ dội vào các tiền đồn ở Mỹ Tho-Long An đã đẩy sư đoàn 9 lùi về phía Sài Gòn. Phía Nam và Tây Nam Sài Gòn, 20 nghìn bộ đội Bắc Việt Nam chỉ còn cách Sài Gòn 15 dặm. Phía Tây Bắc Sài Gòn, dọc quốc lộ 1 đi Campuchia, vài sư đoàn Bắc Việt Nam đã cắt đứt con đường ấy, đẩy sư đoàn 25 giạt ra 2 hướng nằm ngoài xa vành đai Sài Gòn. Hai đại đội của sư đoàn 9 Bắc Việt Nam rẽ vào Gia Định, chốt các cầu trên quốc lộ 1 gần cửa hàng tạp hóa Mỹ và kho chứa hàng viện trợ Mỹ.

Các tướng lĩnh Sài Gòn bắt đầu dàn thế trận lần cuối. Biệt động quân và lữ đoàn dù cuối cùng được dàn thành hình quạt tù phía Nam sang Đông Bắc Sài Gòn. Đó là lực lượng phòng thủ đáng thương hại, bị áp đảo với tỷ lệ 1 chọi 15. Phe Cộng Sản đang thiết lập vị trí tiền tiêu, thử phản ứng của quân đội Sài Gòn. Nhưng viên tướng 4 sao duy nhất trong quân đội lúc bấy giờ là Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên đã lên máy bay riêng loại C.47 vào xế trưa thứ hai bay đi Băng-cốc. Hơn nửa số tướng lĩnh Sài Gòn đã bỏ chạy khỏi đất nước. Thủ tướng cuối cùng-Nguyễn Bá Cẩn cũng lên chiếc C.141 rời Sài Gòn.

Ba hoả tiễn rơi xướng Sài Gòn ngày thứ hai. Không cần lời cảnh cáo nào thêm nữa về việc cộng sản sẵn sàng đánh chiếm Sài Gòn. Đến trưa, thính giả nghe đài phát thanh của sứ quán biết được Martin đang làm gì trong phần thời gian cuối trong ngày cuối khốn khổ này. “Đại sứ Tám có một bộ sưu tập những vật quý giá trao cho đại sứ (Mỹ) giữ gìn và ông ta cần một số người gói hàng. Ông ta cần khoảng 20 hộp nhỏ, khoảng một tá hộp lớn hoặc thùng và một số chăn bông. Đại sứ Martin quan tâm trong vụ này: Chúng tôi muốn chuyển ông ta (Tám) và đi vào ngày hôm nay…”.

Ai đó ở đầu bên kia đài phát thanh của đại sứ quán đã vạch cho thấy những vấn đề cụ thể trong việc chuyển đồ cổ của tướng 3 sao Trần Ngọc Tám, người đã trở thành bạn của Martin khi cả hai đều làm đại sứ tại Thái Lan trong thập kỷ 60. Có lẽ Martin muốn giúp đỡ gói ghém hành lý. Nhưng những người di tản khác thì đang ra đi một cách khôn ngoan. Họ bỏ lại tài sản cuộc đời-hay nói đúng hơn là tìm cách dồn tài sản cuộc đời vào trong một cái túi đeo vài thôi thì mới thoát được.

Minh lớn lái xe đến dinh, dù đoạn đường chỉ 5 phút đi bộ. Minh gặp Hương tại cửa. Khi Hương đọc diễn văn ngắn trao quyền cho Minh thì tổng thống mới xem lại bài viết. Minh bước lên diễn đàn hô hào thành lập một chính quyền gồm mọi thành phần chính kiến khác nhau. Đám mây trên Sài Gòn bung ra và trút xuống một cơn mưa lớn. Một tiếng sét và sấm rền âm vang làm im lặng căn phòng. Lúc ấy là 5 giờ 15 chiều. Minh bước ra khỏi dinh, về ăn cơm chiều thì 5 chiếc phản lực A.37 đang bay thẳng về phía sân bay Sài Gòn. Những lệnh ngắn qua điện đài được đánh lên máy bay, yêu cầu chúng cho biết xuất xứ. Không có câu trả lời nào.

Minh họa mấy chiếc A-37

 

Ba hoả tiễn rơi xuống SG vào ngày thứ hai. Không cần lời cảnh cáo nào thêm nữa về việc Cộng Sản sẵn sàng đánh chiếm SG. Đến trưa, thính giả nghe đài phát thanh của sứ quán biết được Martin đang làm gì trong phần thời gian cuối trong ngày cuối khốn khổ này. "Đại sứ Tám có một bộ sưu tập những vật quý giá trao cho đại sứ (Mỹ) giữ gìn và ông ta cần một số người gói hàng. Ông ra cần khoảng 20 hộp nhỏ, khoảng 1 tá hộp lớn hoặc thùng và một số chăn bông. Đại sứ Martin quan tâm trong vụ này: Chúng tôi muốn chuyển ông ta (Tám) đi vào ngày hôm nay..."

Ai đó ở đầu cầu bên kia đài phát thanh của đại sứ quán đã vạch cho thấy những vấn đề cụ thể trong việc chuyển đồ cổ của tướng 3 sao Trần Ngọc Tám, người đã chở thành bạn của Martin khi cả hai đều làm đại sứ tại Thái lan trong thập kỷ 60. Có lẽ Martin muốn giúp đỡ Tám gói ghém hành lý. Nhưng những người di tản khác thì đang ra đi một cách khôn ngoan. Họ bỏ lại tài sản cuộc đời - hay đúng hơn là tìm cách dồn tài sản cuộc đời vào trong một cái túi đeo vai thôi thì mới thoát được...

Minh lớn lái xe đến dinh, dù đoạn đường chỉ 5 phut đi bộ. Minh gặp Hương tại cửa... Khi Hương đọc diễn văn ngắn trao quyền cho Minh thì tay tổng thống mới xem lại bài viết. Minh bước lên diễn đàn hô hào thành lập một chính quyền gồm mọi thành phần chính kiến khác nhau... Đám mây trên SG bung ra và trút xuống một cơn mưa lớn. Một tiếng sét và sấm ầm vang làm im lặng căn phòng. Lúc ấy là 5 giờ 15 chiều. Minh bước ra khỏi dinh và về ăn cơm chiều thì 5 chiếc phản lực A.37 đang bay về phía sân bay SG. Những lệnh ngân qua điện đài được đánh lên máy bay đã yêu cầu chúng cho biết xuất xứ. Không có câu trả lời nào...

Đại tá Tuấn, tham mưu phó hành quân của SG làm việc với sư đoàn 5 không quân tình cờ có mặt tại đài kiểm soát không lưu. Tuấn đang ra lệnh cho chuyến bay khác ngừng lại vì có đám mây đen tích điện. Tuấn nghi ngờ 5 chiếc A.37, bèn ra lệnh gọi đi Cần Thơ và Biên Hoà. Các căn cứ này trả lời họ không bay. Thật ra nó từ Phan Rang tới và do các phi công Bắc Việt Nam lái. Không có chuyện bay thử ngang qua một lượt. Ngay trong lần đầu tiên bay qua căn cứ, những phi công lái MIG lão luyện này đã bấm nút thả bom, một tá bom loại 500 cân Anh rơi xuống khu vực quân sự.

Bài diễn văn kêu gọi thương thuyết của Minh lớn được A.37 trả lời sau 35 phut tính từ khi Minh ngừng nói. Tại Tân Sơn Nhất, hàng ngàn người đều kinh hoàng. Chưa mấy người đã nằm dưới trận ném bom. Trong hầu hết mọi tần số, tiếng gọi qua điện đài loạn xạ xin được hướng dẫn làm gì. Một người Mỹ trong sứ quán nói với các người đang nghe tần số của mình: "Chẳng thể làm gì được cả. Nằm sấp xuống và nín thở thôi". Người khác nói: "Chúng tới phía trước, ôm lấy hai bắp chân vào mình, cuíu đầu xuống càng thấp càng tôt. Nếu cần, hôn từ giã cái mông của anh đi". Tuấn muốn phóng các F.5 lên trời. Một lần nữa các phi công SG không có mặt trong máy bay theo quy định.

Tại trung tâm SG, dân chúng biết chắc rằng cuộc tấn công sau cùng vào SG đã bắt đầu. Hơn 100.000 bộ đội Bắc Việt Nam và những người Việt Cộng dẫn đường đã trang bị lên vai sẵn sàng bằng SG. Từ bây giờ trở đi, nó sẽ là cuộc chiến tranh khong còn gì hạn chế và kiềm chế nữa. Đêm thứ hai, sau cuộc ném bom, các người phát ngôn SG cho biết điều kiện đi đến hoà bình là "giải trừ bộ máy chiến tranh và kìm kẹp của SG". Nói khác đi, quyết định đã có rồi. SG sẽ phải đầu hàng quân sự hoặc là quân đội Bắc Việt Nam sẽ đáng chiếm thủ đô. Trường hợp sau, ít có hy vọng là họ sẽ thua trận.

Không có nhận xét nào: